Mở đầu bằng bài viết đã đăng báo Thái Nguyên năm 2023 của tác giả Quốc Tuân.
Các thông tin cập nhật và bổ sung thì dán dần lên ở bên dưới đó.
Mở đầu bằng bài viết đã đăng báo Thái Nguyên năm 2023 của tác giả Quốc Tuân.
Các thông tin cập nhật và bổ sung thì dán dần lên ở bên dưới đó.
Nguyễn Thị Duệ (hiện nay thống nhất tên là Nguyễn Thị Duệ, còn trong tư liệu thì có một số tên khác) là nữ tiến sĩ duy nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam.
Bà sinh trưởng ở Chí Linh thuộc xứ Đông - vùng đất căn bản của nhà Mạc - đã theo cha lên Cao Bằng trong cuộc thiên di từ Thăng Long lên Cao Bằng của vua Mạc vào thập niên 1590.
Có rất nhiều nhân sĩ trí thức mến mộ nhà Mạc đã cùng lên Cao Bằng vào thời gian đó, trong đó có cụ tổ của dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền (sau nay đã sản sinh ra các nhân vật kiệt xuất của dòng họ như Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản, Nguyễn Du,...).
Định đô mới tại Cao Bình xong, vua Mạc đã mở các khoa thi nho giáo để tuyển dụng nhân lực cho bộ máy hành chính của nhà nước. Nguyễn Thị Duệ đã đóng giả con trai để ứng thí và đã đỗ tiến sĩ.
Về Nguyễn Thị Duệ và giáo dục ở Đàng Trên, tôi đã cho đăng tải nghiên cứu trên các tạp chí học thuật, ví dụ có thể xem ở Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử ở đây hay ở đây.
Vào đầu năm 2026, tỉnh Cao Bằng đã tổ chức khánh thành đền thờ nữ tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ tại khuôn viên chùa Sùng Phúc - huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng trước đây. Đây cũng là dịp hội chùa Sùng Phúc hàng năm.
Hội Lồng Tồng 2026 trên quê hương Cao Bằng, tôi không có điều kiện về dự, nên chỉ ngắm từ xa mà thôi.
Tin và ảnh tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau.
Mở đầu là Lồng Tồng ở Bản Bang xã Lý Quốc - nơi mà tôi từng có dịp lưu lại khoảng 1 tuần nhiều năm về trước. Quê tôi ở Quảng Uyên, nên Lý Quốc chỉ là chỗ đi thăm thú ngắn ngày.
Hồi ấy, trong lúc đi du lãng, chúng tôi phát hiện những viên gạch Mạc, đúng là gạch Mạc, được nhân dân đem về xây chuồng chăn nuôi gia súc hay xây bếp đun nấu. Có cả những căn nhà nguyên được xây từ lò gạch Mạc - nhà vua Mạc rút lên đây, cho làm gạch ngói, nhưng chưa kịp sử dụng mà để lại cả lò gạch lớn.
Nhìn lên quê hương Cao Bằng có chùa Đà Quận.
Đà Quận là gọi tắt "Đà quận công", tức là chỉ danh tướng Mạc Ngọc Liễn của vương triều Mạc (ở cả hai thời kì: nhà Mạc ở Thăng Long - Dương Kinh, nhà Mạc ở Cao Bằng). Sau này, ông được phong Đà Quốc công.
Chùa Đà Quận là ngôi chùa được trùng tu vào thời kì nhà Mạc lên đóng đô tại kinh đô Cao Bình (thuộc Cao Bằng). Hai chuông lớn của chùa Đà Quận (tên chữ là "Viên Minh tự") được đúc vào năm Càn Thống 19 (1611) thời trị bình của vua Mạc Kính Cung. Có hai chuông lớn đúc cùng phong cách nhưng chỉ có 1 chuông có khắc chữ Hán Nôm, còn 1 chuông thì không có văn tự.
Có thể đọc các nghiên cứu về chuông Đà Quận của tôi, từ rất nhiều năm về trước, ví dụ ở đây (năm 2016) hay ở đây.
