Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách 晴耕雨讀

09/12/2025

"Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu" (Đạo đức kinh) và các phiên bản

Nguyên trong Đạo đức kinh, là câu: Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu 無名天地之始, 有名萬物之母. Có nghĩa là: "Vô danh (không tên), là bắt đầu của trời đất; hữu danh (có tên), là mẹ của muôn vật".

Nhưng trong dân gian, tại Việt Nam, lại có câu: Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh thiên địa chi thánh 無名天地之始, 有名萬物之聖. Có nghĩa là: "Vô danh (không tên), là bắt đầu của trời đất; hữu danh (có tên), là thánh của muôn vật".

Còn có nhiều phiên bản khác.

Tháng 12 năm 2025,

Giao Blog



---

Mỗi độ xuân về, ai chẳng nhớ câu: “Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ”. Vì đó là phong vị Tết cổ truyền. “Thịt mỡ dưa hành” vật chất đơn giản thôi nhưng “câu đối đỏ” - văn hóa tinh thần đỏ thắm lòng người. Mỗi câu đối dù ngắn dù dài đều có hai vế đối xứng sóng đôi, trông vững vàng, nghe dễ nhớ, dễ luận. Chúng bổ sung, nâng đỡ cho nhau, tuy đối lập mà thống nhất như âm với dương, như trời với đất.

Người xưa xem câu đối là thể cái chí, hiện cái khí, lượng cái đức, đo cái tài, ẩn cái tình, định cái phận mai sau của người viết.

Làm văn, đối hoạt thì đạt điểm cao; giao lưu, đối hay thì được thưởng; gặp gỡ đối tài thì nên duyên; phỏng vấn, đối giỏi thì trọng dụng; có lỗi, thậm chí có tội đối được thì tha… Cho nên, ngày xưa học chữ gắn liền với học đối từ thuở vỡ lòng, khai tâm. Văn hóa, văn minh càng cao thì kho tàng câu đối càng phong phú.

Người Việt mình vừa có chữ Nôm, vừa có chữ Hán, ngôn ngữ lại đơn âm triệt để nên kho đối càng giàu có.
Trong Kiến văn tiểu lục Đình nguyên, Bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726 - 1784) tổng kết: “Cổ nhân dùng tới 6 phép đối để làm văn”. Đó là: Chính danh đối - Tục cú đối - Tá tự đối - Liên châu đối - Đồng loại đối và Bất đối chi đối.

Chính danh đối là phép đối phổ biến nhất được dùng trong mọi thể loại cổ văn. Riêng về câu đối, nó có thể chỉ ngắn một hai chữ, nhưng cũng có thể vài chục chữ.

Dù ngắn, dù dài, phép đối chính danh bao giờ cũng đòi hỏi chặt chẽ nhất, ý đối ý, lời đối lời, thanh đối thanh, nhịp điệu câu chữ, tu từ... đối nhau chan chát (nghịch đối). Ví dụ: “Trời sinh ông Tú Cát - Đất nứt con bọ hung”; hoặc sánh bước sóng đôi (bình đối), ví dụ:

Sóng biếc theo làn hơn gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
(Thu điếu - Nguyễn Khuyến)

Người xưa chưa phân loại danh - tính - động... như ngày nay nhưng các cụ rất sành dùng từ cùng loại để đối với nhau như: trời - đất; sinh - nứt; ông Tú Cát - con bọ hung...

Nếu vế xướng dùng phép tu từ nào thì vế đối cũng phải dùng phép ấy, ví dụ:

Chị chờ em ở chợ Chì
Tao kéo mày về Keo Táo

(Chợ Chì và Keo Táo đều là địa danh ở Thuận Thành - Bắc Ninh, cũng là kết quả nói lái của chị chờ và tao kéo).

