![]() |
| Bức này được giới thiệu (chẳng hạn ở đây), nhưng tựa như là bị che mất dòng tự ghi của họa sĩ |
Về mặt từ nguyên, tức nguồn gốc từ, hiện cũng còn chưa rõ "quả thực" có gốc rễ từ đâu. Là từ ngoại lại hoàn toàn (chỉ đem phiên ra âm Hán Việt), hay là tự tạo mới trên cở sở ghép các bộ phận ngoại lai.
Cũng kính nhờ bác Hoàng Tuấn Công (bên Tuấn Công thư phòng) tra giúp xem các cụ Nguyễn Lân, Nguyễn Cừ, Nguyễn Công Lý có đưa vào các bộ từ điển mà bác đang xem xét hay không. Xin nhờ bác, là vì, tôi vốn không có các bộ sách đó, chưa một lần sử dụng chúng.
---
Chép bình luận ở dưới lên (chép ngày 24/2/2019)
.png)


Tra từ điển Tàu thấy "quả thực" (thật) chỉ có kết hợp từ 果實 ý chỉ bộ phận thực chất, có thể sử dụng được của hoa quả. Từ điển ta, "Từ điển tiếng Việt" của Hoàng Phê không ghi nhận từ "quả thực". "Từ điển gốc và nghĩa từ Việt thông dụng"-Vũ Xuân Thái: Quả thực: đúng sự thực. "Việt Nam tự điển" (Hội khai trí tiến đức-Hà Nội) không thấy ghi nhận.
Từ điển Nguyễn Lân (2 cuốn: Từ điển từ và ngữ Hán Việt và Từ điển từ và ngữ Việt Nam) giảng như sau: "Kết quả về vật chất của một cuộc đấu tranh: Trong cải cách ruộng đất, nông dân được chia quả thực". Có lẽ, từ "quả thực" mới chỉ được sinh ra trong cải cách ruộng đất ? Giải thích như NL là đúng với nghĩa được dùng trong thực tế của "quả thực". (Lưu ý: trong Hồi ký giáo dục của mình, NL tiết lộ từng tham gia đội cải cách ruộng đất, trước khi sang dạy bên học xá Trung Quốc)
Em xin trao đổi lại một chút.
1. Như vậy là cuốn của cụ Nguyễn Lân vẫn có ý nghĩa nhé ! Mà cụ giải thích rất rõ, tưởng như không chê vào đâu được.
2. Các cuốn từ điển ra đời trước thập niên 1950, thì chắc rõ là không có từ đó rồi bác ạ. Rõ là từ Khai Trí Tiến Đức trở lên, là không thể có được rồi.
3. Bác tra giúp Nguyễn Lân rồi. Nhưng không rõ Nguyễn Cừ và Nguyễn Công Lý thì có không ?
4. Bản Hoàng Phê bác đang có, và vừa tra, chắc là bản cũ rồi. Bản mới, em đang có, là có từ "quả thực". Nếu bác cần, em sẽ post bổ sung mục từ đó trong bản Hoàng Phê mới.
5. Như vậy, là bản Hoàng Phê mới bổ sung. Không biết là do ảnh hưởng Nguyễn Lân hay là bắt buộc cần phải ghi thêm.
6. Tuy nhiên, giải thích của bản Hoàng Phê thì không rõ như Nguyễn Lân. Cụ này, như TC cho biết, hóa ra là có tham gia đội thời kì đó ! Giống như cha đẻ của dế mèn.
7. Để em kiểm tra thêm trước tác của Mao và những vị liên quan, xem có từ đó như nghĩa VN không đã. Nhưng có vẻ, là đây là SÁNG TẠO của Việt Nam đó bác ạ.
Một lần nữa cảm tạ Tuấn Công !
Thử suy nghĩ thì còn khá nhiều từ mang tính thời đại nữa mà bây giờ hầu như đã bị bỏ, không còn biết nghĩa ở dạng phổ thông. Không phải ở lãnh vực nhạy cảm đâu, cả cuộc sống thiết thực cũng vậy.
Theo Từ điển từ Hán-Việt (Lại Cao Nguyên chủ biên, NXB Khoa Học Xã Hội-2007, có 2 từ Quả thực:
1/- Quả thực (果 實): hẳn, chắc, quyết, đúng là. Chữ quả 果 thuộc bộ Mộc.
2/- Quả thực (菓 實): kết quả vật chất của một cuộc đấu tranh. Chữ quả 菓 thuộc bộ Thảo.
Từ điển Tiếng Việt (Văn Tân chủ biên - NXB Khoa Học Xã Hội- 1967) ghi rõ hơn, cũng có 2 nghĩa:
1/- Quả thực: Thực ra là.
2/- Quả thực: kết quả vật chất của một cuộc đấu tranh: sau khi đấu tranh với địa chủ, nông dân chia quả thực.
Chữ "quả thực" này tương tự như từ "chiến lợi phẩm".
Như vậy nếu bức tranh bên trên của họa sỹ Tô Ngọc Vân được ghi là "Con trâu quả thực" được vẽ vào thập niên 1950, thì có lẽ con trâu này là con trâu được chia phần sau khi tịch thu của địa chủ trong cải cách ruộng đất. Một vấn đề "nhạy cảm" đang nóng hổi trên mạng bây giờ.
Như vậy là từ năm 1967, cụ Văn Tân đã giải thích từ này, mà giải thích rõ ràng. Không biết là từ điển của Văn Tân, hay từ điển của Nguyễn Lân có trước. Cái này, chắc phải nhờ bác Tuấn Công xác nhận giúp.
