Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách 晴耕雨讀

04/07/2025

Văn bia Hà Tĩnh (tổng quan 2008) và khảo sát bia ở đền huyện Nghi Xuân (2017)

Có một bài tổng quan về văn bia Hà Tĩnh của học giả Đinh Khắc Thuân đã phát biểu năm 2008.

Dưới đó là một báo cáo khảo sát đền huyện Nghi Xuân ở Hà Tĩnh - tức đến thờ Lý Nhật Quang (tam tòa đại vương).

Tháng 7 năm 2025,

Giao Blog


---

I. Văn bia Hà Tĩnh


Văn bia tỉnh Hà Tĩnh (Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (86) 2008; Tr.40-47)


Cập nhật lúc 21h45, ngày 24/01/2010


VĂN BIA TỈNH HÀ TĨNH

PGS.TS. ĐINH KHẮC THUÂN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trong chương trình sưu tầm, nghiên cứu văn bia tỉnh Hà Tĩnh, chúng tôi tập hợp được cả thảy 64 đơn vị văn bản. Số lượng này không hoàn toàn phản ánh đúng thực chất số văn bia vốn có ở đây, một vùng đất giàu truyền thống Nho học và khoa bảng. Tuy nhiên, những thông tin có được từ số văn bia này, lại vô cùng phong phú, góp phần nghiên cứu nhiều mặt về lịch sử, văn hóa xã hội ở vùng đất xa xôi - phía nam của nước Đại Việt trong các triều đại phong kiến.

1. Thực trạng văn bia Hà Tĩnh

Trong số 64 văn bia Hà Tĩnh được sưu tập, có tới 23 văn bản tập trung ở huyện Can Lộc, tiếp đó là huyện Nghi Xuân 10 văn bản, Hương Sơn 7 văn bản, Đức Thọ 5 văn bản, Lộc Hà 5 văn bản, Thạch Hà 4 văn bản, thành phố Hà Tĩnh 4 văn bản, Thị xã Hồng Lĩnh 2 văn bản, huyện Cẩm Xuyên 3 văn bản và Kỳ Anh 1 văn bản. Thời kì Viện Viễn đông Bác cổ Pháp sưu tập văn bia trước năm 1945, cũng đã sưu tập ở Hà Tĩnh, song mới chỉ tiến hành được một số địa phương thuộc huyện Can Lộc. Trong số văn bia được sưu tập này có một số bia ở địa phương hiện đã bị mất. Rất tiếc là chưa được sưu tập hết, nên đã có không ít bia đá Hà Tĩnh bị phá hủy, thất lạc trong chiến tranh phá hoại của Mỹ. Ngoài bia đá ra, ở Hà Tĩnh có một số chuông đồng, như chuông thời Trần ở Cẩm Thịnh, chuông thời Tây Sơn ở Cẩm Thịnh, Cẩm Xuyên; chuông thời Lê ở chùa Hương Tích, khánh đá thời Lê Vĩnh Thịnh đầu thế kỉ XVII ở đền Gôi Vị, Hương Sơn...