Câu sau còn chơi khó nhau bằng cách dùng họ hàng nhà chim:

Con trai Vân Cốc, lên dốc bắn cò, đứng lăm le, 
cười khanh khách. 
Thì vế đối toàn họ hàng nhà ếch:

Cô gái Bát Tràng, bán hàng thịt ếch, ngồi chầu chẫu, 
nói ương ương
Vế xướng có vần lưng, có đồng âm chơi chữ, vế đối có kém cạnh gì đâu?
Câu sau đây còn hóc hiểm hơn nữa:

Năm con rắn mua năm con rắn, 
ngâm rượu Ngũ Xá mừng xuân Tân Tỵ 
(nhạc sĩ Trọng Bằng)

Ba cái Ly sắm ba cái ly, vào hang Tân Cốc, 
uống khoáng Kim Bôi 
(nhà giáo Quốc Thụy)

Tóm lại, về mặt đối lời, ông cha ta tài tình lắm. Các cụ sáng tác không biết bao kiểu hóc hiểm để đọ tài nhau. Và các bậc thần văn, thánh chữ đã tạo ra bao nhiêu giai thoại kỳ thú để đời.

Về đối thanh thì tương đối dễ nhớ. Đó là bằng đối với trắc. Vế trên cắt nhịp ra sao, vế dưới cũng vậy.

Trong phép chính danh đối, ý, lời, thanh càng chặt chẽ càng hay. Tài cao thấp chính là ở sự vận dụng thật chỉnh phép tắc. Người ta chỉ có thể châm chước chút ít ví như luật “Nhất tam ngũ bất luận” trong Đường thi, nghĩa là chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm trong câu thơ bảy chữ có thể tự do, không buộc phải đối thanh. Chính danh đối phổ biến đến nỗi không ít người nghĩ, đã là câu đối thì phải như vậy, làm khác một chút là phê thất đối!

Nhưng còn có tựu cú đối, không khắt khe về mặt đối thanh. Câu đối dài ngắn bao nhiêu cũng được, chỉ cần một chữ cuối đối bằng, trắc là đủ. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi nhiều lần dùng phép này, tiêu biểu là câu:

Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngũ quốc
Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương.
(Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường ,Tống, Nguyên mỗi bên đều chủ một phương)

Chính vì không biết đến phép tựu cú đối này mà có học giả đã lớn tiếng phê phán câu đối ở cổng Văn Miếu  - Quốc Tử Giám là bất đối và đòi sửa lại. Nguyên văn câu đối ấy như sau:

Đông Tây Nam Bắc do tự đạo
Công khanh phu sĩ xuất thử đồ!
Nghĩa là:

Khắp 4 phương Đông Tây Nam Bắc đều do đạo này giáo hóa 
Công hầu, khanh tướng, đại phu, kẻ sĩ đều từ đây mà ra

Một câu đối vừa bác học, vừa tự hào biết bao về ngôi trường đại học đầu tiên và trải hàng ngàn đời nay, không biết do danh sĩ nào viết mà hay đến thế. Sai phép làm sao được?

Nếu tựu cú đối cho phép thoáng về thanh thì tá tự đối lại cho phép thoáng về lời, đúng hơn là về chữ (từ loại). Nghĩa là, có một số chữ, xét về mặt chính danh thì không đối được với nhau, nhưng mượn đồng âm của chúng thì đối được. Có thể gọi nôm na là phép gá chữ.

Trong bài thơ Ông cò, hai câu thực Tú Xương viết:

Hai mái trống tung đành chịu dột
Tám giờ chuông điểm phải nằm co!

Rõ ràng trống tung là một tính từ, không đối được với chuông điểm là một cụm chủ vị. Nhưng mượn âm và tách ra thì chuông đối với trống, điểm đối với tung lại… rất chỉnh.

Cụ Tú Mỡ khi vào thăm cụ Song An Hoàng Ngọc Phách đang bệnh nặng, có viết một bài bát cú, trong đó có câu luận như sau:

Đây thằng bố lếu thơ tinh nghịch
Đấy bạn cô le nghĩa cũ càng

Cô le (college) là tiếng Pháp, có nghĩa là trường trung học. Hai cụ trước đây học tại trường Bưởi sao có thể đối được với bố lếu. Nhưng tách ra, mượn âm thì cô đối với bố, le đối với lếu lại rất thú vị. Các cụ hóm thế đấy, đâu phải không nắm được phép tắc?