Gần đây, chuông Đà Quận đã được công nhận là bảo vật quốc gia, đọc lại trên Giao Blog ở đây (tháng 12 năm 2016).
Hội chùa Đà Quận được duy trì lâu dài trong lịch sử. Gần đây, sau khi có bảo vật quốc gia được công nhận, lễ hội này tiếp tục được tỉnh Cao Bằng đẩy mạnh, như một nguồn lực lịch sử văn hóa cho phát triển văn hóa và du lịch địa phương.
Tả Ao là tên một ngôi làng ở Hà Tĩnh.
Ngôi làng ấy ở ngày bên cạnh làng Uy Viễn của cụ Nguyễn Công Trứ, và làng Tiên Điền của cụ Nguyễn Du.
Tôi đã từng đến cả ba ngôi làng này.
1. Tả Ao là tên làng, rồi trở thành tên người, tức thánh địa lí Tả Ao. Mở rộng thêm: cụ Nguyễn Công Trứ cũng được gọi là "Uy Viễn tướng công" (ông tướng người làng Uy Viễn); cụ Nguyễn Du cũng có khi được gọi là "Tiên Điền Nguyễn Du" (Nguyễn Du người làng Tiên Điền).
Dòng họ Nguyễn Du ở Tiên Điền là dòng họ lớn, mà khai tổ là ở làng Canh Hoạch ngoài Bắc. Tôi đã viết về việc: các khai tổ của anh em nhà Nguyễn Khản - Nguyễn Du vốn là dòng Nguyễn Thiến - Nguyễn Quyện - Nguyễn Nhiệm (làng Canh Hoạch) đã phò tá nhà Mạc, theo hoàng đế Mạc Kính Cung lên Cao Bằng. Một lần Cao Bằng bị đánh lớn, khai tổ nhà họ Nguyễn đã giả chết, rồi theo đường thủy về Tiên Điền lập nghiệp.
Chính sử ghi ông khai tổ này đã chết tại Cao Bằng. Nhưng sự thực lại khác ! Vì ông đã giả chết, rồi tìm đường về xuôi.
Dòng họ Nguyễn ở Tiên Điền phải cất rất kĩ lai lịch thân Mạc của mình. Nhưng thú vị là: sau này, chính Nguyễn Nghiễm (thân phụ của Nguyễn Du) đã tiết lộ, ghi rõ trong gia phả - đại ý đến đời Nguyễn Nghiễm, dòng họ này vẫn ngầm cảm ơn triều đình nhà Mạc, không còn sợ nữa, mà tiết lộ trong nội bộ với nhau về gốc tích của mình. Xem ảnh chụp trích đoạn trong bài viết của tôi (đã công bố từ năm 2013-2014).
https://www.facebook.com/photo/?fbid=721830301195381&set=a.721829631195448.1073741923.380158285362586
Bởi vậy, về cơ bản, tôi cũng đặt giả thiết là dòng họ của Tả Ao cũng vốn ở ngoài Bắc đã di cư vào xứ Nghệ.
Thêm nữa, cũng bởi vậy, tôi suy đoán thêm: thánh Tả Ao cũng phải là người sống vào cuối thời Hậu Lê. Ông bà cha mẹ có thể đã vào trước, tên làng Tả Ao đã được đặt từ trước đó lâu.
Rất có thể thánh Tả Ao cũng là người thời Mạc - có hai giai đoạn của nhà Mạc: 1).Nhà Mạc chính triều ở Thăng Long (1527-1593); 2).Nhà Mạc thiên di lên Cao Bằng (1593-1683). Khả năng cao Tả Ao là người thời Mạc ở Thăng Long.
Chuẩn bị viết từ rất lâu, bắt đầu từ thời kì du lãng Cao Bằng từ giữa thập niên 1990. Liên tục nhiều năm ở thập niên đó. Cao Bằng là miền quê hương nơi biên viễn.