Cụ Lại Cao Nguyên cũng ra từ điển rồi ? Cảm ơn bạn Hiệp, bây giờ tôi mới biết đấy. Cách giải thích của cụ Cao Nguyên "gọn gàng" quá, không chân thực như cách giải thích của Văn Tân.
Nếu quả chưa tìm thêm được, thì có lẽ, từ điển 1967 của Văn Tân là đưa "quả thực" vào từ điển sớm nhất. Tạm thời nhận thức như vậy.
Tôi tra trên Wikipedia thì thấy ghi bắt đầu từ năm 1971 khi về hưu ở tuổi 67, thì cụ Nguyễn Lân mới dành trọn thời giờ để viết từ điển, chẳng hạn từ điển Hán-Việt (1993), từ điển Từ và ngữ Việt Nam (2000).
Như vậy quyển Từ điển tiếng Việt của Văn Tân có trước các quyển từ điển của Nguyễn Lân. Theo Lời nói đầu viết ở đầu quyển Từ điển tiếng Việt của Văn Tân, thì quyển từ điển này được soạn từ tháng 4 năm 1954, đến cuối tháng 6-1955 thì sơ bộ hoàn thành và suốt cho đến khi được in ra lần đầu tiên vào năm 1967, thì từ điển đã được nhiều vị có tiếng tham gia biên soạn trong đó có cả cụ Nguyễn Lân.
Có lẽ đây là quyển từ điển tiếng Việt (giải thích tiếng Việt) đầu tiên được in ở miền Bắc sau năm 1954 (không kể loại từ điển khác như từ điển chính tả). Tôi cũng có một bản in khác (bản in lần thứ 3 vào năm 1994). Quyển từ điển này chưa phải là giải thích tiếng Việt hoàn chỉnh (quyển sau này của Hoàng Phê có phần hơn), nhưng nó lại cho ta biết nhiều từ ngữ phái sinh ở miền Bắc vào giai đoạn ấy, chẳng hạn như Lính thủy đánh bộ, Hợp tác hóa, Hợp tác xã...
Những từ như Hợp tác xã hay Lính thủy đánh bộ, vân vân, thì không nói làm gì bác à.
Ở đây, là chọn một từ đặc biệt, là "quả thực" để bàn mà.
1. Trong cùng thời điểm soạn từ điển, thì Văn Tân đã đưa "quả thực" vào. Còn Hoàng Phê thì lúc đầu vẫn chưa, chắc là tránh không động đến (dựa theo bản cũ mà bác Tuấn Công còm ở trên).
2. Bản mới của Hoàng Phê in gần đây mới có từ này. Chắc là mới được đưa thêm vào.
Đúng rồi bạn Giao, ý tôi chỉ muốn nói thời điểm mà những từ ngữ xuất hiện, hoặc cách viết được ghi nhận trong những quyển từ điển ở từng miền, cho nên tôi cũng ráng kiếm một số từ điển để tra, trong Nam ngoài Bắc, từ Đại Nam Quấc âm tự vị của Hùinh Tịnh Paulus Của, cho đến Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, và một số từ điển về sau này, kể cả từ điển phương ngữ miền Nam, Huế. thêm mấy quyển từ điển của cụ Nguyễn Lân.
Tra nhiều sách, đối chiếu, so sánh sẽ cho ta biết được nhiều điều...
Bản tôi có thì muộn nữa, sau năm 2010.
Bác rảnh thì thử ngó chơi những thứ như thế này nhé: http://giaovn.blogspot.jp/2014/08/tam-tong-ket-ve-cuoc-tranh-luan-utopia.html
Về chữ Địa đàng. Tôi thử tra trong từ điển Hán-Việt (6 quyển tôi có: của Đào Duy Anh, Thiều Chửu, Nguyễn Tôn Nhan, Trần văn Chánh, Nguyễn Kim Thản, Lại Cao Nguyên), lạ thay không thấy từ Địa đàng. Tra Từ điển tiếng Việt các loại xưa, nay, xuất bản trong Nam, ngoài Bắc khoảng 10 quyển thì thấy chỉ có duy nhất một quyển có từ Địa đàng, đó là Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Hùinh Tịnh Paulus Của. Trong quyển từ điển này có cả 2 từ Thiên đàng (đường) và Địa đàng (đường):
- Thiên đường: Cõi vui vẻ ở trên trờo.
- Địa đàng: Kiểng vui dưới đất. (kiểng là từ nói trại của cảnh).
Ngoài ra 2 từ khác như Thiên đàng (đường), Địa ngục các từ điển Hán-Việt hay tiếng Việt đều có.
Từ Địa đàng tôi còn tìm thấy trong từ điển Anh- Việt của Viên Ngôn Ngữ Học-1995, trong mục từ Eden.
- Eden: (Kinh thánh), khu vườn đẹp nơi Adam và Eve sống trước khi họ cãi Thượng đế và bị đuổi khỏi nơi này; vườn địa đàng. Từ Eden viết hoa chữ E đầu trong khi các từ khác viết thường, chứng tỏ Eden là danh từ riêng.
Từ Địa đàng ta thường thấy trong sách vở của người theo đạo Cơ Đốc ( Thiên chúa giáo), trong Kinh thánh có nói đến vườn Địa Đàng là nơi Adam và Eve ở cho đến khi nghe theo lời xúi của con rắn, ăn trái cấm và bị đuổi khỏi vườn Địa đàng, có lẽ đây là một thuật ngữ tôn giáo không phổ biến chăng? Người Thiên chúa giáo cũng phân biệt giữa Địa đàng và Thên đàng. Địa đàng giải thích như ta đã biết, còn Thiên đàng là ở trên trời, nơi các linh hồn trong sạch được đến đó sau khi chết và sau khi phán xét.
