Mở đầu bằng bài viết đã đăng báo Thái Nguyên năm 2023 của tác giả Quốc Tuân.
Các thông tin cập nhật và bổ sung thì dán dần lên ở bên dưới đó.
Mở đầu bằng bài viết đã đăng báo Thái Nguyên năm 2023 của tác giả Quốc Tuân.
Các thông tin cập nhật và bổ sung thì dán dần lên ở bên dưới đó.
Hội Lồng Tồng 2026 trên quê hương Cao Bằng, tôi không có điều kiện về dự, nên chỉ ngắm từ xa mà thôi.
Tin và ảnh tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau.
Mở đầu là Lồng Tồng ở Bản Bang xã Lý Quốc - nơi mà tôi từng có dịp lưu lại khoảng 1 tuần nhiều năm về trước. Quê tôi ở Quảng Uyên, nên Lý Quốc chỉ là chỗ đi thăm thú ngắn ngày.
Hồi ấy, trong lúc đi du lãng, chúng tôi phát hiện những viên gạch Mạc, đúng là gạch Mạc, được nhân dân đem về xây chuồng chăn nuôi gia súc hay xây bếp đun nấu. Có cả những căn nhà nguyên được xây từ lò gạch Mạc - nhà vua Mạc rút lên đây, cho làm gạch ngói, nhưng chưa kịp sử dụng mà để lại cả lò gạch lớn.
Bài trên số 1 năm 1995 của hai học giả Cung Văn Lược và Chu Quang Trứ.
1. Thú vị nhất của làng Tía là cho cùng một vị thần, thì có hai văn bản sau:
- sắc phong niên hiệu Sùng Khang 9 (1574) là của nhà Mạc (nhà Mạc thời kì Thăng Long - Dương Kinh).
- thần tích thì mang niên đại Hồng Phúc 1 (1572) của nhà Lê (lúc đó nhà Lê còn ở vùng phía Nam, gọi là Nam triều, chưa có quyền lực gì ở ngoài Bắc).
2. Hai tác giả nhận định về việc này như sau:
"Với niên đại 1574, chúng tôi được biết đây là đạo sắc sớm nhất ở nước ta còn giữ được đến nay. Chỉ điều này thôi cũng khẳng định đạo sắc này là một di vật lịch sử - văn hoá - nghệ thuật quí báu. Niên hiệu Sùng Khang là của Mạc Mậu Hợp. Ông vua này lên ngai vàng từ khi còn 2 tuổi, rồi trị vì những 30 năm (1562-1592), là vua cuối cùng của triều nhà Mạc ở Thăng Long, từng thay đổi niên hiệu tới 6 làn với ý mỗi khi gặp phải “vận đen”, thì thay tên đổi hiệu, để tìm cầu vận hội mới tốt đẹp hơn. Chính đời Mạc Mậu Hợp chiến tranh với Lê - Trịnh diễn ra liên miên, song thủ công nghiệp và kinh tế hàng hoá lại phát triển, nhiều di tích văn hoá - nghệ thuật được xây dựng và rất được lòng dân, nhất là với xứ Đông quê hương của nhà Mạc."
Và như sau:
"Đạo Sắc đền Thần ở Tử Dương (Tía) cũng tương ứng với loạt Thần Phả sớm nhất, hiện được biết, do Hàn lâm Viện Đông Các Đại học sỹ Nguyễn Bính phụng soạn, với niên đại Hồng Phúc nguyên niên (1572), theo niên hiệu của vua Lê Anh Tông thuộc Nam triều. Như vậy có lẽ vào nửa thế kỷ 16, trong lúc chiến tranh Nam-Bắc triều gia tăng, các triều đinh Lê-Trịnh và Mạc đều tìm đến sức mạnh Thần Linh, tranh thủ phong Thần và nâng cấp đến thờ Thần. Và nhờ đó, về văn hoá và lịch sử, chúng ta có thêm một nguồn tài liệu thành văn nữa là Thần phả và sắc phong, văn tự hoá được nhiều tư liệu truyền miệng đương thời."