Ở xuất bản hơn 10 năm về trước, khi nói về ba đàng (Đàng Ngoài, Đàng Trong, Đàng Trên), tôi đã đưa nhanh khái quát về sử dụng niên đại của ba đàng như sau:
- Đàng Ngoài và Đàng Trong, về thực chất, như hai vương quốc, nhưng Đàng Trong không đặt niên hiệu riêng, mà vẫn sử dụng niên hiệu của vua Lê ở Đàng Ngoài. Cả hai vương quốc đều tính thời gian chung, căn cứ theo niên hiệu của vua Lê (ví dụ: Vĩnh Trị, Vĩnh Khánh, Cảnh Hưng,...).
- Chỉ có Đàng Trên của các vua nhà Mạc là có niên hiệu riêng. Đàng Trên tính thời gian theo lịch của riêng mình, theo niên hiệu của các vua nhà Mạc đang trị vì: Càn Thống, Long Thái, Thuận Đức, Vĩnh Xương (xem lại trên Giao Blog, ở đây hay ở đây).
Bây giờ, xem châu phê của các chúa Nguyễn (trong triển làm "Bảo đạc trường minh寶鐸長鳴" tại Huế, đang diễn ra, gắn với Thiền phái Liễu Quán danh tiếng) thì thấy rõ niên hiệu vua Lê xuất hiện trong văn thư chính thức của hệ thống hành chính Đàng Trong.
Đại khái, ở các bài viết từ nhiều năm về trước (bài đầu tiên là từ 2009), liên quan đến vương quốc Cao Bằng hay Đàng Trên (ví dụ xem ở đây), hoặc liên quan đến Tứ Vị Thánh Nương (ví dụ xem ở đây và ở đây), tôi đã sử dụng hai tấm bản đồ được in vào thập niên 1650 trong các tác phẩm quan trọng của giáo sĩ Đắc Lộ.
Cả hai bản đồ này đã được in vào thập niên 1650 trong các cuốn sách của Đắc Lộ. Nhắc lại cho thêm rõ vậy. Dĩ nhiên, cụ Đắc Lộ không phải là người vẽ ra. Cụ chỉ sử dụng lại các tấm bản đồ có sẵn ở châu Âu vào thời điểm đó, dĩ nhiên đã được chỉnh lí thêm bởi chính các giáo sĩ đã hoạt động ở Việt Nam (đọc thêm ở đây). Đại khái là hai tấm sau.
Bài mới trên số 12 năm 2022 của tạp chí Nghiên cứu Lịch sử.
Về nhà Mạc ở Vĩnh Phúc, trên Giao Blog thì có thể đọc lại ở đây (năm 2013), ở đây (năm 2014), hay ở đây (tháng 1 năm 2018).
Bây giờ là cập nhật điều tra mang tính báo chí của hai tác giả Vũ Xuân Bân và Nguyễn Tiến Dũng. Loạt bài gồm 3 kì đã đăng tải năm 2021 trên trang của Tạp chí Văn hóa & Phát triển.
Những ngày cuối tuần, chúng tôi có du lãng vùng Cao Bình - kinh đô của của vương triều Mạc thời kì Cao Bằng (1593-1685). Về thời kì hơn 80 năm đó của nhà Mạc ở vùng biên viễn, thì trên Giao Blog có thể đọc nhanh ở đây (năm 2015) hay ở đây (năm 2017).
Quãng đường từ Hà Nội lên Cao Bằng lần này, chúng tôi đi một mạch từ sáng sớm, đi qua Thái Nguyên - Bắc Cạn mà lên thẳng mỏ thiếc Tĩnh Túc. Rút gọn thành Hà Nội - Tĩnh Túc (thị trấn Tĩnh Túc, huyện Nguyên Bình, Cao Bằng). Tức là không đi theo lối quen đi là phải qua thành phố Cao Bằng trước, rồi sau đó mới đi các tuyến địa phương huyện.
Trên xe, tôi theo thói quen, đọc lời ca dao cổ:
"Con cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non,
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng".