Chữ "Bà chúa Liễu Hạnh" (nguyên ghi bằng chữ quốc ngữ như vậy) đã có trong tư liệu thập niên 1750.
1. Thập niên 1750 là đáng quan tâm, ngang với các bản sắc phong của triều đình Lê mạt mang niên đại Cảnh Hưng cho hệ thần Liễu Hạnh công chúa.
Chữ "Bà chúa Liễu Hạnh" (nguyên ghi bằng chữ quốc ngữ như vậy) đã có trong tư liệu thập niên 1750.
1. Thập niên 1750 là đáng quan tâm, ngang với các bản sắc phong của triều đình Lê mạt mang niên đại Cảnh Hưng cho hệ thần Liễu Hạnh công chúa.
Cụ Đặng Thái Phương 鄧太滂 là người cùng quê với các cụ: Tả Ao, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ. Cụ sinh khoảng năm 1674 và thọ ngoài 80 tuổi, nên tạm định là mất khoảng năm 1760.
Xưa ta gọi đó là "huyện Nghi Xuân" thuộc châu Hoan. Cụ Đặng Thái Phương cũng ở làng Uy Viễn của cụ Nguyễn Công Trứ, nên là tiền bối của cụ Trứ.
Công bố đặc biệt, lần đầu tiên trên không gian mạng, nhân quốc khánh 2024.
Rất nhiều năm nay, có lẽ phải tính bằng đơn vị hàng chục năm, các cơ quan quản lí chưa từng thấy trực tiếp bộ sắc phong Đền Bà Kiệu này. Thậm chí, có đồn đại từ các cơ quan rằng, bộ sắc đã không còn giữ được !
Chúng tôi khẳng định: bộ sắc vẫn được bảo quản rất tốt tại Hà Nội, bởi gia đình thủ nhang Đền Bà Kiệu (theo gia phả, đang là đời thủ nhang thứ 10 và 11).
Sau công bố nhanh này, vào ngày quốc khánh 2024, chúng tôi sẽ công bố chính thức theo tiêu chuẩn học thuật.
Về đền Bà Kiệu (Huyền Chân từ) ở khu vực trung tâm của thủ đô Hà Nội đã mấy trăm năm thờ phụng Hệ thần Liễu Hạnh công chúa, trên Giao Blog, đọc lại ở đây hay ở đây.
Hiện nay, nhà đền có lưu giữ một cuốn ngọc phả bằng chữ Hán Nôm, bản in khắc gỗ, có tiêu đề Huyền Chân linh từ ngọc phả. Tôi đã trực tiếp xem và khảo sát nguyên bản.
Ở đây, đưa nhanh một ít trang trong ngọc phả nói về các đời "thủ nhang" của ngôi đền. Nguyên bản ghi là "thủ hương" (nghĩa đen là "giữ hương", cũng tức là "thủ nhang" theo cách gọi chung).