Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách 晴耕雨讀
Hiển thị các bài đăng có nhãn nam-việt-quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nam-việt-quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

03/10/2025

Người đầu tiên đặt quốc hiệu "Đại Việt" năm 917, chính là anh hùng dựng nghiệp đế ở Phiên Ngung (Quảng Châu)

Người anh hùng đó là Lưu Cung, vào năm 917.

Lưu Cung là người Hán, xưng đế vào năm 917, tại đất Phiên Ngung (Quảng Châu ngày nay). Tên nước vào năm 917, do Lưu Cung lập nên, được đặt là "Đại Việt".

Bởi vậy, người đầu tiên đặt quốc hiệu "Đại Việt", rõ ràng không phải người Việt. Mà trên thực tế, là một người Hán.

Sau đó, Lưu Cung lấy lí do mình cũng mang họ Lưu của Lưu Bang (tổ nhà Hán), mà đã đổi tên nước thành "Hán" (sau này, sử học quen gọi là "Nam Hán").

Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán vào năm 938 trên sông Bạch Đằng, thì một cách nói khác, chính là: tiết độ sứ Ngô Quyền đã đánh tan quân Đại Việt trên sông Bạch Đằng vào năm 938.

Đại khái, nội dung đó, đã được tôi trình bày trong một bài viết mới công bố gần đây (tháng 5 năm 2025).

08/07/2025

Giao Chỉ quận vương Lê Hoàn "chột mắt" ở kinh đô Hoa Lư - đọc lại miêu tả của sứ giả Tống lúc đương thời

Trích từ Tống sử (bộ sử nhà Tống được nhà Nguyên biên soạn trên cơ sở tư liệu nhà Tống để lại).

Đại khái là trước và sau năm 1000.

Cụ thể thì là năm Đoản Củng (989), năm Thuần Hóa 1 (990), và Thuần Hóa 2 (991), rồi Hòa Bình 4 (1001), Cảnh Đức 1 (1004),...Lê Hoàn mất năm Cảnh Đức 3 (1006).

Ấn tượng là hình ảnh Lê Hoàn bị chột một mắt.

1. Lê Hoàn ở trong nước là hoàng đế. Vệ quân của ông đều có thích chữ "Thiên tử quân" (quân nhà trời) vào trán. Ở kinh đô Hoa Lư lúc ấy khí trời mát mẻ (tháng 11 âm lịch vẫn mặc áo mỏng và phe phẩy quạt). Có một số nhà buôn lớn người Tống có mặt ở Hoa Lư từ lúc đó, có vẻ được Lê Hoàn ưu đãi nên nắm rõ tình hình Lê Hoàn hơn cả sứ thần nhà Tống (nhiều khi sứ thần nhà Tống không biết rõ và bịa chuyện: Lê Hoàn vẫn sống mà tâu về triều đình là Hoàn đã chết ! Triều đình nhà Tống sau xử phạt nhóm sử giả thiên thối ấy).

Lụa ở Giao Chỉ lúc ấy rất sẵn. Khi gửi sứ giả sang Tống, ông cho sứ giả mang sang tới một vạn tấm lụa để cống.

Còn trong bang giao Việt - Trung thời bây giờ, thiên triều chỉ phong ông là "Giao Chỉ quận vương", rồi "Nam Bình vương". Sau khi Lê Hoàn từ trần, con là Long Đĩnh lên ngôi thì có cử sứ giả vào công nhà Tống, nhà Tống truy tặng Lê Hoàn là "Nam Việt vương".

2. Miêu tả của sứ giả phương Bắc khi tới đất Giao Chỉ thường có ý "dìm hàng", nên sẵn sàng dùng các từ: hời hợt, tàn nhẫn, hung ác, ngạo mạn,...dành cho người. Cũng sẵn sàng dùng các từ thô lậu, yếu ớt,...dành cho đồ vật hay vũ khí của phía Lê Hoàn !

Nhưng có điểm thú vị là qua miêu tả ấy, ta gián tiếp nhận ra được khí chất dũng mãnh của Lê Hoàn. Ông đi chân đất và xuống nước đâm cá. Ông tự hát khi tiệc vui. Ông từng có ý đãi sứ giả nhà Tống món thịt rắn (con rắn rất dài). Ông cũng sai mang cọp đến sứ quán để cho sứ giả nhà Tống ngắm chơi !