Nếu tựu cú đối rộng về thanh, tá tự đối rộng về chữ thì đồng loại đối rộng về cả hai mặt. Nó cho phép người viết chỉ cần hai vế có số chữ bằng nhau. Ví dụ, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết:

Xã tắc dĩ chi điện an
Sơn xuyên dĩ chi cải quan
(Xã tắc từ đây bền vững - Sông núi từ đây đổi mới)

Đôi câu đối ở đền thờ bà chúa Liễu Hạnh (thôn Thành Vật, Ứng Hòa, Hà Nội) ghi:

Vô danh thiên địa chi thủy
Hữu danh thiên địa chi thánh
(Ban đầu trời đất không tên - Thánh về trời đất thành tên)

Khi vịnh chiếc quạt, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương viết:

Càng nóng bao nhiêu thì càng mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày

Có người cho rằng nữ sĩ họ Hồ phá luật. Nhưng thực ra bà đã vận dụng phép liên châu đối, nghĩa là khi ý thơ liền mạch như hai chuỗi ngọc thì không cần phải đối chữ như chính danh, chỉ cần số chữ của hai vế bằng nhau. Ấy là trong thơ, còn trong phú thì còn linh hoạt hơn nữa. 

Tuy nhiên, trong làm văn, các nhà Nho vẫn rất coi trọng số chữ số trong từng vế đối phải bằng nhau.

Trong bài Hỏi thăm ông bạn bị cướp, cụ Nguyễn Khuyến viết:

Cướp của, đánh người, quân tệ nhỉ?

Xương già, da cóc, có đau không?
Rõ ràng, cả hai vế, các chữ đều không đối nhau ngoài hai câu cùng là hỏi kháy.

Cụ Nguyễn Đình Chiểu trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, mọi câu đều đối rất nghiêm theo phép chính danh. Nhưng ngay câu mở đầu lại viết theo bất đối chi đối:

Nhớ linh xưa
Côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó…

Rõ ràng, chữ hai vế không đối, nhưng ý thì bổ sung cho nhau rất đậm.

Trong Chuyện người thiếu phụ Nam Xương, nhà Nho Nguyễn Dữ viết:

Xa cách ba năm giữ gìn một tiết 
Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng

Từng vế trong mỗi câu, cũng như cả hai câu đều theo lối văn biền ngẫu, nhưng chỉ đối ý, không đối lời.
Bất đối chi đối còn được dùng khá phổ biến trong các vế tiểu đối khi viết thơ lục bát. Ví dụ trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:

Cát lầm ngọc trắng, thiệt đời xuân xanh - Nói lời lại nói, lời chưa hết lời - Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ - Truyền quân lệnh xuống, trướng tiền tha ngay…

Tóm lại, ngoài chính danh đối, 5 phép đối là những đặc cách, thể hiện rõ quan điểm “bất dĩ văn ức chí” (không câu nệ về văn để ép chí) của người xưa. Vì không biết tới 5 phép đối này mà có nhiều người đã lớn tiếng phê phán cổ nhân, những danh Nho là luôn luôn thất đối, tức là không nghiêm chỉnh. Đối ngẫu là sở trường của người xưa. Các cụ rất nghiêm cẩn phép tắc chứ đâu có buông tuồng, kể cả khi trào phúng, cho dù được phép “hỉ bất khả chấp” (đùa cợt không trách).

https://nguoihanoi.vn/sau-phep-doi-xua-2270.html

---



BỔ SUNG


1.

