Nghi vấn đã được nêu vào dịp ngày 17/2 năm 2019, trên Giao Blog, ở đây.
Bây giờ đọc lại và nêu lại.
Nghi vấn đã được nêu vào dịp ngày 17/2 năm 2019, trên Giao Blog, ở đây.
Bây giờ đọc lại và nêu lại.
Bây giờ, phải trở lại một vấn đề nền tảng cho toàn bộ ngày 30/4/1975 tại Dinh Độc Lập, đó là: giờ. Giờ tính, bây giờ phải qui hết ra "giờ Sài Gòn" cho chuẩn (tính lại "giờ Hà Nội" sau đó).
Trong gần 20 năm, từ 1954 đến 1975, giờ Hà Nội là theo chuẩn giờ Đông Pháp (Đông Dương thuộc Pháp) trước đây, tức múi giờ GMT+7 (tức UTC+7). Còn giờ Sài Gòn thì sớm lên 1 tiếng, cho cùng múi giờ với Hồng Kông và Đài Loan, tức múi giờ GMT+8 (tức UTC+8).
Hai nước, nên phải có hai múi giờ khác nhau (hệt như Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên, về giờ của hai nước Triều Tiên thì trên Giao Blog đã đề cập đến ở đây).
Ví dụ: Hà Nội đang là 7h sáng, thì tại Sài Gòn sẽ là 8h sáng.
Ví dụ: Hà Nội đang là 7h tối, thì tại Sài Gòn sẽ là 8h tối.
Có một tạp chí của quân đội mang tên Văn hóa quân sự.
Dưới là bài của nhóm tác giả Nguyễn Văn Trường bàn về "giá trị văn hóa quân sự Việt Nam" được tỏa sáng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4 năm 1975.
Ở một bài trước, tôi đưa nội dung cuộc phỏng vấn thực hiện vào năm 1981 đối với đại tá Bùi Tín (1927-2018). Có nguyên video màu, hình ảnh và âm thanh đều rất tốt, xem lại ở đây.
1. Khi có mặt tại Dinh Độc Lập vào ngày 30/4/1975, quân hàm của cụ Bùi Tín là "thượng tá" - cũng là cao hơn cấp bậc "trung tá" của cụ chính ủy anh hùng Bùi Văn Tùng, và dĩ nhiên cao hơn hẳn cụ "đại úy" anh hùng Phạm Xuân Thệ. Thấp hơn về cấp bậc thì thấp hơn thiếu tướng Nam Long (phái viên của Bộ Quốc phòng lúc đó) và đại tá Nguyễn Công Trang (Phó Chính ủy Quân đoàn 2 lúc đó).
Dĩ nhiên, trong Dinh Độc Lập lúc đó, cấp "đại tướng" thì chỉ có cụ Dương Văn Minh. Sau này, khi xem các phân tích bằng căn cứ cụ thể thì thấy cụ "đại tướng" này lại rất "tâm đầu ý hợp" với một sĩ quan cấp thấp hơn mình rât nhiều là "đại úy" Phạm Xuân Thệ. Các căn cứ đều cho thấy, từ khi bị bắt sống trong Dinh Độc Lập, bị áp giải sang Đài Phát thanh Sài Gòn và tuyên bố đầu hàng tại đó, rồi được áp giải trở lại Dinh Độc Lập (để chuẩn bị bàn giao lại cho các lãnh đạo cấp cao của Quân đoàn 2 đã có mặt ở đó), thì nhất cử nhất động, cụ đại tướng Dương Văn Minh đều ngó trước ngó sau thông qua đại úy Phạm Xuân Thệ (lúc nào cũng lăm lắm chiếc búa của Thạch Sanh - tức khẩu K54 của mình, ngoài ra còn có rất nhiều K54 và AK của cả nhóm).
Một nét nghĩa "anh hùng" của đại úy Phạm Xuân Thệ ở thời khắc đó, có thể tóm tắt qua cấp bậc, mang tính vui vui vậy.
Hình ảnh anh hùng cụ thể chính là đó đấy. Không phải tìm đâu xa.
Tiếng Việt được sử dụng trong ngày 30/4/1975, dù Bắc dù Nam, rất chuẩn xác. Phải chuẩn xác cao độ, vì sai một li đi một dặm. Tiếng Việt lúc đó đóng vai trò như là một nhân vật đặc biệt - nhân vật phải truyền đạt một cách chính xác và nhanh chóng quan điểm và ứng đối của hai bên. Hai bên phải giằng co nhau từng miếng một, bằng một thứ tiếng Việt chuẩn xác, nếu không chuẩn xác sẽ mang tới những hậu quả khôn lường.
Tuần tự giằng co bằng tiếng Việt chuẩn xác như sau (đọc từ 1 đến 10).