Chép nguyên trang từ Thư viện Đại học Columbia.
Đầu tiên là một giới thiệu tổng thể.
Chép nguyên trang từ Thư viện Đại học Columbia.
Đầu tiên là một giới thiệu tổng thể.
Mấy hôm nay, tin tức về sự ra đi ở tuổi 86 của học giả lớp cha chú - thầy Nguyễn Quang Hồng (1940-2025) - được loan đi ở các nơi.
1. Những cuốn sách đầu tiên của ông mà tôi đọc hồi đầu thập niên 1990, là một công trình về âm tiết (cho thấy bóng dáng một lưu học sinh Bắc Đại) và một cuốn về văn khắc Hán Nôm tuyển chọn (cuốn đó do ông chủ biên, cho thấy một tập thể làm việc cực kì chuyên nghiệp của đội ngũ các nhà Hán Nôm học Việt Nam lúc đó).
2. Chúng tôi lúc đó, thời điểm đọc hai cuốn sách trên, cũng hay giao lưu với một thầy Hồng khác, ở Khoa Sử (Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc bây giờ), cũng vốn là dân học Bắc Đại. Hai cưu học sinh Bắc Đại, thì một người làm việc ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, một người ở Khoa Sử.
Thời Pháp thuộc, cơ quan nghiên cứu EFEO tại Hà Nội đã cho làm thác bản (bản rập) văn bia Việt Nam trong một thời gian dài. Số lượng thác bản được tính là hơn 20 ngàn bản.
1. Trước đây, thư mục thác bản văn bia Việt Nam được biên soạn và đánh máy chữ. Có nhiều tập thư mục, mỗi tập được đóng bìa cứng và để ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm trước đây. Tạm gọi đây là Thư mục 1. Muốn nghiên cứu thác bản nào, bạn đọc cần tra vào Thư mục 1 và viết phiếu yêu cầu, thủ thư sẽ đi lấy thác bản trong kho ra cho đọc. Các thác bản được gấp nhỏ lại và đựng trong các túi đựng bằng bìa dày. Đây là cách làm quen thuộc suốt mấy chục năm.
2. Sau này, sang thế kỉ XXI, các cơ quan chuyên môn hợp tác với nhau ra được bộ Thư mục (tạm gọi là Thư mục 2) in trên giấy đẹp, cũng chia làm nhiều tập. Đặc biệt, kèm Thư mục 2 thì có bản in toàn bộ ảnh thác bản - người ta cho chụp lại toàn bộ thác bản và cho ấn ảnh, đóng thành hơn 20 tập. Muốn sử dụng thác bản nào, chúng ta có thể tra theo số văn bia (số được ghi trong Thư mục 2), để tìm ảnh in thác bản. Tuy bản in hơi mờ, nhưng cũng rất tốt.
3. Chúng tôi đã mong đợi có CSDL của toàn bộ ảnh thác bản được tiếp cận công khai. Mong đợi đã rất lâu.
Thì từ bây giờ, chúng ta đã có CSDL như vậy, đang mở ra.
Tôi đọc Trương Tú Dân từ hơn 30 năm trước. Ông là một chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc về thư tịch quan hệ Việt - Trung.
1. Lần này, về cuốn "Giao Châu kí" của Lưu Hân Kì, thì năm 1966, học giả Trần Văn Giáp đã kết hợp khảo sát tại Việt Nam của ông và giới thiệu một kết quả nghiên cứu của Trương Tú Dân tại Trung Quốc, đại khái cho rằng, tài liệu đó là một ngụy thư (sách giả mạo). Xem lại ở đây.
Trong bài "Quá trình điều chỉnh lại tên gọi của di tích, cho đúng lịch sử và tín ngưỡng : PHỦ CHÍNH" (lên trang ngày 25/2/2025), tôi có viết:
"3. Từ trữ lượng tư liệu rõ ràng và liền mạch về ngôi đền này, thấy rất rõ: cho đến trước năm 1964, chỉ có tên là "Phủ Giầy" hoặc "Phủ Chính". Tên từ xa xưa của ngôi đền là vậy.
Mở đầu là một bài đã đăng năm 2016 của Lê Minh Quốc.
Các bổ sung và cập nhật thì dán dần lên ở dưới đó.
Vui vui chút vào đầu xuân mới. Một mùa xuân với kì vọng "vươn mình".
Cuối năm, mấy ngày này, có mấy bác hỏi mình về vấn đề sách cổ của kho Viện Nghiên cứu Hán Nôm bị mất.
Mình là độc giả của kho sách này từ năm 1990 - khi Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn ở trên đường Lý Thường Kiệt (đằng sau Viện Thông tin Khoa học Xã hội).