Tại sao trong các từ điển Hán-Việt và tiếng Việt thông dụng không có từ Địa đàng? chỉ có Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Hùinh Tịnh Paulus Của xuất bản từ 1895-1896 có? Tôi nghĩ bởi cụ Hùinh Tịnh Paulus Của là người theo đạo Thiên Chúa, cụ chú ý tới thuật ngữ TCG.
Như từ Địa đường (đàng) có trong từ điển tiếng Trung mà ông Đông A đã tìm thấy cũng là một quyển từ điển về tôn giáo "Thiên Chúa giáo Anh Hán tụ trân từ điển" chứ không phải trong những từ điển cổ như Khang Hy, Từ Nguyên...
Có lẽ GS Cao Xuân Hạo đã tra và nhờ người tra nhiều từ điển Hán Việt phổ thông nhưng không thấy có từ Địa đàng, nên GS kết luận từ Địa đàng là từ "thuần việt" là trên ý nghĩa chỉ thấy sách vở người Việt có dùng chứ không thấy trong sách vở Trung Hoa chăng? Chứ chẳng lẽ GS không biết về mặt chữ thì `Địa đàng là từ Hán-Việt?
Tôi tạm dừng, sẽ viết tiếp.
- Thiên đàng: là nơi chốn những con người chính trực, không mắc tội lỗi sẽ được đến sau khi chết, và sau khi chịu sự phán xét của Thiên chúa. Đây là một nơi người TCG tin rằng ở "trên trời".
- Địa đàng: theo Kinh thánh là nơi mà Adam và Eve là người nam và người nữ đầu tiên sau khi được Thiên chúa tạo ra, đã sinh sống ở đó. Địa đàng không ở đâu xa, chính là cõi trần gian (thế gian, trần thế) của con người đang sinh sống.
- Địa ngục: là nơi mà những con người tội lỗi sẽ phải đọa vào sau khi chết, được cho là ở dưới lòng đất tối tăm, nơi quỷ dữ hiện hiện, và họ sẽ phải chịu "lửa luyện ngục" thiêu đốt đời đời.
Trong từ điển Hán-Việt, tiếng Việt, ít thấy giải thích từ Địa đàng, trong khi có từ Thiên đàng, Địa ngục. Trái lại trong từ điển Anh Việt, Pháp Việt lại giải thích và phân biệt khá rõ. Tiếng Anh Paradise và tiếng Pháp Paradis có nghĩa là Thiên đàng. Còn từ Eden trong tiếng Anh, và Éden trong tiếng Pháp, có nghĩa là Địa đàng. Có lẽ người Anh và người Pháp đa số theo Cơ đốc giáo nên họ phân biệt rõ hơn chăng?
Riêng về từ UTOPIA dịch là "Địa đàng trần gian", theo tôi thì không ổn. Ta có thể nói "Thiên đàng trần thế" như từ điển Pháp Việt dịch chữ Éden, để chỉ cảnh "sướng như thiên đàng" nơi trần thế, mà từ điển Anh Việt dịch là vườn Địa đàng, hoặc nói "Địa ngục trần gian" để chỉ cảnh "khổ như ở địa ngục" nơi trần gian. Như tôi đã dẫn, theo Kinh thánh, Địa đàng chính là nơi trần gian, nợi Chúa trời đã tạo ra và sau đó tạo ra Adam, Eve cho ở đó, chúng ta bây giờ (cũng theo kinh thánh) chính là con cháu của Adam và Eve. Dịch là Địa đàng trần gian tôi thấy lủng củng quá.
Và Địa đàng hay Thiên đàng tiếng Anh, Pháp đều có.
UTOPIA theo từ điển Anh Việt của Viện Ngôn Ngữ Học-1995 có nghĩa là: nơi tưởng tượng ra, hoặc tình trạng của các vấn đề trong đó mọi việc đều hoàn hảo.
Như vậy từ UTOPIA không phải là danh từ riêng, không nên giữ nguyên tên tiếng Anh (chẳng hạn dịch là "Xứ UTOPIA"), cũng không nên dịch là Địa đàng hay vườn Địa đàng. Theo Kinh thánh thì vườn Địa đàng chẳng có gì hoàn hảo, con rắn ác độc dụ dỗ Eve ăn trái cấm, Eve lại "dụ" lại Adam, rồi cả 2 người cùng ăn trái cấm bất tuân lệnh Chúa trời, cuối cùng thì bị đuổi khỏi vườn Địa đàng chịu cảnh khổ cực, con cháu của 2 người này đời đời mắc tội "tổ tông truyền".
Theo từ điển Anh Việt của Viện Ngôn Ngữ Học UTOPIA dịch là: nơi tưởng tượng ra, hoặc tình trạng của các vấn đề trong đó mọi việc đều hoàn hảo. Nghĩa là nói về một nơi tưởng tượng mà trong đó mọi việc đều hoàn hảo, vậy có thể dịch thoát ý mà không xa rời từ nguyên là "Xứ thần tiên" được chăng?
Về "Địa đàng trần gian", thì mình đã nói ở các entry, và tóm lại, trong entry tổng kết mà bạn đã xem, rằng đó là dụng công không cần thiết.
Tuy nhiên, riêng về Utopia thì bạn nên đọc lại bài của cụ Cao Xuân Hạo (ở entry 1 trong loạt entry liên quan đó). Cụ Hạo đã chỉ ra rất đúng rằng, đó là từ sáng tạo ra bởi chính tác giả cuốn sách, rồi sau này, nó đi vào từ vựng chung, rồi đi vào cuốn từ điển của Viện Ngôn ngữ mà bạn đã tra (theo bạn trình bày ở trên).
