Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách 晴耕雨讀

09/06/2026

William J. Duiker và bản dịch tiếng Việt đến thời điểm 2026 - nhìn nhanh

William J. Duiker là một học giả có những công trình nghiên cứu công phu về cuộc đời của Hồ Chủ tịch. Trên Giao Blog, có thể đọc lại ở đây.



Mở entry này để sưu tầm vấn đề William J. Duiker và bản dịch tiếng Việt đến thời điểm 2026.

Mở đầu là một số bài giới thiệu nhanh về tác giả.

Sau đó là phần đối chiếu các bản dịch hiện hành ở Việt Nam tính đến thời điểm tháng 6 năm 2026.

Tháng 6 năm 2026,

Giao Blog


---


VỀ TÁC GIẢ


2.


Nay, Gs Nguyen Trung Viet nhắn tin hỏi: Anh ơi, mấy hôm nay cõi mạng xôn xao về cuốn sách của TS. Nguyễn Thành Nam… Quan điểm của anh thế nào? Anh có bản tiếng Anh cuốn sách của J. Duiker?

Lão bảo, cuốn của Nguyễn Thành Nam thì tôi chưa đọc, nhưng cuốn của Duiker thì tôi đọc từ chục niên về trước. Cuốn của Nguyễn Thành Nam được lấy tư liệu từ cuốn sách của Duiker để giảng dạy cho các cháu sinh viên.

Cuốn “Ho Chi Minh: A Life” của William J. Duiker được nhiều học giả xem là một trong những tiểu sử đầy đủ và cân bằng nhất về Hồ Chí Minh do một tác giả phương Tây viết. Duiker đã dành khoảng 30 năm nghiên cứu, khai thác tư liệu từ Việt Nam, Pháp, Nga, Trung Quốc và hồ sơ của Quốc tế Cộng sản.

Đương nhiên, là cuốn sách của một nhà sử học người Mỹ khó có thể giống như những cuốn sách vẫn được lưu hành ở VN. Cách thức khảo cứu, tiếp nhận các kho tư liệu, trích dẫn chứng lý để đưa vào cuốn sách cho thấy tác giả là nhà nghiên cứu chuyên nghiệp và có trách nhiệm với những nghiên cứu của mình.
Chục niên về trước, khi được Nguyễn Cảnh Bình chia sẻ cuốn sách này, tôi đã đọc nó một cách khá vất vả, vì sách dày, hơn 700 trang, với những tư liệu đồ sộ. Chúng tôi đều thống nhất với nhau rằng, nếu không phải là người yêu quý Hồ Chí Minh, thậm chí là yêu đến mê mệt mới có thể giành ra 30 năm, bỏ tiền túi cá nhân để lặn lội đến nhiều địa danh ở các quốc gia trên thế giới theo dấu chân Hồ Chí Minh để viết nên công trình đồ sộ ấy.

Những tác giả lớn ở VN như Nhà văn Sơn Tùng, Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, Nhà văn Thiên Sơn dẫu đã viết cả ngàn trang về Hồ Chí Minh khi cầm cuốn sách của Duiker trên tay vẫn không khỏi ngỡ ngàng, thán phục, trước hết vì chưa ai có thể đầu tư kỳ công như thế.

Khó mà nói hết về sức hấp dẫn của cuốn sách nhưng nội dung của nó có thể toát lên mấy điều: Hồ Chí Minh trước hết là một nhà yêu nước, đây có lẽ là kết luận quan trọng nhất của Duiker.

Ông cho rằng Hồ Chí Minh là người cộng sản có niềm tin thực sự vào chủ nghĩa Marx-Lenin, nhưng động lực sâu xa nhất vẫn là giành độc lập cho Việt Nam. Theo Duiker, chủ nghĩa cộng sản đối với Hồ Chí Minh không phải mục đích duy nhất mà còn là con đường khả thi nhất để giải phóng dân tộc khỏi chủ nghĩa thực dân.

Điều này khác với hai cách nhìn cực đoan, cụ Hồ chỉ là người cộng sản quốc tế. Hoặc Cụ chỉ là người dân tộc chủ nghĩa không có niềm tin cộng sản. Duiker cho rằng Hồ Chí Minh là sự kết hợp của cả hai yếu tố.

Một điểm rất hấp dẫn trong sách là mô tả cuộc đời lưu lạc của Nguyễn Tất Thành. Cụ đã sống và làm việc tại: Pháp; Anh; Mỹ; Liên Xô; Trung Quốc… Duiker cho thấy chính trải nghiệm quan sát thế giới đã giúp Hồ Chí Minh nhận ra rằng vấn đề của Việt Nam không phải là cá biệt mà nằm trong hệ thống thuộc địa toàn cầu.

Duiker nhận xét Hồ Chí Minh không phải mẫu lãnh tụ cộng sản giáo điều. Cụ chịu ảnh hưởng từ truyền thống Nho giáo Việt Nam. Từ tư tưởng yêu nước của các sĩ phu đầu thế kỷ XX và sau đó là tiếp thu chủ nghĩa Marx-Lenin và kinh nghiệm chính trị phương Tây.

Theo Duiker, chính sự pha trộn này tạo nên phong cách lãnh đạo mềm dẻo, thực dụng và giàu tính thuyết phục của Hồ Chí Minh. Chính sách ngoại giao cây tre đã kế thừa rất tốt tư tưởng này của Cụ Hồ.

Hồ Chí Minh từng nhiều lần tìm cách tranh thủ sự ủng hộ của Hoa Kỳ sau Thế chiến II. Cụ trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và hy vọng Washington sẽ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Tuy nhiên, bối cảnh Chiến tranh Lạnh đã khiến Mỹ lựa chọn ủng hộ Pháp rồi sau đó là chính quyền miền Nam Việt Nam.

Nói như thế không có nghĩa là cuốn sách của Duiker là hoàn hảo. Khi Duiker viết sách và cho xuất bản năm 2000, nhiều kho lưu trữ quan trọng ở Việt Nam, Trung Quốc và Nga vẫn chưa được mở hoàn toàn cho giới nghiên cứu. Do đó, một số giai đoạn trong cuộc đời Hồ Chí Minh được tái dựng dựa trên hồi ký, báo cáo của mật thám Pháp, hồ sơ Quốc tế Cộng sản. Hơn thế là tư liệu gián tiếp từ những người cùng thời. Điều này khiến một số kết luận mang tính suy luận hơn là chứng minh tuyệt đối.

Bỏ qua những nhược điểm đó thì nhìn chung cuốn sách đã có công rất lớn trong việc truyền bá công cuộc đấu tranh giành độc lập của người Việt do lãnh tụ Hồ Chí Minh đứng đầu. Việc một người Mỹ viết ra điều này có tính thuyết phục rất cao so với những người Việt hậu thế viết về lãnh tụ của mình.

Nói ra điều này để thấy, cách thức phê bình văn học theo lối Hồng vệ binh vô tình đã hủy hoại những giá trị văn hóa và tố cáo sự thấp kém về nhận thức của chính mình.

(Tạm thời thế đã nhé!)

https://www.facebook.com/hai.phanthe.73/posts/pfbid0BDGGWhtoiYpzex2U7RdzoMs2vbdqfofujyqrRAtsVi7RZ8F94mkwjjgGxPbv75Cjl



1.

Tôi gặp GS. Duiker mùa Xuân năm 1991 ở Hà Nội. Hồi đó ông sang HN để thu thập thêm tài liệu, chuẩn bị viết cuốn "Ho Chi Minh: a Life".
Do có cùng "sân chuyên môn" lại mới thi đỗ TOEFL nên tôi được Khoa Sử cử tháp tùng Duiker trong nhiều buổi làm việc với các cơ quan chuyên môn ở Hà Nội.

Duiker khi đó cũng đã gần 60 tuổi, khá cởi mở. Ông cho biết có thể sử dụng tốt tiếng Anh, tiếng Hà Lan, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp, có thể đọc hiểu tiếng Việt nhưng nghe và nói thì hơi kém.

Ông kể: hồi Mỹ đưa quân vào Việt Nam tôi được tuyển dụng làm ở Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Trên danh nghĩa tôi nghiên cứu các báo cáo về kinh tế, nhưng thật ra tôi được giao nhiệm vụ chuyên nghiên cứu các nhà lãnh đạo cộng sản Bắc Việt. Tôi hỏi: ai giao nhiệm vụ? Ông tủm tỉm cười: CIA.
Rồi ông kể: chỉ hơn một năm sau, khoảng cuối năm 1965 tôi rời bỏ công việc này. Tôi đã nói với họ rằng cuộc chiến này không thể có kết cục tốt gì cho nước Mỹ. Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam không giống như các đồng chí của họ ở Liên Xô và Trung Quốc. Họ là những người có tinh thần dân tộc mạnh mẽ và nhân dân Việt Nam tin cậy, ủng hộ họ. Tôi nghĩ chúng ta không thắng được họ.

Cùng nghe những lời ông nói có các thầy của tôi ở Khoa Sử và cả đồng nghiệp ở Viện Sử học. Có cả một số sinh viên người Mỹ, người Đức và một cô người Hà Lan nữa.

Nói chung là những ngày ông ở HN làm việc với chúng tôi khá thành công, trên tinh thần hợp tác thẳng thắn, với những cuộc thảo luận có lúc khá căng thẳng giữa ông với GS Đinh Xuân Lâm và PGS Phạm Xanh. Lúc hăng cãi nhau ông và GS Lâm cứ phăng phăng bằng tiếng Pháp, tôi thì điếc đặc. Sau này tôi hỏi thầy Lâm xem hai người cãi nhau về cái gì mà hăng thế. Thầy tôi bảo: ông ấy bảo Hồ Chí Minh là không có tí Stalinist nào, nhưng hình như nửa Maoist, nửa Leninist. Tôi bảo: ông sai rồi! Hồ Chí Minh là Leninist kiểu phương Đông và đậm chất văn hoá Pháp, hào hoa và có cả nét cần kiệm hơi quá đà của ông "Đồ Nghệ". Ông ta có vẻ còn chưa hiểu lắm.

Sau này, Duiker viết rằng: Ho Chi Minh là một người ở đâu đó giữa Lenin và Khổng Tử. Có lẽ ý tưởng này có phần chịu ảnh hưởng từ các thầy tôi ở Hà Nội.
Cần phải nhấn mạnh rằng sau khi chiến tranh kết thúc, suốt thời kỳ 1975-1986 nước Mỹ bị chìm sâu trong "hội chứng Việt Nam" (Vietnam syndrome). Họ tìm cách nuốt trôi thất bại cay đắng bằng thái độ cấm vận thù địch, ủng hộ cả Polpot và Đặng Tiểu Bình tấn công Việt Nam vv Giới nghiên cứu cũng dường như không quan tâm tới Việt Nam nữa.

Trong bối cảnh đó có một số công trình rất có giá trị của giới học giả Mỹ, như hai cuốn sách của A. Woodside, hai cuốn sách của David G Marr và đặc biệt là hai cuốn sách của Duiker: 1) Rise of Nationalism in Vietnam, 1900-1941 (1976) và 2) Communist Road to Power in Vietnam (1981). Đó là những công trình nghiên cứu nghiêm túc, khoa học, góp phần mang lại cho công chúng, nhất là giới trí thức Mỹ những hiểu biết và cách nhìn trung thực, khách quan hơn về lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng Việt Nam. Có thể nói, những nghiên cứu này đã góp phần giải độc cho nước Mỹ, góp phần dọn đường cho quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước.

Chính vì vậy mà Duiker, Woodside và cả Marr bị một số người ở Mỹ gọi là "thân Hà Nội" (pro Hanoi), mặc dù họ hoàn toàn không có quan hệ gì với "Hà Nội".
Nói rõ như vậy để những ai có điều kiện tiếp cận và đọc trực tiếp công trình "Ho Chi Minh: a Life" của Duiker.

Dù đứng trên lập trường nào cũng phải thừa nhận đây là một trong những công trình đồ sộ nhất, công phu nhất và là công trình hoàn toàn nghiêm cẩn về Hồ Chí Minh.

Nói vậy không có nghĩa là cuốn sách của Duiker không có những hạn chế. Thứ nhất là sai sót về thông tin. Ví dụ: Đảng Xã hội Pháp mà Nguyễn Ái Quốc tham gia là SFIO chứ không phải là FSP. Hoặc khi ông thu thập tài liệu để viết cuốn sách đó thì ông chưa tiếp cận được kho lưu trữ của Quốc tế Cộng sản. Kho lưu trữ ở Đài Bắc cũng chưa cho đọc tài liệu. Đó chính là lý do mà một khoảng trống dài trong cuộc đời của Hồ Chí Minh ông chỉ phục dựng bằng tài liệu gián tiếp, suy diễn và sai sót nhiều. Chính vì vậy sau này đã xuất hiện cuốn sách của Sophie Quin-Judge " Ho Chi Minh - the Missing Years" để khoả lấp khoảng trống này với cơ sở sử liệu đầy đủ hơn.

Đó là những gì tôi biết và lĩnh hội được trong quá trình làm nghề, có tham khảo các công trình của GS William J. Duiker và các đồng nghiệp khác.
Có thể tôi cũng có chỗ hiểu chưa đúng, nhưng xin mạnh dạn cung cấp thêm thông tin để ai quan tâm thì rộng đường tham khảo.
Dưới đây là tấm ảnh ông Duiker chụp chúng tôi trước cửa Bảo tàng Hồ Chí Minh bữa cùng nhau đến đó xem tài liệu. Ảnh này được ông đưa vào cuốn sách, tôi khi đó là thằng người mặc áo len, đội mũ nồi đứng quay lưng ra ở góc bên phải.
Mới đó mà đã 35 rồi





https://www.facebook.com/tuky.pham.18/posts/pfbid0336toqNTANHrgN32zkUiKjd8gygJZFCxejJ2uP6bVyPDYzbL96Qcqtmajidi3Vrevl

---


VỀ TÁC PHẨM


1.


Bài viết của Minh Cao


Trên mạng xã hội đang rần rần phản đối cuốn sách “Chuyện với Thanh” của Nguyễn Thành Nam”, nguyên Tổng Giám đốc Tập đoàn FPT. Báo Nhân dân Điện tử đã đăng 2 bài giới thiệu về cuốn sách này, sau đó tháo gỡ. Theo thông tin trên các trang mạng xã hội, cuốn “Chuyện với Thanh” của Nguyễn Thành Nam” đã xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh! Tôi chưa đọc cuốn sách nên không tham gia bình luận. Tuy nhiên, qua những trang trích dẫn trong cuốn sách, tôi biết, tác giả Nguyễn Thành Nam đã sử dụng một số tư liệu trong cuốn sách "Ho Chi Minh: A Life" của tác giả William J. Duiker. Đây là cuốn sách gần 700 trang, xuất bản tại nước Mỹ, được Nguyễn Thành Nam dịch và giao cho tôi đọc, hiệu đính và làm các thủ tục xuất bản cuốn sách.
Trước khi nhận lời hiệu đính và làm thủ tục xuất bản, tôi đề nghị ông Nguyễn Thành Nam cung cấp cho tôi thông tin tác giả William J. Duiker và đề nghị tác giả cho phép được cắt bỏ một số chi tiết trong tác phẩm để phù hợp với những quy định về xuất bản của Việt Nam. Đề nghị của của tôi đã được ông Nguyễn Thành Nam trả lời qua email: “Bên bản quyền đã đồng ý về nguyên tắc việc biên tập như anh (tức là tôi) đề xuất. Tuy nhiên họ muốn xem cụ thể là bên anh biên tập như thế nào”.
Sau hàng tháng trời đọc bản dịch của ông Nguyễn Thành Nam (trên 500 trang đánh máy khổ A4), tôi đã phát hiện nhiều thông tin trong bản dịch sai lệch với những thông tin về lịch sử Đảng CSVN và Hồ Chí Minh đã công bố trong các tác phẩm đã xuất bản ở Việt Nam. Thậm chí, có những thông tin xúc phạm đến Bác Hồ kính yêu và các nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối. Tôi đã lọc ra 23 thông tin, sự kiện đề nghị tác giả cắt bỏ. Phần đề nghị cắt bỏ, tôi đã ghi chi tiết nội dung, lí lo cắt… và gửi cho chị Quế Anh - người được ông Nguyễn Thành Nam, ủy quyền làm việc với tác giả William J. Duiker. Tuy nhiên, những nội dung đề nghị cắt bỏ của tôi không được ông William J. Duiker đồng ý nên cuốn sách này không được xuất bản ở Việt Nam.
Xin trích một số thông tin tôi đề nghị cắt bỏ:
Trong “Phần mở đầu”, tại Chú thích 5, tác giả viết: “Những cuốn xuất bản ở Bắc Việt thì cố gắng tô vẽ một vị thánh thay vì miêu tả chân dung một nhà hoạt động chính trị”. Tôi đề nghị cắt bỏ vì đây là nhận định chủ quan. Thực tế, tác phẩm “Búp sen xanh” của Nhà văn Sơn Tùng và một số tác phẩm khác viết về Hồ Chí Minh xuất bản ở Việt Nam cũng được bạn đọc đánh giá cao...
Tại chương “Ngựa hoang”, Chú thích 22, tác giả nghi ngờ Bản Yêu sách nhân dân An Nam không phải của Hồ Chí Minh! Tuy nhiên, trong phần chú giải, tác giả viết “Trong bản yêu sách, đầu tiên Thành phiên âm thành “Quac”, sau mới sửa thành “Quoc”, mà không đưa ra nguồn tư liệu chứng minh cho mối “nghi ngờ” trên. Bản yêu sách của Hồ Chí Minh đã trở thành Bảo vật Quốc gia nên không thể nêu về mối nghi ngờ không phải là tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc! Tôi đề nghị cắt bỏ đoạn này.
Chương “Con Rồng cháu Tiên”
Chú thích 32, phần nói về vụ cụ Phan Bội Châu bị mật thám Pháp bắt tại ga Bắc Trạm, Thượng Hải, tháng 6/1925. Tác giả viết: “Mặc dù không phủ nhận là Nguyễn Ái Quốc có thể phản bội Phan Bội Châu nếu tin rằng điều đó phục vụ lợi ích cách mạng, nhưng trong vụ này rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc không tin là có thể khai thác được gì cho phong trào từ việc bắt Phan Bội Châu”. Đoạn này khiến bạn đọc dễ hiểu nhầm Nguyễn Ái Quốc dính líu đến vụ chỉ điểm cho mật thám bắt cụ Phan Bội Châu. Tôi cũng đề nghị cắt bỏ.
Tại chú thích 58: Tôi đề nghị cắt bỏ đoạn nói về mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với bà Tăng Tuyết Minh vì chưa có tài liệu chính thống nào ở Việt Nam khẳng định mối quan hệ này
Tại chương “Giữa hai cuộc chiến”.
Chú thích 29. Tôi đề nghị cắt bỏ đoạn nói về sự sùng bái Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đoạn này tác giả dẫn nguồn trong tác phẩm “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên.
Chú thích 36:
Đề nghị tác giả cắt bỏ đoạn nói về ông Trường Chinh sau Cải cách ruộng đất. Vì tác giả dẫn nguồn tư liệu của ông Bùi Tín. Đây là nhận định chủ quan của ông Bùi Tín về ông Trường Chinh. Ông Bùi Tín không thể phán xét ông Trường Chinh rằng “Tính cách hơi xa lạ, ông này không được các đồng chí yêu quý không phải vì sự tàn bạo mà vì sự lạnh lùng và thiếu tình người”!
Trong cuốn sách, tác giả William J. Duiker còn đưa nhiều thông tin chưa được kiểm chứng về mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đồng chí, học trò của mình như Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duẩn… Hầu hết, những thông tin này tác giả đều trích nguồn từ cuốn sách “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên”; “Giọt nước trong biển cả”, hồi kí của Hoàng Văn Hoan và một số cuốn sách của Bùi Tín, xuất bản ở nước ngoài. Những cuốn sách này không được xuất bản ở Việt Nam.
… Nếu tác giả Nguyễn Thành Nam mà trích dẫn, sử dụng quan điểm của William J. Duiker trong "Ho Chi Minh: A Life" vào cuốn “Chuyện với Thanh” thì rất đáng khả nghi về tư tưởng và động cơ của ông khi viết “Chuyện với Thanh”!.




https://www.facebook.com/mihcao/posts/pfbid02i9FtNi2ScX6w6wQQ8SxZybRZsmfz8zXARMcgLSFbvwvUyzV9Q6L8UxwBKLv97Kxfl

...




Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Thành Nam


Hồ Chí Minh – Một cuộc đời: Phần 1

Nguyên tác: Ho Chi Minh: A Life

Người dịch: Nguyễn Thành Nam

——————————————————

Mất nước

Khi đội quân của ông đang rong ruổi ầm ĩ trên các đường phố tiếp nhận sự đầu hàng của quân thù, ông lặng lẽ vào thành phố, trong một ngôi nhà 2 tầng nhỏ với chiếc máy chữ đã theo sát mình từ Matxcova đến Trung hoa và Việt nam trong những tuần đầu 1941. 2h chiều ngày 2/9/1945 trên lễ đài dựng tạm tại một quảng trường mà sau này được gọi là Ba Đình, trong bộ quần áo kaki bạc màu, với chất giọng còn đậm nguồn gốc xứ Nghệ, ông đã đọc bản tuyên ngôn khai sinh cho một dân tộc độc lập. Những lời đầu tiên của bản hiến pháp đã làm sửng sốt một số người Mỹ có mặt trong đám đông: “Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá đã cho họ những quyền tối thượng trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Tại thời điểm đó, chỉ có ít người biết được HCM chính là đại diện của QTCS, người sáng lập ra ICP năm 1930. Đối với đa số dân Việt nam, HCM chỉ đơn giản là một người yêu nước, đã phục vụ lâu dài cho đất nước. Trong suốt 1/4 thế kỷ tiếp sau, nhân dân Việt nam và cả thế giới mới có cơ hội để chiêm nghiệm, đánh giá con người này.

Cuộc trường chinh của HCM đến quảng trường Ba đình ngày đó, được khởi đầu từ một ngày hè năm 1858, khi hạm đội Pháp nổ súng tấn công thương cảng Đà nẵng. Mặc dù cuộc tấn công không phải hoàn toàn là bất ngờ. Trước đó vài thập kỷ, các nhà truyền giáo Pháp đã lang thang khắp nơi để cứu rỗi tâm hồn Việt, các nhà buôn thì bận rộn tìm kiếm thị trường và tìm những con đường thâm nhập vào Trung quốc, các nhà chính trị Pháp thì tin rằng, chỉ có thôn tính các thuộc địa tại châu Á mới giúp nước Pháp đứng vững ở vị trí siêu cường. Cho đến giữa thế kỷ, người Pháp vẫn hy vọng bằng con đường ngoại giao thuyết phục được triều đình Huế chịu ảnh hưởng của họ. Tuy nhiên khi các cuộc đàm phán chắng đi đến đâu, chính quyền của Hoàng đế Luise quyết định dùng vũ lực. Cuộc chiến với Pháp không phải là cuộc chiến đầu tiên của Việt nam. Có thể nói, hiếm có dân tộc nào trên châu Á đã chiến đấu bền bỉ và lâu dài để bảo vệ nền độc lập của mình hơn người Việt nam. Từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên, khi nước cộng hoà Roma còn đang trong trứng nước, Trung hoa đã xâm chiếm Việt nam và thực hiện hàng loạt các chương trình chính trị và văn hoá để đồng hoá dân tộc này. Mặc dù Việt nam đã giành được độc lập vào thế kỷ thứ 10, phải đến hàng trăm năm sau, khi Việt nam chấp nhận một hình thức triều cống, các hoàng đế Trung hoa mới chịu chấp nhận sự thật về một nước Việt nam độc lập.

Hơn nghìn năm chung sống với Trung hoa đã để lại những hệ quả sâu sắc. Hệ thống chính trị, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo và cả ngôn ngữ Hoa đã bắt rễ sâu bền trên mảnh đất Việt nam. Mặc dù những yếu tố dân tộc chưa bao giờ biến mất trong văn hoá Việt nam, đối với người quan sát không được đào tạo bên ngoài, Việt nam chẳng khác gì một con rồng thu nhỏ hình ảnh của người láng giềng khổng lồ ở phía Bắc. Tuy có vẻ như người Việt sẵn sàng hấp thụ những ảnh hưởng văn hoá từ phương Bắc, họ vô cùng cương quyết trong vấn đề độc lập dân tộc. Những vị anh hùng dân tộc, từ Hai Bà Trưng đến Lê Lợi, Nguyễn Trãi đều xuất thân từ các cuộc kháng chiến. Lịch sử đã hình thành một dân tộc có có đặc tính dân tộc và ý chí chống ngoại xâm mạnh mẽ. Cuộc đấu tranh về sự tồn vong đã hun đúc truyền thống quân sự, sẵn sàng chấp nhận dùng vũ lực để bảo vệ đất nước. Từ sau khi giành được độc lập, Việt nam (lúc đó gọi là Đại Việt) đã có cuộc hành quân lâu dài về phương Nam chống lại Champa. Bắt đầu từ thế kỷ 13, Đại Việt đã bắt đầu thắng thế và thôn tính hoàn toàn Champa vào thế kỷ 17. Đất nước Việt nam trải dài đến tận mũi Cà mau trong vịnh Thái lan và Việt nam trở thành một cường quốc ở ĐNA. Tuy nhiên đất nước đã phải trả giá cho sự phát triển. Các mâu thuẫn đã phát sinh ra cuộc nội chiến dai dẳng Đằng Trong – Đằng Ngoài. Gia Long tạm thời thống nhất được đất nước từ đầu thế kỷ 19, tuy nhiên các mâu thuẫn quyết liệt giữa các vùng về quyền lợi kinh tế chưa bao giờ được giải quyết trọn vẹn.

Cũng tại thời điểm đó, các hạm đội châu Âu, theo chân của Vasco da Gama bắt đầu lảng vảng dọc bờ biển Nam Trung Hoa và vịnh Thái lan để tìm kiếm kim loại quý, đặc sản và các linh hồn cần cứu rỗi. Không chịu ngồi nhìn kẻ kình địch Anh củng cố lực lượng tại Ấn độ và Miến điện, người Pháp quyết định chọn Việt nam.

Vào năm 1853, Tự Đức lên ngôi. Thật không may, ông vua trẻ này phải gánh trên vai trách nhiệm chống lại cuộc xâm lược đầu tiên sau nhiều thế kỷ. Tuy có thiện chí và thông minh, ông vua này lại thiếu tính cương quyết và có một sức khoẻ ẻo lả. Khi quân Pháp tấn công Đà nẵng, bản năng của Tự Đức đã mách bảo là phải chiến đấu. Hạm đội của đô đốc Charlé Rigault de Genuoilly, đợi mãi không thấy sự nổi dậy của quần chúng như các nhà truyền giáo thông báo, lại bị bệnh tả và lỵ hoành hành đã bỏ Đà nẵng và tấn công vào Sài gòn, một thành phố đang trên đà phát triển. Sau 2 tuần, Sài gòn thất thủ. Thất bại tại phía Nam đã làm nản lòng Tự Đức. Ông đồng ý đàm phán và cắt 3 tỉnh Nam Bộ (sau đó là 3 tỉnh nữa) thành thuộc địa của Pháp với tên gọi Cochin China. Pháp đã thắng hiệp đầu. Trong những năm tiếp sau, triều đình cố gắng giữ độc lập. Nhưng sau khi Pháp tấn công Hà nội và chiếm một số thành phố tại châu thổ sông Hồng thì triều đình hoàn toàn bị tê liệt. Ông vua ốm yếu Tự Đức vừa chết trước đó vài tháng đã để lại một triều đình đầy mâu thuẫn. Sau vài tháng đấu đá, Tôn Thất Thuyết nắm được quyền bính và đưa Hàm Nghi lên ngôi với hy vọng tiếp tục kháng chiến. Theo yêu cầu của Việt nam, Nhà Thanh gửi quân sang giúp đỡ nhưng vô hiệu. Năm 1885,Trung hoa rút quân và ký hiệp định với Pháp, bãi bỏ chế độ triều cống của Việt nam. Tại Huế, Hàm Nghi phải bỏ chạy lên núi cùng với Tôn Thất Thuyết. Triều đình chấp nhận nhượng bộ và để cho Pháp trên thực tế thôn tính nốt Tonkin (Bắc bộ) và Annam (Trung bộ), mặc dù triều đình bù nhìn vẫn được duy trì ở Annam.

Quá trình Pháp thôn tính Việt nam là cuộc thị uy của các quốc gia tiên tiến phương Tây đang bước vào thời đại công nghiệp hoá. Bị thúc ép bởi nhu cầu tìm kiếm nguyên liệu rẻ và thị trường, phương Tây đã dùng vũ lực để áp đặt chế độ cai trị của mình. Vào cuối thế kỷ 19, tất cả các quốc gia Nam và Đông Nam Á (trừ Thái lan – Xiêm) đã trở thành thuộc địa.

Triều đình đầu hàng không đồng nghĩa với kết thúc mong muốn độc lập của Việt nam. Rất nhiều các quan lại và tướng lĩnh không chấp nhận hạ vũ khí. Đáng kể nhất là phong trào Cần Vương (Giúp Vua) của Phan Đình Phùng tại Hà tĩnh. Khi Hoàng Cao Khải, bạn thơ ấu của Phan đến khuyên ông đầu hàng, ông đã khảng khái trả lời như một nhà nho yêu nước:

“Nếu Trung Hoa, hàng ngàn lần mạnh hơn chúng ta, lại có biên giới chung với chúng ta, đã không thể dùng sức mạnh để đè bẹp Việt nam, chỉ có thể nói sự tồn vong của dân tộc Việt nam đã chính là nguyện vọng của Trời”

Tuy nhiên sự tồn tại của hai nhà Vua: Đồng Khánh và Hàm Nghi đã tạo nên một sự chia rẽ sâu sắc trong tầng lớp trí thức nho giáo theo tư tưởng Trung quân trong suốt gần nửa thế kỷ sau.

Nghệ An, nơi có những bãi biển yên ả, những dãy núi tím đỏ, những cánh đồng lúa xanh, là trung tâm của phong trào chống Pháp. Mảnh đất hẹp và cằn cỗi này luôn phải đối mặt với mọi thử thách của thiên nhiên, đã làm cho những con người sống trên nó nổi tiếng là cứng đầu và bất trị. Trong 2 thập kỷ cuối của thế kỷ 19, nhiều người trong số những tầng lớp ưu tú nhất của Nghệ an đã chiến đấu và hy sinh dưới ngọn cờ Cần Vương. Tại đây, làng Kim Liên – Huyện Nam Đàn, năm 1863, vợ hai của phú nông Nguyễn Sinh Vương (hay còn gọi là Nguyễn Sinh Nhâm), bà Hà Thị Hy đã sinh con trai đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc. Vợ cả của Vương đã chết trước đó vài năm, để lại cho chồng một con trai khác tên là Nguyễn Sinh Tro. Lên 4 tuổi, Sắc mồ côi cả cha lẫn mẹ và được anh Tro nuôi nấng. Do thường xuyên bị hạn hán đe doạ, người dân phải làm đủ mọi việc để sống: thợ mộc, thợ đấu, thợ rèn, thêu. Tuy vậy truyền thống học hành vẫn được đề cao. Nhiều nhà nho đèn sách đi thi hoặc mở thêm lớp dạy học kiếm sống.

Mặc dù gia phả nhà Vương còn ghi lại nhiều đời đỗ đạt, Sắc không có nhiều cơ hội để trở thành thư sinh. Những buổi đi chăn trâu cho anh, cậu thường ghé vào nghe ké lớp học của Vương Thúc Mậu. Lớn lên, Sắc đã nổi tiếng khắp làng về tính ham học và được Hoàng Dương (Hoàng Xuân Dương), bạn của Mậu, chú ý. Để ý thấy cậu bé thường xuyên nằm trên lưng trâu đọc sách trong lúc chúng bạn chơi đùa, Dương nhận lời đỡ đầu cậu. Năm 15 tuổi, Sắc theo Dương chuyển sang làng Hoàng Trù và bắt đầu học với cha nuôi của mình. (theo truyền thống nho giáo, những học trò tài năng thường hay được họ hàng hoặc người thân đỡ đầu. Khi đỗ đạt, cả cha mẹ và người đỡ đầu đều được hưởng vinh quang)

Họ Hoàng bắt đầu từ Hưng Yên và có dòng dõi khoa bảng. Bố của ông Dương đã từng ba lần đi thi và đậu tú tài. Trong lúc chồng dạy học, vợ ông là Nguyễn Thị Kép và hai con gái là Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An suốt ngày bận rộn ngoài đồng để nuôi sống gia đình. Truyền thống xã hội Việt nam trao nhiều quyền cho người phụ nữ, tuy nhiên với ảnh hưởng ngày càng lan rộng của đạo Khổng đến thời điểm đó, vai trò của phụ nữ ngày càng trở nên thứ yếu. Họ không có cơ hội được hưởng giáo dục. Trong bối cảnh đó, bà Kép và con gái đã may mắn hơn vì có được chút ít kiến thức. Gia đình bà Kép cũng có truyền thống khoa bảng và bố bà cũng đậu tú tài.

Cậu bé Sắc đã lớn lên trong một môi trường như vậy. Cũng không ngạc nhiên khi cậu phải lòng cô bé Loan xinh đẹp. Mặc dù bà Kép hơi băn khoăn vì cậu mồ côi cha mẹ, đám cưới vẫn được tiến hành vào năm 1883. Cặp vợ chồng trẻ được bố mẹ vợ cho một căn nhà 3 gian ấm cúng ngay cạnh nhà. Ở giữa hai nhà là gian nhà nhỏ đặt bàn thờ tổ tiên. Trong 7 năm sau đó, bà Loan sinh được 3 người con: con gái Nguyễn Thị Thanh, 1884; con trai Nguyễn Sinh Khiêm năm 1888 và ngày 19 tháng 5 năm 1890, cậu bé Nguyễn Sinh Cung mà sau này là HCM ra đời (1).

Năm 1891, Sắc ra Vinh thí Tú Tài và bị trượt. Không nản chí ông vẫn tiếp tục đèn sách. Năm 1893, bố vợ ông qua đời, ông phải đi dạy thêm để giúp đỡ gia đình. 5/1894 Sắc đi thi lần thứ hai và đỗ cử nhân. Thông thường người có học vị cử nhân thường tim các vị trí trong bộ máy chính quyền. Ông Sắc lại quyết định sống thanh bạch bằng nghề dạy học tại quê nhà. Và bà Loan lại tiếp tục ra ruộng.

Tình hình kéo dài không lâu, mùa xuân năm 1895, Nguyễn Sinh Sắc ra Huế thi Hội. Ông bị trượt nhưng quyết định xin ở lại vào trường Quốc tử giám để ôn thi cho kỳ sau. Quốc tử giám có nguồn gốc từ những ngày đầu độc lập tại Hà nội và là nơi đào tạo cho bộ máy cai trị của triều đình. Nhờ một số người bạn giúp đỡ, Sắc được nhận học bổng. Ông quay về Nghệ an để đón vợ và con vào.

Không có tiền để đi tàu thuỷ, gia đình Sắc quyết định đi bộ. Vào thời đó, đường từ Vinh đi Huế hết sức vất vả và nguy hiểm phải vượt qua những cánh rừng rậm đầy hổ báo cũng như luôn phải đối phó với những băng cướp đường. Họ đi khoảng 30 km/ngày và mất tổng cộng khoảng 1 tháng. Khi mệt quá cậu bé Cung 5 tuổi được cha mẹ cõng và kể cho những câu chuyện về những vị anh hùng cứu nước Việt nam.

Mặc dù đã trở thành trung tâm chính trị của cả nước (Gia Long quyết định chuyển kinh đô vào miền Trung để thể hiện ý chí thống nhất đất nước của mình), Huế tại thời đó cũng chỉ có không đến chục ngàn dân. Kiệt sức vì đi đường, Sắc may mắn được một người bạn cho ở nhờ. Sau đó gia đình chuyển đến một căn nhà nhỏ trên phố Mai Thúc Loan, nằm gần tường đông của Cấm thành trên bờ bắc sông Hương. Sắc ít khi đến trường, ông thích tự học ở nhà và dạy con cũng như con cái của lớp quan lại láng giềng. Cậu bé Cung từ nhỏ đã tỏ ra rất thích tìm hiểu thế giới xung quanh. Khi quan sát những nghi lễ cung đình, cậu đã hỏi mẹ, liệu không biết vua có què không mà phải đi kiệu.

Năm 1898, Sắc thi trượt lần 2 và buộc phải chấp nhận công việc dạy học tại thôn Dương Nỗ. Bà Loan thì kiếm thêm bằng công việc may vá và giặt thuê. Chủ trường Dương Nỗ, một tay phú nông đã đồng ý cho 2 con trai của Sắc được tham dự trường. Có thể đây là nền giáo dục Khổng tử chính thức đầu tiên mà cậu bé Cung được hưởng. Tháng 8/1900 Sắc được bổ nhiệm làm giám khảo trường thi tại Thanh hóa. Ông mang cậu bé Khiêm đi, còn Cung ở lại Huế với mẹ. Trên đường về, ông ghé qua Kim Liên để xây lại mộ cho bố mẹ. Đây được coi là vinh hạnh vì thông thường cử nhân không được làm giám khảo, tuy nhiên cái giá của chuyến đi là quá đắt. Tại Huế, bà Loan đã qua đời ngày 10/2/1901 vì hậu sản sau khi sinh cậu bé thứ tư: Nguyễn Sinh Xin. Bà con hàng xóm vẫn nhớ cảnh cậu bé Cung vừa đi vừa khóc qua các nhà để xin sữa nuôi em. Khuôn mặt tươi vui của cậu trở nên buồn rười rượi (2).

Nghe tin vợ chết, ông Sắc lập tức trở về Huế và mang các con ra Hoàng Trù. Cậu bé Cung khi đó đã là một học trò nhanh trí và nhớ được khá nhiều chứ Hán, tuy nhiên bố cậu vẫn lo cậu ham chơi và gửi cậu học ở một người bà con xa bên vợ: ông Vương Thúc Đỗ. Vương nổi tiếng thời bấy giờ vì không bao giờ đánh học trò và thường chiêu đãi các học trò của mình bằng những câu chuyện những anh hùng chống ngoại xâm, trong đó có anh cả của ông, người đã từng chiến đấu dưới ngọn cờ Cần Vương.

Sắc quay lại Huế sau vài tháng, nhưng các con ông vẫn ở Hoàng Trù với bà nội. Thanh lúc này đã là một cô gái trưởng thành, giúp bà nội việc đồng áng. Ngoài việc nhà, cậu bé Cung chạy chơi khắp xóm với chúng bạn, câu cá, thả diều. Trong các trò chơi, bao giờ cậu cũng là người kiên trì nhất. Cậu thích nhất là leo lên núi Chung, thả tầm nhìn xuống những cánh đồng lúa, rặng tre và dãy Trường sơn xanh mờ phía xa. Trên núi có đền thờ Nguyễn Đức Du, một vị tướng chống quân Nguyên Mông. Cũng trên núi này, năm 1885, ông Vương Thúc Mậu, người mà ông Sắc thường mon men học lỏm ngoài cửa, đã phất cờ khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương. Chỉ có một nốt buồn trong giai đoạn này của cuộc đời Cung: em Xìn cậu đã chết lúc mới 1 tuổi.

Quay về Huế, Sắc lại đi thi và lần này ông đỗ Tiến sĩ đệ nhị, hay Phó Bảng. Tin vui này làm nức lòng cả hai làng Kim Liên và Hoàng Trù. Lần đầu tiên từ giữa thế kỷ 17, khu vực này mới có người đỗ cao như vậy. Kim Liên từ nay đã có thể coi mình là “Đất văn vật”. Cũng như lần trước Sắc từ chối những nghi lễ long trọng, ông phân phát thức ăn cho người nghèo. Tuy nhiên ông chấp nhận căn nhà 3 gian và 2 sào ruộng như là quà tặng của làng Kim Liên. Gia đình ông chuyển về Kim Liên.

Phó bảng là một học vị danh giá và thường mang lại quyền lực cũng như tiền bạc. Tuy nhiên Sắc không có mong muốn tham gia vào quan trường trong cảnh nước mất. Lấy cớ là đang để tang vợ, ông quyết định ở lại Kim Liên dạy học. Ông cũng lấy tên mới là Nguyễn Sinh Huy (sinh ra cho danh dự)

Khi đó cậu bé Cung đã 11 tuổi, bắt đầu vào tuổi trưởng thành. Theo thông lệ, bố cậu đặt tên cho cậu là Nguyễn Tất Thành (Người sẽ thành công). Cậu được bố gửi đến học lớp của nhà nho Vương Thúc Quý, con của Vương Thúc Mậu, người đã nhảy xuống hồ tự tử để khỏi rơi vào tay giặc Pháp. Cũng như Sắc, sau khi đỗ đạt, Quý từ chối quan trường, ở làng dạy học, bí mật tìm cách lật đổ chế độ bù nhìn ở Huế. Khác với thông lệ, ông không bắt học sinh học thuộc lòng mà tìm cách cho các em hiểu được bản chất nhân đạo của các tác phẩm của Khổng Tử. Trước mỗi giờ học, ông lại thắp hương trước bàn thờ cha ngay trên tường lớp học để khắc sâu tinh thần yêu nước, chiến đấu cho Việt nam độc lập vào tâm trí các học trò của mình. Đáng tiếc là chẳng bao lâu sau lớp học bị đóng cửa vì Quý bỏ làng theo quân khởi nghĩa. Thành theo học một thầy giáo khác, nhưng không chịu nổi kiểu dạy nhồi sọ cổ lỗ, cậu quay về học với bố. Cũng như bạn mình, Sắc không bao giờ khuyến khích học trò học chỉ để đỗ đạt làm quan, mà hãy tìm cách cứu giúp đồng loại. Thành nhận được học vấn không chỉ ở trên lớp học. Bác thợ rèn hàng xóm tên là Diên thường xuyên dạy cậu nghề và dẫn cậu đi săn chim. Những buổi tối, cậu thường cùng bạn bè quây quần quanh bác để nghe kể chuyện. Diên thường kể về những anh hùng dân tộc như Lê Lợi, Mai Thúc Loan. Ông cũng say sưa kể về cuộc chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ trong phong trào Cần Vương, về cuộc tự sát của Vương Thúc Mậu, về sự hy sinh của Phan Đình Phùng. Thành rất xúc động được biết rằng nhiều bà con của cha cậu cũng đã chiến đấu và hy sinh vì chính nghĩa.

Tinh thần yêu nước bắt đầu thấm sâu vào cậu bé. Thành phát hiện ra rằng những quyển sách cậu đọc chỉ nói về lịch sử Trung quốc. Cậu đi bộ ra Vinh để mua sách về lịch sử Việt nam, không đủ tiền, cậu nán lại, học thuộc lòng để có thể về kể lại cho các bạn bè của mình.

Cho đến giờ, Thành chưa có nhiều điều kiện để biết về người Pháp. Cậu chỉ nhìn thấy họ khi còn nhỏ ở Huế, và vẫn thường ngạc nhiên tự hỏi không hiểu sao quan quân lại phải cúi đầu trước người ngoại quốc. Anh em cậu cũng hay lân la chơi với các công nhân Pháp đang xây dựng cầu Tràng Tiền. Thỉnh thoảng họ đùa với cậu và cho kẹo. Về nhà Thành hỏi mẹ, tại sao những người Pháp cũng lại khác nhau? Tại quê nhà Nghệ An, công trình làm đường sang Lào đã làm biết bao thanh niên trong làng phải trở thành thân tàn ma dại, hoặc không bao giờ trở về. Con đường sang Lào, “con đường chết” đã làm cho sự thiếu thiện cảm của Thành với người nước ngoài càng mạnh mẽ thêm.

Một trong những người bạn gần gũi với Nguyễn Sinh Sắc là nhà yêu nước nổi tiếng Phan Bội Châu, quê cách Kim Liên chỉ vài cây số. Mặc dù bố đỗ tú tài và được học kinh điển từ nhỏ, đối với Châu số phận của đất nước quan trọng hơn là quan trường. Khi còn trẻ ông đã tụ tập những thanh niên cùng chí hướng, phất cờ khởi nghĩa tại quê nhà. Khi bị giặc Pháp đàn áp, ông đã phải chạy vào rừng ẩn náu.

Năm 1900, Châu thi đỗ giải nguyên. Không hề có ý định quan trường, ông bắt đầu xây dựng phong trào tại các tỉnh miền Trung. Trong khi đi vận động, Châu thường ghé qua Kim Liên thăm các ông bạn là Nguyễn Sinh Sắc và Vương Thúc Quý. Họ thường trải chiếu ngồi uống rượu, có cậu Thành phục vụ. Thành rất ấn tượng về phong cách lưu loát, nhã nhặn của Châu. Nhờ đã được đọc trước một số tác phẩm của Châu, Thành rất kính trọng lòng yêu nước và chia sẻ sự khinh bỉ của ông với triều đình thối nát ở Huế (3). Châu nghiên cứu các tác phẩm của những nhà cải cách Trung Hoa như Khang Ưu Vị, Lương Kỳ Siêu và tin tưởng rằng Việt nam phải từ bỏ xã hội truyền thống, tiếp thu công nghệ và cách tổ chức xã hội của các nước phương Tây thì mới có thể tồn tại được. Nhưng Châu lại tin rằng chỉ có lớp học giả mới có thể dẫn dắt đến những thay đổi đấy. Ông cũng muốn mượn một số di sản truyền thống để có thể có được sử ủng hộ của nhân dân. Vì thế, khi thành lập Hội Duy Tân năm 1904, ông đã mời hoàng thân Cường Để, một thành viên hoàng gia làm chủ tịch hội.

Cùng với các nhà cải cách Trung hoa, Phan Bội Châu rất ngưỡng mộ mô hình Nhật bản. Hoàng đế Minh Trị đã tụ tập được các tầng lớp ưu tú trong xã hội, thay đổi một cách sâu sắc xã hội Nhật bản. Chiến thắng của Nhật hoàng trước quân đội Nga năm 1905 được coi như là biểu tượng của sức mạnh châu Á trước quân xâm lược châu Âu. Cuối năm 1904, Phan Bội Châu đi Nhật và bắt tay xây dựng trường học tại Yokohama để đào tạo những thanh niên Việt nam yêu nước. Đó là khởi đầu của phong trào Đông Du. Khi quay về Việt nam, Châu đến Kim Liên và đề nghị anh em Tất Thành tham gia Đông Du. Nhưng Thành đã từ chối. Theo một số người, cậu cho rằng dựa vào Nhật để đánh Pháp chẳng khác gì “Đuổi hổ cửa trước, đưa sói vào cửa sau”. Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng đó là quyết định của bố cậu. Trong bản tự truyện của mình, HCM đã giải thích rằng, ông muốn sang Pháp để “nắm được bí quyết thành công của phương Tây ngay tại quê hương của nó (4). Sau đó ít lâu, Thành đề nghị bố cho mình đi học tiếng Pháp. Ông Sắc hơi băn khoăn vì tại thời đó, chỉ có những người chịu làm tay sai cho Pháp mới học tiếng Pháp. Nhưng cuối cùng ông cũng đồng ý, có thể do ảnh hưởng từ các tác phẩm của những nhà cải cách Trung hoa đang thuyết phục nhà Thanh thay đổi. Mặc dù gắn chặt sự nghiệp của mình với nền giáo dục truyền thống, Sắc hiểu rằng các con ông phải thích nghi với những hiện thực mới. Ông cũng thường hay nhắc đến lời dạy của Nguyễn Trãi về việc phải hiểu được kẻ địch mới có thể đánh bại chúng.

Hè năm 1905, Thành bắt đầu học tiếng Pháp với một người bạn của bố tại Kim Liên. Tháng 9, ông Sắc đã xin cho cả hai con mình vào trường dự bị Pháp-Việt tại Vinh. Các trường kiểu này tại các tỉnh miền Trung được thành lập theo quyết định của toàn quyền Dume, nhằm lôi kéo các trí thức trẻ khỏi nền giáo dục Khổng tử, chuẩn bị nhân sự cho bộ máy cai trị. Hai anh em Thành lần đầu tiên được học tiếng và văn hoá của Pháp. Các cậu còn được học chữ quốc ngữ do các nhà truyền giáo sáng lập vào thế kỷ 17 và đang được truyền bá trong giới trí thức tiến bộ.

Tháng 6, năm 1906, Sắc quyết định nhận chức phong của triều đình và đưa cả hai con trai vào Huế. Vẫn như xưa, họ đi bộ nhưng cảhai cậu bé đã lớn nên cũng đỡ vất vả hơn. Các cậu thường tra khảo nhau về các tên tuổi qua các triều đại phong kiến Việt nam (5). Thành phố đã có nhiều thay đổi. Tường thành của kinh đô cổ vẫn soi bóng xuống bờ bắc sông Hương, những cô gái tóc dài tha thướt. Nhưng những cơn bão lớn trong hai năm vừa qua đã để lại nhiều ngôi nhà đổ nát rêu phong hai bên sông. Những ngôi nhà trắng kiểu châu Âu của các cố vấn Pháp cũng đang nhanh chóng thay thế những cửa hàng lụp xụp trong khu thương mại cũ. Ban đầu mấy cha con sống nhờ một người bạn, nhưng rồi họ được phân một căn phòng nhỏ trong trại lính cũ cạnh cửa Đông Ba bên bờ tường phía đông của cấm thành. Họ sống đơn giản, thức ăc chủ yếu là cá muối, vừng, rau quả và gạo rê tiền. Nước uống được sử dụng từ giếng chung hoặc từ con kênh chảy ngang cửa Đông Ba.