3. Ý kiến bước đầu của tôi:
- Sắc phong thì chuẩn, bản nguyên thời Mạc, niên đại chính xác là Sùng Khang 9. Nhà Mạc đang thống quản Thăng Long và vùng phụ cận (mà lãnh thổ toàn bộ là cả miền Bắc ngày nay, xuyên cài những vùng ở miền Trung đang tranh giành với thế lực Lê - Trịnh - lúc là đất Mạc, lúc lại thành đất Lê, rồi lại thành đất Mạc, vân vân).
- Thần tích thì rất khó xác định ! Lúc đó, vua Lê còn ở tận tít mù khơi, làm sao mà thống quản được bách thần vùng Thăng Long và phụ cận. Cho nên, dù có ghi là Nguyễn Bính soạn ở niên hiệu Hồng Phúc 1 thì cũng là tạm biết vậy.
Có 82 tấm bia Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội. Tổng quan về 82 bia này, có thể đọc lại trên Giao Blog ở đây.
Tả Ao là tên một ngôi làng ở Hà Tĩnh.
Ngôi làng ấy ở ngày bên cạnh làng Uy Viễn của cụ Nguyễn Công Trứ, và làng Tiên Điền của cụ Nguyễn Du.
Tôi đã từng đến cả ba ngôi làng này.
1. Tả Ao là tên làng, rồi trở thành tên người, tức thánh địa lí Tả Ao. Mở rộng thêm: cụ Nguyễn Công Trứ cũng được gọi là "Uy Viễn tướng công" (ông tướng người làng Uy Viễn); cụ Nguyễn Du cũng có khi được gọi là "Tiên Điền Nguyễn Du" (Nguyễn Du người làng Tiên Điền).
Dòng họ Nguyễn Du ở Tiên Điền là dòng họ lớn, mà khai tổ là ở làng Canh Hoạch ngoài Bắc. Tôi đã viết về việc: các khai tổ của anh em nhà Nguyễn Khản - Nguyễn Du vốn là dòng Nguyễn Thiến - Nguyễn Quyện - Nguyễn Nhiệm (làng Canh Hoạch) đã phò tá nhà Mạc, theo hoàng đế Mạc Kính Cung lên Cao Bằng. Một lần Cao Bằng bị đánh lớn, khai tổ nhà họ Nguyễn đã giả chết, rồi theo đường thủy về Tiên Điền lập nghiệp.
Chính sử ghi ông khai tổ này đã chết tại Cao Bằng. Nhưng sự thực lại khác ! Vì ông đã giả chết, rồi tìm đường về xuôi.
Dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền phải cất rất kĩ lai lịch thân Mạc của mình. Nhưng thú vị là: sau này, chính Nguyễn Nghiễm (thân phụ của Nguyễn Du) đã tiết lộ, ghi rõ trong gia phả - đại ý đến đời Nguyễn Nghiễm, dòng họ này vẫn ngầm cảm ơn triều đình nhà Mạc, không còn sợ nữa, mà tiết lộ trong nội bộ với nhau về gốc tích của mình. Xem ảnh chụp trích đoạn trong bài viết của tôi (đã công bố từ năm 2013-2014).
https://www.facebook.com/photo/?fbid=721830301195381&set=a.721829631195448.1073741923.380158285362586
Bởi vậy, về cơ bản, tôi cũng đặt giả thiết là dòng họ của Tả Ao cũng vốn ở ngoài Bắc đã di cư vào xứ Nghệ.
Thêm nữa, cũng bởi vậy, tôi suy đoán thêm: thánh Tả Ao cũng phải là người sống vào cuối thời Hậu Lê. Ông bà cha mẹ có thể đã vào trước, tên làng Tả Ao đã được đặt từ trước đó lâu.
Rất có thể thánh Tả Ao cũng là người thời Mạc - có hai giai đoạn của nhà Mạc: 1).Nhà Mạc chính triều ở Thăng Long (1527-1593); 2).Nhà Mạc thiên di lên Cao Bằng (1593-1683). Khả năng cao Tả Ao là người thời Mạc ở Thăng Long.
Miếu Thanh Cẩm được ghi trong nhiều tư liệu của văn nhân thời Lê, thời Nguyễn. Miếu thờ một vị tiến sĩ thời nhà Mạc đã hi sinh thân minh cản đường quân Lê Trịnh để bảo vệ thánh chúa của mình.
Nhiều văn nhân đời sau tiếng viếng và ghi lại sự việc. Trong đó có Phạm Đình Hổ.
Chuẩn bị viết từ rất lâu, bắt đầu từ thời kì du lãng Cao Bằng từ giữa thập niên 1990. Liên tục nhiều năm ở thập niên đó. Cao Bằng là miền quê hương nơi biên viễn.
Có một giới thiệu từ năm 2016 của nhà báo Quang Viện. Bài này được đưa lên đầu tiên.
Chùa Phúc Khánh ở Thái Bình (chùa thôn Phúc Lộc, xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình). Chuông chùa đúc năm Cảnh Hưng 14 (1753) có mang một bài minh do Lê Quý Đôn soạn.
Chùa Thanh Phong ở Nam Định (chùa Cự Trữ -thôn Cự Trữ, xã Phương Định, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định). Chùa gắn với thời kì nhà Mạc. Khánh đồng của chùa có mạng một bài minh do Lê Quý Đôn soạn năm Cảnh Hưng 26 (1765).
Các bản dịch hay luận bài sẽ được sưu tầm và dán dần lên ở dưới đó.
Hôm nay, Chủ Nhật ngày 10 tháng 11 năm 2024, tại điện Sùng Đức (Nam Sách, Hải Dương), Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IV (Đại hội IV) của Hội đồng Mạc tộc Việt Nam (HĐMTVN) đã được tổ chức thành công.
Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành và Chủ tịch HĐMTVN cho khóa IV (nhiệm kì 2024-2029). Tân Chủ tịch HĐMTVN là ông Phạm Quốc Huỳnh - xuất thân từ Mạc tộc Diễn Châu (Nghệ An). Nguyên Chủ tịch HĐMTVN Thái Khắc Việt (PTC thường trực khóa I, Chủ tịch khóa II và III) đã được bầu là Chủ tịch Danh dự của HĐMTVN.
Về vương quốc Đàng Trên, hay vương quốc Cao Bằng, thì trên Giao Blog có thể đọc lại tổng quan ở đây (tháng 12 năm 2022). Bài đã đăng trên tạp chí học thuật về vương quốc Cao Bằng thì có thể lấy bản PDF toàn văn ở đây.
Bây giờ, qua báo chí, giật mình thấy có một truyền ngôn về một mảnh vỡ của lầu Ngưng Bích vốn ở kinh đô Cao Bình của vương quốc Cao Bằng.
Chúng tôi sắp đi mạn Bắc, lần này là khu vực thị trấn Thất Khê (huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn). Đại khái, ở mạn Lạng Sơn - Cao Bằng thì có nhiều địa danh nổi tiếng xưa nay, như Thất Khê, Đông Khê, Nà Cham,... Vùng ấy, vốn là địa bàn của các tộc người thiểu số mà trung tâm là Tày - Nùng (cũng có khi được gọi là "người Thổ" hay "người thổ"). Dĩ nhiên, nhóm Kinh già hóa Thổ ở khu vực ấy khá nhiều (truy gia phả một lúc, sẽ thấy là người họ Định, họ Hoàng, họ Bùi,...ở đồng bằng lên từ xa xưa --- gắn nhiều với thời kì Cao Bằng của vương triều Mạc từ khoảng 1593 đến tận 1683).
Xem lại một chút tư liệu cũ, thì cũng hơi giật mình: khoảng 100 năm trước, vào hồi thập niên 1930, người Kinh (với nghĩa là người Kinh mới, không phải "Kinh già hóa Thổ") mới chỉ là thiểu số ở trong vùng ấy.
Một thế kỉ trước, việc một người Kinh được bầu vào hội đồng làng xã vùng Thất Khê, là một sự kiện đáng quan tâm. Nếu so sánh nhanh, thì khéo từa tựa như việc một người Kinh được bầu vào hội đồng thành phố ở bên Mĩ bây giờ (đầu thế kỉ 21) !