Utopia là sáng tạo in dấu cá nhân. Và từ này đã được dùng rộng rãi khắp nơi, với cả dạng danh từ, tính từ (cụ Hạo đã giải thích).
Cho nên, "Xứ thần tiên" của bạn, với mình thì không đắt lắm !
Tôi đã tra lại trên Wikipedia về từ UTOPIA, và thấy rằng đây là một tác phẩm của Thomas More viết từ khoảng đầu thế kỷ XVI, UTOPIA là tên của một hòn đảo, cũng theo Wikipedia ở mục từ UTOPIA đã viết "Tác phẩm này mô tả là một hòn đảo biệt lập và không tưởng ở vùng biển Đại Tây Dương, trên hòn đảo này có một cuộc sống biệt lập với thế giới mà tồn tại một xã hội mơ ước, một nơi không có tư hữu, không phân chia giai cấp, giàu, nghèo, ai cũng lao động và ai cũng có cuộc sống hạnh phúc".
Vậy thì theo như Cao Xuân Hạo dịch tác phẩm UTOPIA là "Xứ UTOPIA" là hợp lý, vì đây là tên của hòn đảo (sau này từ Utopia mới đi vào từ điển với dạng danh từ và tính từ), nếu không dịch như thế thì với nội dung mô tả cuộc sống trên đải UTOPIA như trên, thì đây đúng là nơi có một cuộc sống lý tưởng, xứng đáng được xem như "Thiên đường hạ giới" (cõi cực lạc ở hạ giới), và một nơi như vậy theo tôi cũng xứng đáng được gọi là "Xứ thần tiên", hay "Xứ sở thần tiên" lắm chứ?
Nói gì thì nói, cái từ "Địa đàng trần gian" là hoàn toàn khập khiễng, bởi đúng như Cao Xuân Hạo viết, đây là lỗi trùng ngữ. Người ta chỉ nói "Thiên đường hạ giới" (chẳng hạn để chỉ hòn đảo Hawai tiểu bang thứ 50 của Hoa Kỳ), hay "Địa ngục trần gian" (để chỉ trại tập trung của Phát Xít Đức trong Thế chiến thứ 2). Từ trước nay tôi cũng đọc nhiều, hình như chưa thấy ai dùng từ "Địa đàng trần gian" cả.
Về hai phương án, của cụ Hạo và của bác, thì về mặt nghĩa đều ok. Nhưng nhìn chung, rộng hơn ra, thì "Xứ Utopia", theo những gì tôi đã phân tích, vẫn là đắt nhất. Tôi ủng hộ phương án dịch này.
Hãy làm cho cái gọi là "Utopia" đầu tiên có thể hơi lạ, dần trở thành một từ mới, rồi thành quen trong tiếng Việt. Làm giàu tiếng Việt, một cách cụ thể, chính là ở cách dịch như vậy. Tính ra, là "lãi" cho tiếng Việt.
Làm giàu tiếng Việt là nên làm như bác nói, phải cụ thể, chính xác, tiếng Việt của mình có rất nhiều từ ngữ du nhập đã được Việt hóa.
-Có thời gian xem lại "Từ điển tiếng Việt" in 1988 thấy một điều thú vị là trong bản này có thu nhận từ "Quả thực: Kết quả vật chất thu được của một cuộc đấu tranh trong cải cách ruộng đất". Như vậy, không hiểu vì lý do gì, 25 năm sau ngày Từ điển của HP xuất bản lần đầu (1988), Vietlex đã loại từ "quả thực" khỏi Từ điển tiếng Việt bản in 2013.
-Tôi không có Từ điển tiếng Việt của Nhóm Văn Tân. Tuy nhiên tôi biết NL có tham gia với tư cách là thành viên. Theo tôi nghĩ, từ "quả thực" có trong "Từ điển từ và ngữ Việt Nam" của NL có mối liên hệ với cuốn Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên.
-Không biết bản TĐTV bản 1997 của anh Ngọc Hiệp ghi nhận "Quả thật" và "Quả thực" nhưng với tư cách là danh từ chỉ thành quả của CCRĐ hay cũng là "quả thật" (với ý nghĩa lời khẳng định trong câu) giống bản in 2013?
1. Vậy là có liên hệ giữa từ điển Nguyễn Lân với Văn Tân. Chắc là Nguyễn Lân thừa hưởng từ Văn Tân, chứ không có chuyện ngược lại đúng không bác HTC ?
2. Quả là cuốn từ điển của Hoàng Phê có những điểm mình phải xác nhận đây.
- Tôi có bản ra đầu tiên, nhưng đã sớm đem tặng lại cho người khác.
- Bản ra lần thứ hai, cũng mua, rồi lại đem tặng,
- Bản mới đây, thì tí nữa sẽ xem lại, nhưng rõ ràng là có QUẢ THỰC. Tí nữa sẽ xem lại là 2013 như của HTC, hay là 2011.
Cái cuốn này, hóa ra rích rắc ra phết chứ không phải không đâu.
3. Bác HTC giúp cho chút nữa, là hai vị bác đang xét là Nguyễn Cừ với Nguyễn Công Lý có nhắc gì không ?
Cảm tạ cả nhà.
- in năm 2003 (tức là trước 2010, chứ không phải sau 2010 như đã nhớ nhầm ở còm nào đó phía trên).