第一章
[原文]

道可道也①,非恒道也②。名可名也③,非恒名也。无名④,万物之始也;有名⑤,万物之母也⑥。故恒无欲也⑦,以观其眇⑧;恒有欲也,以观其所徼⑨。两者同出,异名同谓⑩。玄之又玄⑾,众眇之门⑿。

 

[译文]

“道”如果可以用言语来表述,那它就是常“道”(“道”是可以用言语来表述的,它并非一般的“道”);“名”如果可以用文辞去命名,那它就是常“名”(“名”也是可以说明的,它并非普通的“名”)。“无”可以用来表述天地浑沌未开之际的状况;而“有”,则是宇宙万物产生之本原的命名。因此,要常从“无”中去观察领悟“道”的奥妙;要常从“有”中去观察体会“道”的端倪。无与有这两者,来源相同而名称相异,都可以称之为玄妙、深远。它不是一般的玄妙、深奥,而是玄妙又玄妙、深远又深远,是宇宙天地万物之奥妙的总门(从“有名”的奥妙到达无形的奥妙,“道”是洞悉一切奥妙变化的门径)。

 

[注释]

①第一个“道”是名词,指的是宇宙的本原和实质,引申为原理、原则、真理、规律等。第二个“道”是动词。指解说、表述的意思,犹言“说得出”。
②恒:一般的,普通的。
③第一个“名”是名词,指“道”的形态。第二个“名”是动词,说明的意思。
④无名:指无形。
⑤有名:指有形。
⑥母:母体,根源。
⑦恒:经常。

⑧眇(miao):通妙,微妙的意思。
⑨徼(jiao):边际、边界。引申端倪的意思。
⑩谓:称谓。此为“指称”。
⑾玄:深黑色,玄妙深远的含义。
⑿门:之门,一切奥妙变化的总门径,此用来比喻宇宙万物的唯一原“道”的门径。

 

[延伸阅读1]王弼《道德经注》

道可道,非常道,名可名,非常名。
可道之道,可名之名,指事造形,非其常也,故不可道,不可名也。

无名,天地之始;有名,万物之母。

凡有皆始於无,故未形无名之时,则为万物之始。及其有形有名之时,则长之育之,亭之毒之,为其母也。言道以无形无名,始成万物,以始以成,而不知其所以玄之又玄也。

故常无欲,以观其妙;

妙者,微之极也。万物始於微而后成,始於无而后生,故常无欲空虚,可以观其始物之妙。

常有欲,以观其徼。

徼,归终也。凡有之为利,必以无为用;欲之所本,适道而后济。故常有欲,可以观其终物之徼也。

此两者,同出而异名。同谓之玄,玄之又玄,众妙之门。

两者,始与母也。同出者,同出於玄也。异名所施,不可同也,在首则谓之始,在终则谓之母。玄者,冥也,默然无有也,始、母之所出也,不可得而名,故不可言。同名曰玄,而言同谓之玄者,取於不可得而谓之然也。谓之然则不可以定乎一玄而已,则是名则失之远矣,故曰玄之又玄也。众妙皆从同而出,故曰众妙之门也。

 

[延伸阅读2]苏辙《老子解》

道可道,非常道。
莫非道也。而可道者不可常,惟不可道,而後可常耳。今夫仁義禮智,此道之可道者也。然而仁不可以為義,而禮不可以為智,可道之不可常如此。惟不可道,然後在仁為仁,在義為義,在禮為禮,在智為智。彼皆不常,而道常不變,不可道之能常如此。

名可名,非常名。
道不可道,而況可得而名之乎?凡名皆其可道者也。名既立,則圓方曲直之不同,不可常矣。

無名,天地之始;有名,萬物之母。常無,欲以觀其妙;常有,欲以觀其徼。
自其無名,形而為天地,天地位而名始立矣。自其有名,播而為萬物,萬物育而名不可勝載矣。故無名者道之體,而有名者道之甩也。聖人體道以為天下用,入於衆有而常無,將以觀其妙也。體其至無而常有,將以觀其徼也。若夫行於其徼而不知其妙,則粗而不神矣。留於其妙而不知其繳,則精而不遍矣。

此兩者,同出而異名,同謂之玄。
以形而言有無,則信兩矣。安知無運而為有,有復而為無,未嘗不一哉。其名雖異,其本則一,知本之一也,則玄矣。凡遠而無所至極者,其色又玄,故老子常以玄寄極也。玄之又玄,衆妙之門。言玄則至矣,然猶有玄之心在焉。玄之又玄則盡矣,不可以有加矣,衆妙之所從出也。


https://www.daodejing.org/1.html

...


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.