Một bài văn bia.
Sau đó là một bài giới thiệu chung.
Một bài văn bia.
Sau đó là một bài giới thiệu chung.
Nhà sư Hương Hải là một nhân vật lịch sử đặc biệt: quê gốc Nghệ An, trưởng thành và đầu Phật ở Đàng Trong (gắn với chùa Hải Tạng danh tiếng ở xứ Quảng), rồi lại ra Đàng Ngoài và được chúa Trịnh trọng thị.
Tư tưởng của ông là Thiền - Tịnh - Mật song hành.
Ngôi chùa gắn bó với ông ở Đàng Ngoại là chùa Nguyệt Đường.
Thế cục Đại Việt ở nửa cuối thế kỉ XVIII chỉ còn hai đàng, tức Đàng Ngoài và Đàng Trong. Chúng tôi gọi là Lê mạt (thời kì cuối của nhà Lê) - xem luận giải của nhà lịch học Lê Thành Lân và các bài viết phân định về "Lê trung hưng" và "Lê mạt" của nhóm chúng tôi (một số đã đăng lại trên Giao Blog).
Nước Việt gồm có Ba Đàng, tức Đàng Trên - Đàng Trong - Đàng Ngoài, là sử quan của tôi (chủ nhân Giao Blog). Chủ trương này thay cho sử quan nước Việt thời đó chỉ có Hai Đàng, là Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Cụ thể thêm về Ba Đàng, gồm: Đàng Trên là nhà Mạc ở Cao Bằng (vương quốc Cao Bằng); Đàng Ngoài là vua Lê chúa Trịnh (vương quốc Thăng Long); Đàng Trong là chúa Nguyễn (vương quốc Quảng Nam).
Sử quan Ba Đàng này, tôi đã phát biểu từ nhiều năm nay, bắt đầu khoảng từ năm 2008, có nhiều bài viết học thuật đã đăng trên các tạp chí chuyên ngành hay sách vở từ 2010 đến nay. Ví dụ một bài trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (Viện Sử học - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), hay một bài in trong sách gần đây. Xem các ảnh đính kèm.
Theo hai tác giả Võ Vinh Quang và Nguyễn Đình Đính thì ở hai làng Dã Lê Chánh và Dã Lê Thượng có một "Miếu Bà Vàng".
"Miếu Bà Vàng" là cách gọi của nhân dân vùng đó, cho ngôi miếu thờ có thờ công nương Ngọc Vạn.
Hai tác giả thì luận giải là "Bà Vàng" là cách gọi tránh tên của Ngọc Vạn (xem bài cụ thể ở dưới).
Còn tôi thì cho rằng "Bà Vàng" là cách gọi phiếm chỉ, dành cho những người phụ nữ thuộc vào phạm trù hoàng gia, hoàng tộc.
Trong thực tế, ta sẽ thấy có cách gọi "Vua Vàng", "Bà Vang", "Nhà Vàng"... thì các chữ "Vàng" đó là gắn với hoàng gia, hoàng tộc.
Ở xuất bản hơn 10 năm về trước, khi nói về ba đàng (Đàng Ngoài, Đàng Trong, Đàng Trên), tôi đã đưa nhanh khái quát về sử dụng niên đại của ba đàng như sau:
- Đàng Ngoài và Đàng Trong, về thực chất, như hai vương quốc, nhưng Đàng Trong không đặt niên hiệu riêng, mà vẫn sử dụng niên hiệu của vua Lê ở Đàng Ngoài. Cả hai vương quốc đều tính thời gian chung, căn cứ theo niên hiệu của vua Lê (ví dụ: Vĩnh Trị, Vĩnh Khánh, Cảnh Hưng,...).
- Chỉ có Đàng Trên của các vua nhà Mạc là có niên hiệu riêng. Đàng Trên tính thời gian theo lịch của riêng mình, theo niên hiệu của các vua nhà Mạc đang trị vì: Càn Thống, Long Thái, Thuận Đức, Vĩnh Xương (xem lại trên Giao Blog, ở đây hay ở đây).
Bây giờ, xem châu phê của các chúa Nguyễn (trong triển làm "Bảo đạc trường minh寶鐸長鳴" tại Huế, đang diễn ra, gắn với Thiền phái Liễu Quán danh tiếng) thì thấy rõ niên hiệu vua Lê xuất hiện trong văn thư chính thức của hệ thống hành chính Đàng Trong.
7 năm trước, vào tháng 5 năm 2015, Giao Blog đã điểm tin về miếu Thanh Cẩm thờ một vị tiến sĩ triều Mạc đã xả thân cứu vua Mạc (xem lại ở đây).
Chuyện được chép vào một bản Việt điện u linh, cũng được chép vào Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ - Nguyễn Án.
Mình sắp công bố một bài viết học thuật về Đàng Trên.
Đại khái, về Đàng Trên, trên Giao Blog thì đọc nhanh ở đây hay ở đây.
Sử quan của mình hiện nay là ba Đàng (tức Đàng Trong, Đàng Ngoài, Đàng Trên) mà không phải hai Đàng như quan niệm trước nay.
Điều hiện nay chưa rõ là vào nửa cuối thế kỉ XVII, Ki-tô giáo đã có mặt ở Đàng Trên hay chưa. Tư liệu quá thiếu thốn, hiện chưa làm sao để có một chút gợi ý nào.
Dĩ nhiên, từ hồi đó, giáo sĩ Đắc Lộ đã mấy lần muốn vượt lên Cao Bằng để tham quan. Nhưng bộ máy an ninh của Đàng Ngoài đã biết, tìm cách ngăn trở. Tư liệu về việc này thì rất rõ ràng.
Đặt một entry này để sưu tầm những cái nhìn tổng quan về lịch sử Ki-tô giáo tại Việt Nam.
Mở đầu là một tóm tắt khá thú vị của học giả Trần Quốc Anh - ông đưa lên Fb cá nhân vào ngày hôm nay.
Lúc đó, Đại Việt hình thành thế chân vạc gồm Ba Đàng, là Đàng Ngoài - Đàng Trong - Đàng Trên.
Đào Duy Từ đã bỏ Đàng Ngoài (vua Lê chúa Trịnh) mà vào tìm và giúp minh chủ ở Đàng Trong (chúa Nguyễn). Một số người giúp việc quan trọng cho chúa Nguyễn lúc đó lại xuất thân từ Đàng Ngoài (ví dụ như Đào Duy Từ) và Đàng Trên (tức Cao Bằng, lúc đó nhà Mạc vẫn cai quản). Nhóm xuất thân từ Đàng Trên thì đáng chú ý nhất là con cháu Mạc Cảnh Huống - sau được ban họ Nguyễn (rồi thành Nguyễn Hữu).
"Ngọa Long cương vãn" tương truyền là thơ quốc âm (chữ Nôm) theo thể lục bát mà Đào Duy Từ đã dâng lên chúa Nguyễn. Chúa đã khởi dụng họ Đào nhờ bài vãn danh tiếng này.