- là bản in lần thứ 9 có sửa chữa, gồm 39.924 mục từ (theo trang bìa lót).
- Viện Ngôn ngữ học, "Từ điển tiếng Việt", Hoàng Phê (chủ biên) và nhiều vị nữa. Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học. Giá ở bìa 4: 130.000 đ.
- Có lá thư kí năm 1987 (có cả ngày tháng năm) viết tay của Phạm Văn Đồng ở phần đầu.
- tại trang 797 có từ QUẢ THỰC như nghĩa của thời CCRĐ.
Chù biên: Văn Tân. Biên tập viên: Nguyễn Lân, Nguyễn Văn Đạm, Lê Khả Kế, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Ngô Thúc Lanh, Ngụy Như Kontum, Trần Văn Giáp, Nguyễn Thạc Cát, Đoàn Hựu, Trần Văn Khang, Long Điền, Hoa Bằng. Như vậy tên của cụ Nguyễn Lân thấy ghi đứng đầu trong nhóm biên tập.
Quyển Từ điển tiếng Việt Hoàng Phê chủ biên-1997 của tôi có nhiều điểm giống như quyển bác Giao ghi bên trên: NXB Đà Nẵng - Trung Tâm Từ Điển Học - Viện Ngôn Ngữ Học. Phần đầu có lời giới thiệu viết tay năm 1987 của Phạm văn Đồng. Tuy nhiên giá ghi ở bìa 4 là 98.000 đồng chứ không phải là 130.000 đ., và từ quả thật, quả thực ghi ở trang 769 chứ không phải trang 797. Tôi chép lại nguyên văn:
quả thật p. (dùng làm phần phụ trong câu). Sự thật là đúng như vậy, không có gì còn phải nghi ngờ cả. Quả thật anh ta khôn biết.
quả thực 1. d. Kết quả vật chất thu được của một cuộc đấu tranh trong cải cách ruộng đất.
quả thực 2. (ph.). x. quả thật.
1. Cuốn Văn Tân (gọi tắt thế cho dễ):
- In năm 1967, có sự tham gia của Nguyễn Lân.
- giải thích "quả thực" là:
"kết quả vật chất của một cuộc đấu tranh: sau khi đấu tranh với địa chủ, nông dân chia quả thực."
2. Cuốn của Hoàng Phê (cũng gọi tắt):
- Bản đầu tiên 1988: có từ "quả thực". Và giải thích là: "Quả thực: Kết quả vật chất thu được của một cuộc đấu tranh trong cải cách ruộng đất"".
- Bản năm 1997 (trang 769): có từ "quả thực". Và giải thích là: "quả thực 1. d. Kết quả vật chất thu được của một cuộc đấu tranh trong cải cách ruộng đất"
- Bản 2003 tức bản in lần thứ 9 (trang 797): có từ "quả thực". Và giải thích giống hệt bản 1997 và 1988.
- Bang 2013: lại không có từ "quả thực" !
Chả là ở một vụ cải cách trào tiên, có một cán bộ tw quán triệt cho các cốt cán bầ cố nông rằng thì là toàn bộ của cải của địa chủ cường hào gian ác là thành quả cày cuốc của giai cấp công nông, do chúng ta làm ra... Khi đó đám "cốt cán" đồng thanh reo vang "quả thực của chúng ta", "phải chia ngay cha ngay chia ngay".
Mõ làng lập tức làm nhiệm vụ loa fường nhưng do ít chữ,cứ đinh ninh của cải của địa chủ là "quả thực" nên loa loa rằng: bớ toàn thể giai cấp bần cố nông, hãy đến x,y... Đảng ta đang chia quả thực, đến mà nhận fần quả thực của mình.
Còn Tô tiền bối, vốn thật thà hiền lành, lần thâm nhập thực tế cho công tác nghệ thuật đã tin sái cổ lời kể của một nông dân: "đây là con trâu quả thực của nhà tôi.
Kể từ đó, ngôn ngữ việt có thêm 1 từ mới
TÁC PHẨM CỦA TÔ NGỌC VÂN
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1925, Tô Ngọc Vân là sinh viên khóa 2 (1926 - 1931). Ngay từ thời còn là sinh viên, Tô Ngọc Vân đã có tranh trưng bày triển lãm bên cạnh những tác phẩm của Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm – những tên tuổi lớn mà về sau đã làm rạng danh nền mỹ thuật Việt Nam trên đất Pháp. Đó là vào tháng 8 năm 1930 tại Sài Gòn, với các tác phẩm về phong cảnh khá ấn tượng. Báo Phụ nữ tân văn - số 71, ra ngày 25 tháng 9 năm 1930, có những lời đánh giá xác đáng: “Bức Ánh mặt trời của ông Vân có thể gọi là một bài ca tụng cái tài biến hoá của ánh mặt trời. Ta xem lại tranh Bụi chuối ngoài nắng cũng của ông Vân, lá chuối xanh, ánh nắng phản chiếu vào nhuộm thành màu vàng ối, mặt người rám nắng, mặt trời chiếu vào đã hoá ra hồng hồng pha trộn với sắc lửa. Một cảnh chói lọi mà vẫn dịu dàng, nhìn không chán mắt. Bức Trời dịu, được vẽ với bút pháp táo bạo, tự nhiên mà trên cả bức tranh hình như ta thấy có luồng không khí trong sạch, mát mẻ bao bọc cả xung quanh”. Ông hiệu trưởng người Pháp Victor Tardieu (1867 - 1937, vốn rất tiết kiệm lời khen, cũng đã từng khen ngợi Tô Ngọc Vân.