Anh em người Kinh ở Thất Khê lúc bấy giờ tính lập một xã riêng, và dự kiến gọi là "Thất Khê Kinh" (người Kinh ở Thất Khê). Tựa như lập "Hội đồng hương Kinh" ở vùng Thất Khê lúc ấy.
Quả thực, đầu thế kỉ 20, Thất Khê được xem như ngang ngang với "thành phố Lạng Sơn" hay "thị xã Lạng Sơn". Có khi người ta gọi Thất Khê là "thành phố", tức "thành phố Thất Khê". Cũng có khi chỉ gọi "Thất Khê" hay "vùng Thất Khê" một cách phiếm chỉ.
Bây giờ, năm 2023, thì là "thị trấn Thất Khê". Cái tên "thị trấn Thất Khê" đi kèm với "huyện Tràng Định", để thành "thị trấn Thất Khê huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn" đang được tôi xác định là ngày sau năm 1945. Đến năm 1945, Thất Khê mới chính thức là "thị trấn Thất Khê" thuộc "huyện Tràng Định".
Đại khái là có một câu chuyện vẻ như rất bình dị, nhưng thật ra không bình dị !
Các tâm bia ấy vẫn được bảo lưu tốt trong vườn bia của Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) hiện nay.
Có những cách gọi như sau trong học giới Việt Nam đối với văn bia:
- truy dựng,
- truy lập,
- trùng lập (dựng lại),
- lập (dựng mới).
Một nước văn hiến cả ngàn năm, sản sinh ra hàng vạn tiến sĩ và hàng chục vạn cử nhân nho học (chưa tính bậc thấp hơn), nhưng rất lạ ở điểm sau: không có bản chép toàn bộ bia Văn Miếu (Hà Nội) cho đến khi chúng bị hao mòn, đổ sập một số vào nửa đầu thế kỉ XIX. Nhà nước bỏ bê, không cho người sao chép. Các trường học và bản thân các nhà khoa bảng cũng không có thời gian đến sao chép ư ?
Hay là có bản chép nằm ở đâu mà nay chúng ta chưa phát hiện ra ? Ai có thông tin hữu ích, mong hãy chia sẻ.
Bây giờ, cơ bản vẫn phải dựa vào thác bản do người Pháp chỉ đạo thực hiện đầu thế kỉ XX (sau khi đã có những hư hại đáng tiếc, nhiều tấm bia đã mất luôn). Tại hiện trường thì chỉ còn lại 82 bia.
Liên quan đến việc vua Mạc thời kì Thăng Long - Dương Kinh cho dựng lại và dựng mới bia đề danh tiến sĩ của các khoa thi do triều Lê tổ chức, thì mở đầu là một bài viết cũ của học giả Nguyễn Hữu Mùi.
Một tấm bia quí giá. Trạng Trình viết bia khi đã gần 90 tuổi.
Đặc biệt, với tư cách là một nhà Nho tiêu biểu của nhà Mạc lúc bấy giờ, Trạng Trình có tóm tắt giải thích về đạo Phật, đạo Lão, đạo Nho. Lời giải thích rất ngắn gọn nhưng thú vị.
Chùa Tam Giáo lúc đó hiện ở huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình.
Bản dịch và diễn giải của hai học giả Hán Nôm, đã đăng trên số 1 năm 1990 của Tạp chí Hán Nôm.
Bài mới trên số 12 năm 2022 của tạp chí Nghiên cứu Lịch sử.
7 năm trước, vào tháng 5 năm 2015, Giao Blog đã điểm tin về miếu Thanh Cẩm thờ một vị tiến sĩ triều Mạc đã xả thân cứu vua Mạc (xem lại ở đây).
Chuyện được chép vào một bản Việt điện u linh, cũng được chép vào Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ - Nguyễn Án.
Vào cuối tháng 7 năm 2020, điện Sùng Đức được chính thức khởi công. Giao Blog đã điểm tin sự kiện đáng nhớ đó, xem lại ở đây.