Được sự giúp đỡ của Cao Xuân Đức, một quan chức của Hàn Lâm Viện đã giúp ông từ lần trước, Sắc được phân làm thanh tra Bộ Lễ, theo dõi các học sinh của Quốc học. Đây là một chức quan nhỏ so với học vị phó bảng của ông. Các bạn ông đều đã làm đến tri huyện hoặc cao hơn. Chắc chắn là triều đình đã nghi ngờ vào sự trung thành của Sắc khi ông từ chối làm quan.

Thực tế là Sắc không cảm thấy dễ chịu phục vụ trong bộ máy đang thối ruỗng. Ông thường chia sẻ với bạn bè sự cấp thiết của việc cải cách. Không giải thích được quan điểm “trung quân ái quốc” trong hoàn cảnh thực tế, ông khuyên học sinh từ bỏ con đường quan trường. Theo ông, tầng lớp quan lại hiện tại chỉ biết hà hiếp nhân dân. Dễ dàng lý giải được sự thất vọng của Sắc về hệ thống xã hội lúc đó. Mô hình chính quyền nho giáo phụ thuộc rất nhiều vào sự trong sạch về đạo đức của tầng lớp quan lại được tuyển chọn qua thi cử. Hệ thống chỉ có hiệu quả nếu các quan lại áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức như phục vụ xã hội, chính trực và nhân từ, được huấn luyện từ nhỏ, trong việc thực thi quyền lực. Thế nhưng từ cuối thế kỷ 19, sự bạc nhược của triều đình đã dẫn đến sự suy thoái của các thể chế xã hội. Uy tín của Hoàng đế giảm sút nghiêm trọng. Tầng lớp quan lại lợi dụng chức quyền để làm giàu. Ruộng công bị chiếm hữu, nhà giàu lại được miễn thuế.

Một tiếng nói phản kháng quan trọng nữa vào thời điểm đó là Phan Chu Trinh – người đỗ phó bảng cùng năm với Sắc. Trinh sinh năm 1872 tại Quảng Nam, là con út trong một gia đình 3 anh em. Bố ông là quan võ, cũng đã từng tham gia thi cử nhưng không thành, theo Cần Vương và bị đồng đội xử tử vì bị nghi làm phản. Trinh làm việc Bộ Lễ từ năm 1903. Ông đặc biệt quan ngại về nạn ăn hối lộ và bất tài của các viên chức tại nông thôn. Ông đã từng công khai nêu vấn đề này cho các thí sinh tham gia kỳ thi năm 1904. Năm 1905, Trinh từ chức, ông dự kiến tham khảo ý kiến với các nhà nho khác trên toàn quốc về phương thức hành động trong tương lai.

Trinh gặp Châu tại Hồng Kông và theo Châu sang Nhật. Trinh tán thành những cố gắng của Châu trong việc đào tạo cho thế hệ mới nhưng họ bất đồng trong việc sử dụng thành viên của hoàng gia cho phong trào. Trinh cũng cho rằng, tốt hơn hết là thuyết phục Pháp phải tiến hành những cải cách cần thiết cho xã hội Việt nam. Tháng 8 năm 1906, Trinh công bố bức thư cho toàn quyền Paul Beau chỉ ra tình hình nguy kịch tại Việt nam. Trong bức thư, Trinh đánh giá cao những thay đổi mà Pháp mang đến cho Việt nam trong lĩnh vực giao thông và liên lạc. Nhưng ông phản đối việc duy trì một triều đình bù nhìn thối nát, phản đối sự coi thường và khinh bỉ người Việt dẫn đến sự căm thù trong dân chúng. Trinh kêu gọi toàn quyền Pháp tiến hành ngay những cải cách xã hội theo các định chế dân chủ phương Tây. Nhân dân Việt nam sẽ đời đời biết ơn (6).

Bức thư của Trinh gây chấn động lớn trong tầng lớp trí thức Việt nam, đẩy cao sự mâu thuẫn với chính quyền. Chế độ thực dân của Pháp, dưới chiêu bài “khai hoá văn minh”, bóc lột các tài nguyên thiên nhiên và áp đặt lối sống phương Tây, đã tạo nên sự căm thù trong tất cả các tầng lớp xã hội Việt nam lúc đó. Trí thức căm hận trước các cuộc tấn công vào các định chế và chuẩn mực nho giáo. Nông dân rên xiết dưới các loại thuế khoá nặng nề, nhất là thuế rượu, cấm nông dân chưng ruợu gạo và phải mua các loại rượu vang Pháp đắt tiền cho những ngày lễ tết. Công nhân các đồn điền cao su phải dãi nắng dầm mưa và thường là bỏ xác nơi đất khách quê người. Công nhân nhà máy và thợ mỏ cũng chẳng hơn gì, lương thấp, làm ngoài giờ và điều kiện sống thì dưới đáy xã hội. Trinh không phải là người duy nhất tìm kiếm câu trả lời cho sự tồn vong của đất nước ở phương Tây. Đầu năm 1907, một nhóm các trí trức yêu nước đã lập ra Trường Hà nội tự do, hay còn gọi là Đông Kinh Nghĩa Thục, theo mô hình Học viện của nhà cải cách Nhật bản Fukuzawa Yukichi. Mục tiêu của trường là tuyên truyền các tư tưởng tiến bộ của Trung hoa và phương Tây vào tầng lớp thanh niên Việt nam. Đến giữa hè, trường đã mở được 40 lớp với hơn 1000 sinh viên. Phan Bội Châu khi đó vẫn đang ở Nhật bản, tiếp tục tuyển sinh cho chương trình đào tạo của mình và gửi các bài thơ đầy nhiệt huyết về nước. Một trong những bài thơ hay nhất làViệt nam Vong quốc Sử“, hay Lịch sử của một Việt nam mất nước. Đáng buồn, bài thơ lại được viết bằng chứ Hán.

Được một thời gian, chính quyền Pháp nghi ngờ mục đích giáo dục của Đông Kinh Nghĩa Thục và ra lệnh đóng cửa vào tháng 12. Nhưng người Pháp không thể ngăn được các cuộc thảo luận về sự tồn vong của dân tộc trên khắp đất nước. Tại Quốc Tử Giám, Huế, Nguyễn Sinh Sắc dạy các học sinh: làm quan của một xã hội nô lệ còn tệ hơn là nô lệ. Nhưng ông không tìm được lời giải. Sau này, HCM nhớ lại cha ông thường ngửa mặt tự hỏi: Đi về đâu, “Anh, Nhật hay Mỹ?”

Sau khi quay lại Huế, theo lời khuyên của Cao Xuân Đức, Sắc gửi hai con mình vào trường Đông Ba nằm trong hệ thống giáo dục Việt Pháp mới. Trường nằm ngay trước cổng Đông Ba của thành Nội, trên khuôn viên cũ của chợ Đông Ba sau khi chợ được chuyển đi chỗ khác vào năm 1899, có 4 phòng học và văn phòng. Các năm đầu, học sinh được dạy bằng 3 thứ tiếng: Pháp, Hán, Việt. Lên năm trên, tiếng Hán bị hạn chế. Không phải ai cũng đồng tình, nhưng Thành tỏ ra hài lòng. Ngay từ khi ở Vinh, thầy giáo dạy tiếng Pháp của cậu đã dạy: “muốn đánh Pháp phải hiểu Pháp, muốn hiểu Pháp phải biết tiếng Pháp”. Ban đầu, Thành hơi bị lập dị với đôi guốc mộc, tóc dài và bộ quần áo nâu sồng, trong lúc các bạn cậu hoặc khăn đóng, áo dài hoặc đồng phục kiểu phương Tây. Nhưng cậu hoà nhập nhanh. Cậu học cật lực và trong một năm đã hoàn thành chương trình hai năm học.

Mùa thu năm 1907. hai anh em Thành thi đậu vào Quốc học Huế, trường cao nhất trong hệ thống giáo dục Pháp Việt. Trường được thành lập vào năm 1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái, nhưng đặt dưới sự điều khiển của Thống sứ Pháp. Trường có 7 bậc, 4 lớp bậc tiểu học và 3 lớp bậc trung học, chương trình tập trung vào tiếng Pháp và văn hoá. Triều đình muốn dần dần thay thế Quốc Tử Giám để đào tạo tầng lớp cai trị mới. Vì thế dân địa phương thường gọi là: “Trường thiên đường”.

Tuy nhiên điều kiện sống và học tập ở đó khó có thể gọi là “thiên đường”. Nhà chính vốn là một trại lính, mái lợp rạ, nay trở nên dột nát và xiêu vẹo. Xung quanh có một số túp lều tre. Cổng trường được xây theo kiểu mái Trung hoa hai tầng hướng ra đại lộ Jules Ferry. Thành phần học sinh khá đa dạng. Một số theo kiểu tự học, được học bổng như Thành. Số khác con nhà giàu có xe đưa đón. Cũng như các trường khác, thầy giáo rất nghiêm khắc, không chần chừ khi dùng roi vọt. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là ông Nordemann, lấy vợ Việt nam và nói được tiếng Việt. Hiệu trưởng tiếp theo là ông Logiou, đã từng là lính lê dương.

Bạn bè nhớ lại Thành thường ngồi cuối lớp, ít khi để ý đến những gì xảy ra trong lớp. Nhưng cậu nổi tiếng với nhiều câu hỏi đôi khi có tính khiêu khích, nhất là những câu hỏi về ý nghĩa của những tác phẩm của các nhà triết học Ánh Sáng Pháp. Cậu rất giỏi ngoại ngữ và được các thầy cô quý. Một trong những thầy giáo có nhiều ảnh hưởng với Thành là Lê Văn Miên, tốt nghiệp trường Mỹ thuật Paris. Tuy thường xuyên đả kích chế độ thực dân, Miên có một kiến thức sâu rộng về văn hoá Pháp. Ông dạy các học sinh về những người Pháp tốt hơn ở nước Pháp, thổi vào tâm hồn các em một thành phố Paris vĩ đại với các bảo tàng và thư viện. Tuy học rất giỏi, nhưng giọng nói và điệu bộ nhà quê của Thành thường bị các bạn trêu chọc. Một lần, không giữ được bình tình cậu đã thọi cho một kẻ trêu chọc một quả. Thầy giáo đã khuyên cậu, tốt hết là hãy dồn sức vào việc tìm hiểu những vấn đề thế giới. Quả vậy, Thành quan tâm nhiều đến chính trị. Sau giờ học, cậu thường tụ tập ngoài bờ sông, chờ đợi những tin tức của Phan Bội Châu, cùng nhau đọc thơ: “Á tế Á ca”, bài thơ về một châu Á tự do khỏi ách nô lệ da trắng. Một động lực thúc đẩy lòng yêu nước của Thành ở trường là thầy Hoàng Thông. Thông thường dạy học sinh: mất nước nghiêm trọng hơn mất nhà, mất nước là mất tất cả. Thành thường đến nhà thầy đọc sách. Một số nhà nghiên cứu còn cho rằng Thông đã cho Thành tiếp xúc với một số nhóm khởi nghĩa.

Cuối năm 1907, tình hình ngày càng trở nên căng thẳng. Vua Thành Thái lên ngôi từ năm 1889 đã buộc phải thoái vị vì bị nghi ngờ có liên quan đến quân nổi loạn chống Pháp. Tuy nhiên vị vua kế vị 8-tuổi càng có tư tưởng chống Pháp hơn. Theo gương Hoàng đế Minh trị Nhật bản, ông lấy hiệu là Duy Tân, nhằm mục đích mang lại cách tân cho đất nước.

Tuy nhiên đại đa số các tầng lớp tiến bộ Việt nam cho rằng đã quá muộn để có thể hy vọng gì đó ở triều đình phong kiến. Nguyễn Quyền ở trường Hà nội Tự do đã viết một bài thơ kêu gọi đồng bào cắt bỏ mái tóc dài búi tó, như một cử chỉ đoạn tuyệt với quá khứ phong kiến. Thành và các bạn thường đi cắt tóc rong, vừa đi vừa hát:

Tay lược, tay kéo, Cắt! Cắt! Cắt đi sự ngu dốt, cắt đi sự trì trệ, Cắt! Cắt! Từ đầu năm 1908, sự bất bình bắt đầu lan rộng trong nông dân. Giữa tháng Ba, đám đông nông dân tụ tập tại phủ tri huyện tại Quảng Nam và tiến về Hội An. Họ đòi miễn các loại sưu cao thuế nặng, và được sự ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp trí thức. Phong trào bắt đầu lan rộng ra các tỉnh duyên hải miền Trung và có dấu hiệu bạo lực. Triều đình đem quân đàn áp bắt bớ, sau khi các nông dân biểu tình chiếm một số công sở, giam giữ một số quan lại. Đôi khi đoàn biểu tình bắt và cắt trọc những người qua đường. Người Pháp gọi đây là “Cuộc nổi dậy tóc ngắn”

Đến cuối mùa xuân, những làn sóng nổi dậy đã dội đến chân thành Huế. Trong tuần đầu tháng Năm, dân làng Công Lương biểu tình chống thuế. Viên quan đến xử lý bị bắt trói cho vào cũi, chở đến cổng Thống sứ Pháp. Ngày 9/5, khi đoàn biểu tình đi qua chỗ các sinh viên, Thành đã bất ngờ kêu gọi hai người bạn của mình tham gia để làm phiên dịch cho các nông dân. Cậu lật ngửa chiếc mũ nan, báo hiệu vứt bỏ “status quo” của mình. Trước sức ép của đoàn biểu tình, Thống sứ Lavecque phải tiếp đoàn đại biểu nông dân có cậu học sinh Nguyễn Tất Thành làm phiên dịch. Cuộc đàm phán thất bại, kể cả sau khi vua Duy Tân đã can thiệp. Quân đội Pháp đã xả súng lên cầu Tràng Tiền làm hàng trăm người chết và bị thương. Đêm đó Thành phải đi trốn. Các bạn cậu chẳng ai có thể ngờ rằng, sáng hôm sau, khi tiếng chuông báo hiệu giờ học vừa dứt, cậu lại xuất hiện, ngồi đúng vào vị trí của mình. Nhưng cũng không được lâu. Đúng 9:00, một sĩ quan cảnh sát Pháp xuất hiện và sau khi nhận ra Thành, đã yêu cầu ban giám hiệu đuổi ngay kẻ phản nghịch ra khỏi trường. Trong những tuần tiếp theo, tình hình tiếp tục phức tạp. Cuối tháng sáu, những người theo Phan Bội Châu tiến hành cuộc đầu độc các sĩ quan Pháp tại Hà nội sau đó khởi nghĩa cướp chính quyền. Tuy nhiên do có kẻ phản bội, cuộc binh biến bất thành. Quân Pháp đàn áp dã man, 13 người bị xử tử, nhiều người bị lưu đày. Hốt hoảng, triều đình hạ lệnh bắt tất cả các trí thức yêu nước. Phan Chu Trinh cũng bị bắt và bị đưa về Huế xử. Nhờ có Thống sứ Pháp can thiệp, Trinh thoát chết nhưng bị đày đi Côn Đảo. Từ năm 1911, Trinh sống lưu vong tại Pháp.

Do hành động của hai cậu con trai, Sắc bị khiển trách và bị đưa về làm tri huyện Bình Khê, Bình Định. Đây là một vùng không phải là quá heo hút, nhưng là nơi xuất phát của khởi nghĩa Tây Sơn chống lại nhà Nguyễn. Bởi thế triều đình thường đưa những viên quan lại không vừa ý về đó. Anh trai Thành là Khiêm cũng bị theo dõi, đến năm 1914 thì bị xử về tội mưu phản. Nhà chức trách còn tra hỏi cả chị gái Thành ở Kim Liên vì nghi ngờ về tội chứa chấp 1 số phần tử mưu phản.

Sau khi bị đuổi khỏi trường, Thành mất tích mấy tháng. Có tin đồn là anh đi xin việc một số nơi nhưng đều không được nhận. Nhưng chắc chắn là anh không quay lại quê vì đã bị theo dõi. Sau đó, Thành quyết định đi bộ vào phía Nam để tránh sự theo dõi của triều đình. Cũng có thể vào thời điểm đó anh đã quyết định xuất dương tìm đường cứu nước tại phương Tây. Điạ điểm thuận tiện nhất vào thời điểm đó chỉ có thể là cảng Sài gòn. Tháng 7/1909 Thành dừng lại tại Bình Khê để gặp cha mình. Cuộc gặp gỡ không mấy vui vẻ với anh vì ông Sắc đang trầm uất, suốt ngày uống rượu. Sắc đã mắng nhiếc và cho cậu con trai mấy gậy.

Sau đó Thành đến Quy Nhơn ở nhờ nhà một người bạn của cha mình là Phạm Ngọc Thọ. Theo lời khuyên của Thọ, Thành đâm đơn thi vào chân giáo viên của một trường học địa phương dưới tên là Nguyễn Sinh Cung. Chủ tịch hội đồng thi vốn là giáo viên cũ của cậu tại trường Đông Ba nên rất quý cậu. Tuy nhiên không hiểu sao chính quyển tỉnh biết được thành tích bất hảo của Thành và tên anh bị đưa ra khỏi danh sách dự thi (7). Không thất vọng, Thành đi tiếp đến Phan Rang gặp Trương Gia Mỗ, đồng nghiệp của cha cậu ở Huế và cũng là bạn của Phan Chu Trinh. Chủ nhà đã thuyết phục Thành chậm lại chuyến xuất ngoại của mình và xin cho anh một chân dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết). Vì đã cạn tiền, Thành chấp nhận. Trước khi đến Phan Thiết, anh phải chứng kiến một cảnh tượng đau lòng khi các sĩ quan Pháp cười ha hả bắt các công nhân cảng Việt nam phải nhảy xuống nước trong giông tố. Nhiều người đã chết.

Trường Dục Thanh được các nhà yêu nước địa phương thành lập theo mô hình trường Tự do Hà Nội (Đông Kinh Nghĩa Thục). Ngôi nhà là sở hữu của một nhà thơ bản xứ, nằm ở bờ nam sông Phan Thiết. Trường do hai người con của nhà thơ điều hành. Cổng trường kẻ rõ khẩu hiệu: “Đoạn tuyệt với cổ hủ, đem tới văn minh”. Ngôn ngữ chính thức là quốc ngữ, một số môn được dạy bằng tiếng Pháp và tiếng Hán. Thành đến Phan Thiết ngay trước Tết nguyên đán năm 1910, và nhận trách nhiệm dạy tiếng Hán và quốc ngữ. Anh còn kiêm luôn chân dạy võ. Theo trí nhớ của các học viên, thầy giáo Thành rất được ngưỡng mộ. Mặc bộ bà ba trắng, đi guốc mộc, Thành dạy theo phong cách của Socrat khuyến khích các học sinh đưa ra những ý tưởng của riêng mình. Thành cùng các học sinh thăm quan các vùng phụ cận, lên rừng, xuống biển. Khung cảnh khá điền viên ngoài việc một xưởng nước mắm ở khá gần với những hương vị đặc biệt làm cho học sinh khó tập trung.

Chương trình giảng dạy tại Dục Thanh mang nội dung yêu nước khá rõ ràng. Thành thường mở đầu bài giảng của mình bằng bài thơ từ trường Tự do Hà Nội Ôi, thượng đế có thấu nồi khổ đau

Dân ta mang xiềng xích, héo mòn trong tai ương

Bởi thế chủ đề tranh cãi không bao giờ là mục tiêu giành độc lập mà là bằng cách nào. Các thầy giáo trong trường chia làm 2 phe. Một bên ủng hộ Phan Chu Trinh với đường lối cải cách, bên kia ủng hộ Phan Bội Châu với chủ trương dùng vũ lực và dựa vào Nhật bản. Thành không chọn phe, cậu biết rằng cậu phải hiểu tận cùng tình thế trước khi quyết định.