Những năm trên ghế nhà trường, ông tiếp nhận những kiến thức tạo hình mới với sự hăng say không biết mệt mỏi.
Phương pháp tạo hình mới, đặc biệt là chất liệu sơn dầu, có sức cuốn hút mạnh mẽ, bởi ông nhận thức nghệ thuật của môn này đã giúp diễn đạt được những tình cảm rạo rực, xao xuyến trong tâm hồn của nghệ sĩ đứng trước cảnh vật. Với Bức thư (1931), Tô Ngọc Vân đã tỏ thiện cảm với những cô gái lao động nền nã bên khung cửi qua những tình cảm kín đáo, đoan trang.
Đó là sự dè dặt của một khuynh hướng. Sau này Tô Ngọc Vân thể hiện sâu đậm hơn người phụ nữ với sự đồng cảm trân trọng. Đây là lúc họa sĩ vẽ nhiều về phong cảnh đẹp bằng sơn dầu như ánh Mặt trời, Bụi chuối ngoài nắng, Trời dịu...
Thành công của họa sĩ không chỉ ở trong nước mà còn góp phần mang tiếng nói của nghệ thuật Việt Nam đến với nhiều nước. Năm 1931, tranh sơn dầu Bức thư được tặng bằng danh dự ở Triển lãm hội họa Pháp và được thưởng huy chương vàng ở Triển lãm thuộc địa tại Paris.
Năm 1931, sau khi tốt nghiệp, ông cộng tác với báo Nhân loại, Phong hóa, Ngày nay và cuối cùng là Thanh Nghị với bút danh Tô Tử, Ái Mỹ. Năm 1935, ông được Pháp bổ dụng đi dạy học ở Phnôm Pênh (Campuchia). Ở đây, ngoài giờ giảng dạy, ông đi vẽ phong cảnh và sư sãi.
Năm 1938, Tô Ngọc Vân trở về Hà Nội dạy ở Trường trung học Bưởi. Đến năm 1939, ông là giảng viên Trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương. Đề tài chủ yếu trong những sáng tác trước cách mạng của Tô Ngọc Vân là người đàn bà thành thị.
Từ tác phẩm Dưới bóng nắng vẽ người thiếu nữ mơ màng, với cái nhìn lơ đãng dưới hoa, nắng bên bờ ao, đến người thiếu nữ bâng khuâng - tranh Tô Ngọc Vân không gợi lên một chân dung nhân vật cụ thể, chỉ như biểu tượng về sự trong trắng, cao quý của người phụ nữ.
Kiệt tác "Thiếu nữ bên hoa huệ" được Tô Ngọc Vân sáng tác vào năm 1943, khi ông đang giảng dạy tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. "Thiếu nữ bên hoa huệ" mô tả cảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách đầy duyên dáng, khơi gợi về phía lọ hoa huệ trắng. Hình dáng cô gái kết hợp với những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn dịu nhẹ.
Với bố cục chặt chẽ, hoàn hảo, cách sử dụng màu điêu luyện, "Thiếu nữ bên hoa huệ" đã thể hiện được cái mềm mại gợi cảm ở đường cong trên đùi thiếu nữ và nhất là cách dùng dao gạt bớt lớp sơn phía trên để lộ ra lớp sơn hồng bên dưới tạo nên sắc ửng hồng trên má thiếu nữ… Ngay trong lần triển lãm đầu tiên tại Hà Nội, bức họa đã được nhiều người chú ý. Năm 1945, "Thiếu nữ bên hoa huệ" được trưng bày tại nhà Khai Trí Tiến Đức (Hà Nội) cùng với tranh của Nguyễn Đỗ Cung, Lê Văn Đệ… Bác Hồ đã đến xem triển lãm này.
Ở Tô Ngọc Vân, hội họa Tây Âu tuy đã đi vào lý trí nhưng lại thông qua tâm hồn dân tộc, chính điều này đã làm cho tranh sơn dầu của ông có màu sắc riêng, đạt đến độ ổn định. Ông đã sớm đoạt Huy chương Vàng- triển lãm thuộc địa tại Paris với bức sơn dầu "Bức thư". Tiếp theo đó là một loạt các sáng tác khác, cho đến nay đã thuộc vào kho báu nghệ thuật hội họa Việt Nam hiện đại: Thiếu nữ bên hoa sen, Thiếu nữ bên hoa huệ, Gia đình Việt Nam, Duới bóng nắng, Buổi trưa, Hai thiếu nữ và em bé...
Cách mạng tháng Tám 1945 đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp của ông, mở đầu là bức “Bác Hồ làm việc tại Bắc Bộ Phủ” (1946). Đầu năm 1946 được Hội văn hóa Cứu quốc giới thiệu, ông cùng các họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung và nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim vào Bắc Bộ phủ vẽ tranh và nặn tượng Bác. Tác phẩm “Hồ Chủ Tịch làm việc tại Bắc Bộ Phủ” đã được trưng bày tại triển lãm mỹ thuật toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội. Đây là bức chân dung sơn dầu đẹp nhất của Tô Ngọc Vân sáng tác trong thời kỳ đầu của nền mỹ thuật Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Một bức tranh giản dị, trang nghiêm mà không kém phần tráng lệ huy hoàng. Tô Ngọc Vân bố cục hình Bác khoan thai và đĩnh đạc, choán cả diện tích nền tranh, ánh sáng ngang, rực lên, làm rõ một không khí mộc mạc mà vô cùng sinh động.