Ông chột một mắt, nhưng ông không sợ bố con thằng nào. Đến là ông đánh thua hết.

3. Cơ bản nhất là Lê Hoàn không sợ vua Tống ! Bài "thần phục giả vờ, độc lập thực chất" rất rõ. 

Sau này, Lý Công Uẩn cũng được nhà Tống phong là "Giao Chỉ quận vương", rồi "Nam Bình vương". Lúc Lý Công Uẩn mất, nhà Tống cũng truy tặng "Nam Việt vương" !

Đời sau, các triều đại quân chủ ở ta hay dùng chữ "Nam Việt" (rồi có lúc đảo lại thành Việt Nam).

Bản dịch tiếng Việt ở dưới là của học giả Cao Tự Thanh.

04/02/2022

Ngày xuân đến với phong tục độc đáo : lễ hội Nam Trì và việc thờ bộ ba Bảo - Lang - Biền (Lữ Gia - Nguyễn Lang - Cao Biền)

Đại khái có thể tóm tắt như sau.

1. Bảo tức Bảo Công, hay Lữ Gia (Lã Gia). Người trước công nguyên, tức trước thời Hai Bà Trưng.

Lang tức Lang Công, hay Nguyễn Danh Lang. Người trước công nguyên, tức trước thời Hai Bà Trưng.

Bảo và Lang đều là trọng thần của nhà Triệu ở đất Phiên Ngung (tức nhà Triệu của ông cháu Triệu Đà - Triệu Hồ). Tương truyền cả hai ông đều là người đất Giao Châu lên làm quan cho nhà Triệu.

Sau khi Bảo và Lang mất, các ông được người Giao Châu thờ ở nhiều nơi.

Biền tức Cao Biền, vị danh tướng thời Đường được cử xuống trị nhậm An Nam. Vua Lí Thái Tổ đã tôn Cao Biền là Cao Vương, xem như là một đế vương trị nhậm An Nam trước mình.

2. Tương truyền, khi xuống trị nhậm An Nam, họ Cao đã kết thân với hai vị thần Bảo và Lang.

Thế rồi, đến lúc Cao Biền mất, người An Nam cũng lập miếu thờ Cao Biền.

Có nơi, người ta đã kết hợp thờ cả ba vị, thành ra bộ ba thần Bảo - Lang - Biền. Đó là vùng Nam Trì với lễ hội Nam Trì.

Thú vị hơn nữa, ở Nam Trì còn phối thờ của cụ Tả Ao - một nhà địa lí danh tiếng của Đại Việt.

Mình còn quan tâm đến Nam Trì, bởi đó là quê nhà của võ tướng Đinh Văn Tả - một vị rất nhân duyên với nhà Mạc thời kì Cao Bằng.

17/03/2021

Khi Phật giáo còn chưa tới, người ta suy nghĩ gì về kiếp sau - trường hợp ông cháu nhà Triệu Đà

Chuyện cách nay tới hơn cả 10 năm rồi, lúc ấy là trong xe bảy chỗ đi chung từ Bắc Giang về Hà Nội, anh Phạm Sanh Châu hỏi tôi một câu về lịch sử nhân khi tôi nói chuyện về nhà Triệu, tức ông cháu cha con Triệu Đà - Triệu Trọng Thủy - Triệu Muội/Mạt/Hồ, liên quan tới lần chúng tôi tới Quảng Châu một thời gian trước đó.

Chả là hồi mùa thu năm 2008, chúng tôi có đi Quảng Châu, có cùng nhau xuống thăm mộ hoàng đế Triệu Hồ - vị vua thứ hai của nhà Triệu. Triệu Hồ là cháu ruột của Triệu Đà, lên nối ngôi ông (bố của Triệu Hồ có thể chính là Triệu Trọng Thủy - tức là chàng Trọng Thủy trong truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thủy bên ta). Một ít thông tin về chuyến đó, chúng tôi có kể nhanh trên Giao Blog hồi Yahoo (ví dụ xem nhanh lại ở đâyở đây hay ở đây).