Lúc kho sách, cùng cả Viện Nghiên cứu Hán Nôm được chuyển về đường Đặng Tiến Đông, rồi phục vụ lại, mình cũng tới đọc thường xuyên, chắc là tập trung nhất trong các năm 1992-1993-1994-1995-1996.
Sau năm 1997 thì mình không có điều kiện đọc chuyên tâm như trước. Chỉ thi thoảng đến đọc nhanh (có khi chỉ một buổi, có khi một vài ngày).
Đại khái là nhiều kỉ niệm với kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Bây giờ, từ tháng 1 năm 2025, sưu tập dần các thông tin về việc mất sách - mà dư luận đã quan tâm từ nhiều năm nay. Mở đầu là một bài của học giả Phạm Hoàng Quân đăng năm 2023 trên báo.
Chép nguyên về từ trang chủ của Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam.
Đây là ghi chép linh tinh. Tiện khi nào thì ghi lại.
Các phát ngôn phải là ở dạng tôi trực tiếp nghe hoặc trực tiếp đọc.
Gần đây, năm sinh của danh y Lê Hữu Trác mới được cải chính (mới từ năm 2018 thôi). Trước đó, năm sinh của cụ ghi là 1720.
Còn bây giờ, tựa như đang thống nhất ghi năm 1724.
Làng Trầm Lộng ở huyện Ứng Hóa (Hà Nội).
Cũng trong năm 2018 (cùng năm với làng Đông Sàng ở quần thể làng cổ Đường Lâm), làng Trầm Lộng đã tổ chức "đại lễ đón nhận phục hồi sắc phong thành hoàng làng". Chúng ta thấy lại cụm từ "đón nhận phục hồi sắc phong" và "phục hồi sắc phong".
Đi nhanh một ít ảnh lấy từ video của đại lễ.
Đã khoảng nửa năm, tính từ tháng 4 năm 2023 (xem bài ở phần bổ sung), nhóm ông Nguyễn Xuân Diện liên tục lên tiếng trong không gian mạng về tư liệu Phủ Giầy Nam Định. Về mặt học thuật, nhóm này cơ bản là tung hỏa mù để hòng đánh lừa dư luận, những người không có kiến thức chuyên ngành sâu sắc dễ bị tin theo những lời thêu dệt.
Đến ngày 13/11/2023, trên trang Fb của mình, với tư cách học giả, ông Nguyễn Xuân Diện (từ đây viết tắt là NXD) vừa đưa bài có tính học thuật nhất sau nửa năm, mà là phản biện về đạo sắc phong 1683 hiện đang bảo quản tại dòng họ Trần Lê (Phủ Nội thuộc quần thể Phủ Giầy Nam Định). Đầu tiên, tôi đưa toàn văn bài viết đó về lưu trên Giao Blog.
Về mặt học thuật, bài phản biện của NXD thất bại toàn tập. Một bài viết của tôi, trong hệ thống bài đang triển khai nhiều năm qua về tư liệu Phủ Giầy Nam Định - Phủ Giầy Sài Gòn, đăng tải trên tạp chí học thuật và sách học thuật vào thời gian tới đây sẽ cung cấp những căn cứ để cho thấy tất cá luận điện mà NXD đưa ra bị bẻ gãy như thế nào. NXD chỉ biết có 0.1, chưa từng khảo sát trực tiếp (ngôn ngữ bình dân là "sờ tay vào") đạo sắc phong 1683, mà dám nói 100, thì đã biết kết quả ra sao.
Bạn Brian Wu - một Việt kiều (đúng hơn là người Việt gốc Hoa) đang ở Mĩ - mình chưa từng gặp, chưa từng liên lạc, nhưng có để ý đến các việc làm của bạn ấy liên quan đến học thuật Việt Nam mà đặc biệt là mảng Hán Nôm (có thể đọc lại ở đây hay ở đây).
Những năm gần đây, thấy bạn ấy đã xây dựng gia đình với một "cô gái Hán Nôm" (cách gọi của bạn ấy).
Cũng những năm gần đây, thấy bạn ấp ủ và thực hiện dần một chương trình số hóa để phát huy giá trị di sản Hán Nôm. Đáng kể sắp tới là số hóa thác bản văn bia (dựa trên các bộ biên mục và ấn ảnh thác bản văn bia đã xuất bản).
Về cuốn xã chí, tức ghi chép về một "xã" của một văn nhân sinh trưởng ở xã đó, thì trên Giao Blog, có thể đọc lại ở đây.
Công việc trùng san kinh Phật theo lối cổ thật kì công: ván khắc là gỗ thị, người khắc chữ phải bỏ cả tháng trời mới được một tấm ván (kích thước chỉ nhỉnh hơn tờ A4 một chút, khắc chữ Hán Nôm ở hai mặt).