Những bức tranh cổ động lớn: Phá xiềng; Việt Nam được giải phóng; (hai tác phẩm được đánh giá cao) Hà Nội vùng đứng lên hòa nhập một cách hữu cơ với không khí thời đại, tiêu biểu cho sự chuyển biến lớn lao trong tư tưởng của thế hệ họa sĩ lúc đó.
Nổi danh là họa sĩ chuyên vẽ phụ nữ đẹp theo quan niệm tiểu tư sản (Thiếu nữ bên hoa huệ; Hai chị em gái), nhưng hầu như ngay lập tức, xuất hiện trên giá vẽ của Tô Ngọc Vân những hình ảnh, những khuôn mặt phụ nữ Việt Nam dọc đường kháng chiến, với quan niệm về cái đẹp thay đổi theo nhân sinh quan thời đại.
Ông được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cử làm Giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam. Trường Cao đẳng Mỹ thuật là một trong 6 trường Đại học và Cao đẳng đầu tiên của nền giáo dục cách mạng, trụ sở trường được đặt tại phố Lò Đúc, Hà Nội. Khóa đầu tiên khai giảng ngày 15-11-1945, trong điều kiện trường sở bị thiếu thốn nhưng ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao (Khoá học đầu tiên đã tồn tại đến thời điểm Toàn quốc kháng chiến. Tô Ngọc Vân đã cùng nhiều văn nghệ sĩ lên chiến khu tham gia kháng chiến. Năm 1950, Trường Cao đẳng Mỹ thuật tiếp tục khai giảng với khoá học 21 sinh viên. Trong điều kiện kháng chiến gian khổ, họa sĩ Tô Ngọc Vân đã cùng các giảng viên Trường Mỹ thuật Kháng chiến luôn cố gắng đảm bảo chất lượng giáo dục và đời sống cho các sinh viên. Từ phương thức “Học trong cuộc sống”, Trường đã tạo ra một chuyển biến quan trọng trong sinh viên là đưa nghệ thuật trở về với cuộc sống thường nhật, phục vụ công cuộc kháng chiến của dân tộc). Cùng với việc mở trường, ông tham gia sáng tác và trưng bày tác phẩm trong những triển lãm mỹ thuật đầu tiên của Cách mạng.
Những ngày ở Việt Bắc ông làm nhiều việc: Công tác tại Đội tuyên truyền xung phong, vẽ tranh, kẻ khẩu hiệu trên những mảng tường, sau đó chuyển sang công tác làm họa sĩ tại Đội kịch Tháng Tám.
Năm 1947, Tô Ngọc Vân là Trưởng đoàn Văn hóa Cứu quốc ở khu Mười. Ông cũng đồng thời là Giám đốc xưởng Mỹ thuật, Hiệu trưởng trường Mỹ thuật kháng chiến. Tô Ngọc Vân đã tổ chức một xưởng khắc và in tranh tuyên truyền trên một quả đồi lớn ở làng Xuân áng, Phú Thọ. Ông cùng các văn nghệ sĩ trong đoàn kháng chiến: Thế Lữ, Bùi Huy Phồn, Nguyễn Tuân, Nguyễn Khang... và các đồng nghiệp và học trò của mình đi khắp các ngả đường chiến dịch, với tấm lòng một người yêu nước và lòng khát khao sáng tác của một nghệ sĩ lớn. Tô Ngọc Vân luôn luôn có những cuộc tranh luận thẳng thắn về nghệ thuật, không phải chỉ một lần. Lúc Tô Ngọc Vân đang nổi tiếng về tranh sơn dầu chứ chưa làm sơn mài bao giờ, nhưng ông vẫn bênh vực cho chất liệu theo ông là đậm chất dân tộc khẳng định những ưu điểm quý giá của sơn mài và tự mình sáng tác tranh Nhã Nam tiêu thổ kháng chiến để chứng minh.
Năm 1948, ông làm đoàn trưởng đoàn Văn hoá kháng chiến, rồi làm biên tập viên đầu tiên và là người sáng lập ra Báo Văn nghệ, là tác giả của một số bài viết như: “Bây giờ mới có hội họa Việt Nam”; “Tranh tuyên truyền với hội họa”, “Học hay không học”, … sau đó làm giám đốc Xưởng họa sơn mài Việt Nam.
Tại Đại hội văn hóa toàn quốc (1948), ông được bầu làm ủy viên Ban chuyên ngành Mỹ thuật.