Đầu năm 1911, trước khi năm học kết thúc, Thành biến mất. Nguyên nhân chính xác về sự ra đi của Thành không rõ ràng, nhưng có thể có liên quan đến tin cha cậu chuyển vào Cochin China. Trước đó, đầu năm 1910, Sắc bị triệu hồi khỏi Bình Khê. Trong thời gian làm tri huyện ở đó, ông nổi tiếng là ủng hộ người nghèo, tha cho các nông dân tham gia biểu tình, khoan dung với những tội hình sự lặt vặt. Ông cho rằng lố bịch để mất thời gian vào những việc đó khi nước đã mất. Ngược lại ông rất cứng rắn với bọn nhà giàu và có thế lực. Sau khi tẩn 100 roi vào mông một nhân vật thế lực trong vùng và sau đó tên này lăn ra chết, Sắc bị gọi về Huế, hạ 4 bậc, phạt đánh roi và cách chức. Theo lời bạn bè, Sắc cũng chẳng buồn. Ông nói: “nước đã mất, liệu có thể có nhà được không?” Đầu năm 1911, ông xin phép chính quyền Pháp được đến Cochin China nhưng bị từ chối. Hồ sơ của cảnh sát Pháp viết:

“Nguyễn Sinh Sắc… bị nghi ngờ là đồng loã với Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu. Con trai y, đang học ở Huế bỗng nhiên mất tích, nghi rằng đang ở Cochin China. Sắc chắc muốn gặp con và hội kiến với Trinh.” (8).

Nhưng Sắc cũng chẳng đợi được cấp phép, ngày 26/2/1911, ông tới Tourane (Đà nẵng) và lên tàu đi Sài gòn. Đến nơi, ông tìm được một chân dạy tiếng Hán và bán thuốc Nam để kiếm sống.

Liệu Thành có biết được tất cả thông tin về cha cậu và rời Phan Thiết để đi tìm cha? Một người bạn của Thành ở Dục Thanh cho biết là cậu đã chia sẻ với anh ta là sẽ cùng ăn tết với cha. Hay cậu đã biết mình bị theo dõi và quyết định lẩn trốn? Ngay sau khi Thành đi, một viên chức Pháp có đến trường tìm hiểu tung tích cậu. Thành đi chỉ để lại một mảnh giấy nhỏ, nhờ các bạn trả lại sách cho thư viện. Chẳng bao lâu sau, trường Dục Thanh cũng bị đóng cửa.

Sài gòn là miền đất hoàn toàn mới lạ với cậu thanh niên Nguyễn Tất Thành. Một thời chỉ là thành phố nhỏ trên bờ sông Sài gòn, thành phố đã lớn rất nhanh và vượt cả cố đô Hà Nội với dân số lên tới hàng trăm ngàn. Sự lớn mạnh của Sài gòn chủ yếu dựa trên lĩnh vực kinh tế. Ở đây đã hình thành cả một lớp thương nhân người Âu, Việt và người Hoa định cư trên khu vực này từ thế kỷ trước. Lĩnh vực làm ăn chủ yếu là khai thác các đồn điền cao su dọc biên giới Campuchia (cây cao su được đưa vào Việt nam từ Brazil vào cuối thế kỷ 19) và canh tác lúa trên những cánh đồng rộng lớn đồng bằng Nam Bộ. Trong 25 năm đầu của thế kỷ 20, Nam Bộ đã đứng thứ ba trên thế giới về xuất khẩu gạo. Ban đầu Thành sống trong một vựa lúa cũ. Chủ vựa lúa là Lê Văn Đạt (9) còn có xưởng sản xuất chiếu cói và có quan hệ với các thành viên của trường Dục Thanh. Thành tìm được cha, lúc đó đang ở tạm trong một nhà kho cũ. Qua các mối quen biết của Dục Thanh, Thành tìm được một ngôi nhà ở phố Châu Văn Liêm gần cảng Sài gòn. Được cha khuyến khích, Thành bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi của mình. Vào tháng Ba, cậu đăng ký tham gia một lớp thợ mộc và sắt, chắc là để kiếm tiền cho chuyến đi. Sau khi được biết phải mất ba năm mới có thể thành nghề kiếm tiền, Thành bỏ học, đi bán báo cùng với một người bạn từ Kim Liên, tên là Hoàng.

Chỗ ở của Thành ở gần bến Nhà Rồng nơi các con tàu xuyên đại dương thường xuyên lui tới. Thành quyết định tìm việc làm trên một trong những con tàu đó để ra nước ngoài. Thời đó chỉ có hai hãng tàu hoạt động tại cảng Sài gòn là Messageries Maritimes và Chargeurs Reunis. Chỉ có hãng Reunis cần tuyển người địa phương cho một số vị trí phụ bếp và bồi bàn. Thông qua một người bạn ở Hải phòng đang làm trong hãng, Thành đã có được cuộc hẹn phỏng vấn với thuyền trưởng tàu Đô đốc Latouche Treville vừa đến từ Tourane. Ngày 2/6, một anh thanh niên tên là Ba xuất hiện ở cầu tàu. Thuyền trưởng Louis Eduard Maisen e ngại nhìn khuôn mặt thông minh nhưng thân hình khá mảnh khảnh của anh. Ba quả quyết là việc gì anh cũng làm được và đã thuyết phục được Maisen cho một chân phụ bếp. Ngày hôm sau, anh bắt tay ngay vào công việc rửa bát, giặt quần áo, lau sàn, nhặt rau và đốt lò. Ngày 5/6, “Đô đốc LT” hú còi rời sông Sài gòn ra biển Nam Trung Hoa, thẳng tiến tới Singapore lúc đó đang thuộc Anh. Tại sao Nguyễn Tất Thành lại quyết định rời đất nước? Trong bình luận gửi nhà báo xôviết Ossip Mandelstam nhiều năm sau, HCM đã viết “Khi tôi 13 tuổi, lần đầu tiên tôi nghe thấy những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Lúc đó tôi nghĩ mọi người da trắng đều là người Pháp. Và vì người Pháp viết ra những từ đó, tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp để có thể hiểu được ý nghĩa đằng sau những từ đó“. Muộn hơn, HCM cũng đã trả lời tương tự cho câu hỏi của phóng viên Mỹ Anna Luise Strong:

“Nhân dân Việt nam, bao gồm cả cha tôi, thường xuyên tự đặt câu hỏi, ai sẽ giúp chúng ta cởi bỏ ách thống trị của Pháp. Nhiều người nói Nhật bản, có người nói Anh, lại có người nói Mỹ. Tôi thấy tôi phải ra nước ngoài. Sau khi đã tìm hiểu họ sống như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”

Các nhà viết sử ở Hà nội cũng thường nhắc đến những hồi ức của HCM về việc rời đất nước như một sứ mệnh cứu nước. không nghi ngờ gì, khi rời Sài gòn tháng 6 năm 1911, cậu thanh niên Nguyễn Tất Thành đã hoàn toàn nhận thức được những bất công mà đất nước mình đang phải gánh chịu và trong nước không có lời giải. Biết đâu, anh có thể tìm kiếm được những lời giải ở nước ngoài.

——————————–

1. Thông tin chính xác về ngày sinh của Hồ thường gây mâu thuẫn. Ông thường xuyên khai những ngày sinh khác nhau, có thể với mục đích gây rối cho chính quyền. Trong một bản sơ yếu lý lịch viết tại Nga, ông khai sinh năm 1903, trong bản khác, ông lại khai 1894. Tuy một số người vẫn còn nghi ngờ về năm sinh 1890, nhưng những chứng cứ về thời thơ ấu, cũng như chuyến đi của cả gia đình vào Huế năm 1895 làm cho quan điểm này đang được công nhận hơn cả. Tuy nhiên ngày sinh thì vẫn có nhiều nghi ngờ. Có ý kiến cho rằng, ngày 19/5 được chọn để trùng với ngày thành lập Việt minh. Có ý kiến khác, đó là ngày đoàn đại biểu Pháp đển Hànội năm 1946. Tại thời điểm H ra đời, chắc chắn là nông dân Việt nam vẫn dùng lịch Âm và khả năng cao là chính H cũng không bao giờ biết rõ ngày sinh của mình.

2. Hàng xóm đã dỗ cậu bé Cung đứng khóc trước hiên nhà, vì theo luật không được thể hiện sự đau khổ gần Kinh thành.

3.Trong một lần uống rượu tại nhà Sắc, Châu đã đọc một bài thơ chế nhạo việc đọc “sách thánh hiền”. Hai mươi năm sau, khi gặp lại Châu, Q đã đọc lại bài thơ đó cho ông này.

4. Nguyễn Đẵc Xuân Thời niên thiếu của Bác Hồ, cho rằng Châu đã gặp Thành trên một chuyến đò. Kobelev cho rằng, chẳng qua Thành mượn cớ phải xin phép bố để từ chối lời mời.

5. Hai anh em Thành có quan điểm “chống chính quyền” rõ ràng, nên thường xuyên bị nhà trường kỷ luật.

6. Thư Phan Chu Trinh.

7. Thi vào trường Quy nhơn.

8. Hồ sơ Pháp.

9. Can kiem tra lai Dat (Đạt hay Dật).

>> Phần 2Con ngựa hoang

Tác giảWilliam J. Duiker
Dịch giảNguyễn Thành Nam
TEch24.vn

Chia sẻ:

https://tennguoidepnhat.net/2012/03/29/h%e1%bb%93-chi-minh-m%e1%bb%99t-cu%e1%bb%99c-d%e1%bb%9di-ph%e1%ba%a7n-1/?fbclid=IwY2xjawSWZ2RleHRuA2FlbQIxMABicmlkETFtREtHUEFVQW9JamZiRkUzc3J0YwZhcHBfaWQQMjIyMDM5MTc4ODIwMDg5MgABHseFB5VdTbk4DfpHuEuvapW4dRlUua5A20oUfvjmnffzixkpKC-9tTGM6lRP_aem_SPSagCog0Jehn2h1zGTY3w

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.