Ông luôn tranh thủ thời gian ký họa cuộc sống con người, cảnh vật của núi rừng Việt Bắc. Thời kỳ này ông sáng tác nhiều tranh, đáng chú ý là các bức khắc gỗ: Hồ Chủ tịch làm việc tại Bắc Bộ phủ, Hà Nội vùng đứng lên (1948), Bác Hồ với thiếu nhi (1951) và các bức tranh sơn mài: Thiếu nữ, Khi giặc đi qua, Nghỉ chân bên đồi, Nữ cứu thương (1948), Chạy giặc trong rừng (1949). Loạt tranh ký họa về Tây Bắc bằng chì, bút sắt, màu nước về bộ đội, dân công, nông dân, ta có thể kể tới các bức Hai chiến sĩ, Chân dung hai bà lão nông dân, Bộ đội trong hang, Ruộng bậc thang, Một bản ở Tây Bắc (1951). Loạt ký họa màu nước, chì than về nông dân vào năm 1953 tiêu biểu như: Ông lão cầm đuốc đi học, Bủ đường đi học, Tôi có ý kiến, Con trâu quả thực;.... Loạt ký họa về bộ đội từ năm 1949 đến 1954 bằng chất liệu chì, màu nước, bút sắt, bột màu, sơn dầu, tiêu biểu như Hai chiến sĩ, Sinh hoạt trong hang, Xưởng quân giới... Cùng với nhiều họa sĩ khác, các hoạt động đi thực tế sáng tác, triển lãm của họ đã làm cho Việt Bắc không những là thủ đô kháng chiến mà còn là thủ đô của mỹ thuật trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Cuối năm 1949, họa sĩ Tô Ngọc Vân được giao làm Giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trung ương (sau chuyển thành Trường mỹ thuật Việt Nam) tại xóm Chòi, Yên Dã thuộc huyện Đại Từ, Thái Nguyên. Cùng giảng dạy tại nhà trường có các danh họa Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Sĩ Ngọc. Lớp sinh viên khóa kháng chiến với hơn 20 người được sự dạy dỗ trực tiếp của Tô Ngọc Vân và các họa sĩ tài danh khác đã trở thành những họa sĩ tên tuổi của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam, ta có thể kể tới các họa sĩ Trần Lưu Hậu, Lưu Công Nhân, Trọng Kiệm, Đào Đức, Nguyễn Thế Vị, Mai Long, Lê Huy Hòa, Lê Lam... Ông thường nhắc nhở học sinh học kết hợp với hành và bản thân ông cũng gương mẫu thực hiện. Những chuyến đi thực tế cùng sinh viên, hoặc đi “ba cùng” trong cải cách ruộng đất đã giúp ông sáng tác nhiều tác phẩm mang dấu ấn của cuộc sống nông thôn, miền núi, quân đội...
Tháng 4-1954, ông được lệnh lên đường đi Điện Biên Phủ. Trên đường ra trận, ông đã vẽ nhiều ký họa về bộ đội, dân công, phong cảnh và con người các dân tộc Tây Bắc: Giáo viên người Thái, Cô gái dân tộc Mèo, Ba cô gái Thái, Cho ngựa ăn. Ngày 17-6-1954 ông đã hy sinh tại cây số 41 Ba Khe, khi ông đã vượt qua đèo Lũng Lô. Chiếc cặp vẽ mà ông đem theo đi chiến dịch đã có nhiều ký họa dọc đường như: Trú quân, Hành quân qua suối, Lên đèo, Qua đèo Lũng Lô, Chuẩn bị lên đường. Đặc biệt trong đó có bức ký họa chì "Đèo Lũng Lô "được ghi ở góc ngày 15-6-1954, có thể đó là bức tranh cuối cùng trong cuộc đời sáng tác của ông. Danh họa Tô Ngọc Vân đã hy sinh trong khi đang sáng tác tại chiến trường. Lịch sử dân tộc và lịch sử Mỹ thuật ghi danh ông bởi nhân cách tỏa sáng của một họa sĩ bậc thầy và người chiến sĩ xung kích trên mặt trận tư tưởng trong kháng chiến chống Pháp năm xưa.
Họa sĩ Tô Ngọc Vân tốt nghiệp Trường cao đẳng mỹ thuật năm 1931. Dù nhiều người biết tiếng, ông vẫn không tìm được chỗ làm, phải sống thiếu thốn bằng nghề dạy học, vẽ tranh thuê, trình bày và minh họa cho một số tòa báo ở Hà Nội (khi minh họa trên sách báo ông thường ký tên Ái Mỹ, Tô Tử).
Tô Ngọc Vân là một trong số rất ít hoạ sĩ Việt Nam đã sớm vẽ tem ngay từ thời Pháp thuộc (Postes Indochine). Mẫu tem Apsara được ông thiết kế từ nguồn tư liệu của những chuyến đi vẽ, sáng tác ở khu đền Ăngkor Vát, Ăngkor Thom (Campuchia). Hình tượng chính của con tem là nữ thần Apsara, một trong hàng ngàn tượng vũ nữ điêu khắc nổi trên những vách đền đài của nền văn hoá cổ Kh'mer.
Tem Apsara vẽ nét đơn giản, một màu, giữ được bản sắc cổ kính của điêu khắc đá đình chùa miếu mạo Á Đông. Mẫu tem thể hiện nét đặc trưng nghệ thuật Kh'mer với những nét hoa văn mây, lá, đầu rắn... uốn lượn, cách điệu theo lối cổ điển... hình lá đề - mô típ của Phật giáo.
Tem Apsara được in thành một bộ 5 con có 5 giá từ 50c đến 2$ và 5 màu khác nhau: nâu, tím, xanh dương, xanh lá, đỏ; in tại Paris, mang tiêu đề "Postes Indochine" và "RF", phát hành vào những năm 1932 đến năm 1941. Trên mỗi con tem ghi rõ tên tác giả: Tô Ngọc Vân, H.CHEFFER. Tem Apsara được lưu hành rộng trên toàn cõi Đông Dương.
Tem Apsara của danh hoạ Tô Ngọc Vân là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam. Và cũng là tem duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam. Tem Apsara của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân còn là biểu hiện sự giao lưu văn hoá lâu đời của hai dân tộc Việt và Kh'mer.
Tác phẩm của Tô Ngọc Vân đã được triển lãm nhiều lần trong nước và trên thế giới, được hoan nghênh và đánh giá rất cao. Do hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, nhiều tác phẩm đẹp và có giá trị đã bị thất lạc, thời gian phá huỷ. Số còn lại, cơ bản là ký họa và một số ít tác phẩm tranh sơn dầu, sơn mài đang còn lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Cả cuộc đời Tô Ngọc Vân đã dành cho hội họa, tác phẩm để lại của ông trở thành tài sản vô giá của nền mỹ thuật Việt Nam và mãi mãi được trân trọng, giữ gìn.