Ở Hà Tĩnh hiện tại chưa phát hiện được văn bia thời Lý - Trần nào. Văn bản thời Trần sớm nhất là bài thơ của Phạm Sư Mạnh khắc trên chuông Cẩm Xuyên. Tiếp đó thời Lê sơ, có một số văn bia như bài thơ của Lê Thánh Tông khắc lên bia đá ở Thạch Bàn, Thạch Hà, bia mộ Thúc Giang xã Đức Châu, Đức Thọ đều khắc vào thế kỷ XV, hoặc bia Vũ Mục khắc năm Hồng Thuận thứ 4 (1512) thời Lê sơ. Sang thế kỷ XVI, nhà Mạc thay thế nhà Lê từ năm 1527, nhưng sau đó nhà Lê Trung hưng cai quản vùng đất từ Thanh Hóa trở vào, trong đó có đất thuộc Hà Tĩnh hiện nay. Thời kỳ này Hà Tĩnh cũng có một văn bia, đó là bia chùa Gia Hưng ở Nguyệt Áo, Can Lộc dựng năm Quang Hưng thứ nhất (1589), niên hiệu nhà Lê. Sang đầu thế kỷ XVII, Hà Tĩnh có một văn bia đền thờ Văn Lý hầu Trần công ở Kim Lộc, Can Lộc, do Phùng Khắc Khoan soạn năm Hoằng Định thứ 7 (1607). Thế kỷ XVII - XVIII là thời kỳ xuất hiện và xây dựng phổ biến đình làng và chùa làng ở vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ, cùng với sự xuất hiện rộng rãi văn bia làng xã. Vùng đất Hà Tĩnh thời kỳ này cũng có khá nhiều bia được dựng, trong đó chủ yếu là bia từ đường dòng họ và di tích làng xã như đình, chùa, đền miếu, văn từ văn chỉ. Tuy nhiên do chiến tranh, nên những bia còn lại chủ yếu là bia dòng họ, vì được dựng và bảo vệ của gia đình, dòng họ.

2. Nội dung văn bia Hà Tĩnh

Để tìm hiểu sâu về nội dung phản ánh của văn bia Hà Tĩnh, chúng tôi dựa vào đặc điểm chủ yếu của từng loại hình văn bản như văn bia về chùa Phật, đình làng, đền miếu, văn miếu, văn từ, từ đường,… Vì khuôn khổ bài viết, chúng tôi xin chỉ điểm ra một số trường hợp, xem như những ví dụ.

Văn bia chùa Phật

Chùa ở Hà Tĩnh không nhiều, rất có thể là do chiến tranh mà bia đá cùng chùa Phật đã bị hủy hoại. Hiện nay chỉ có 3 văn bia chùa: một là văn bia chùa Gia Hưng xã Nguyệt Áo huyện La Sơn (nay thuộc Can Lộc), bia chùa Tĩnh Lâm xã Thạch Lâm huyện Thạch Hà dựng năm Thành Thái thứ 11 (1899), và bia chùa Yên Lạc xã Cẩm Nhượng huyện Cẩm Xuyên. Ngoài ra còn có chuông chùa Hương Tích đúc vào thời Lê và đặc biệt là chuông thời Trần mới đào được ở Cẩm Xuyên, trên thân chuông khắc bài thơ của Phạm Sư Mạnh.

Trong số văn bia chùa ở Hà Tĩnh, bia chùa Gia Hưng tuy hiện đã mờ mòn, nhưng đã có bản rập tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm do Viện Viễn đông Bác cổ Pháp in rập trước đây. Bia được dựng năm Quang Hưng thứ 11 (1588). Bài văn bia do vị đỗ Chế khoa năm Giáp Dần (1554), chức Tuyên lực công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Binh bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập thị Kinh diên, Tào Xuyên bá Đinh Bạt Tụy (1527-?) soạn; Trung thư giám hoa văn học sinh Lê Nhân Kiệt tự Văn Sùng viết chữ; và thợ đá xã An Hoạch huyện Đông Sơn là Nguyễn Tĩnh khắc bia. Thợ đá An Hoạch (Thanh Hóa) khá nổi tiếng chạm khắc văn bia từ thời Lê sơ, nhưng sang thời Mạc, thợ đá vùng Thanh Hóa - đất đối đầu với nhà Mạc không thể hành nghề ở vùng đất nhà Mạc cai quản được, nên đã chuyển vào vùng Thanh, Nghệ. Bia này được trang trí, chạm khắc tinh xảo thường gặp ở bia thời Mạc vùng đồng bằng Bắc bộ. Mặt nguyệt trên trán bia được khắc hình chim bay, hai bên là tua mây, diềm bên chạm hoa dây tay mướp (Xem hình minh họa).

Nội dung văn bia cho biết chùa Gia Hưng là danh lam ở Nguyệt áo huyện La Sơn có từ xưa, nhưng lâu ngày trở thành phế tích. Có viên quan Phụng ngự Văn Phúc tử Trần Tĩnh đứng ra tu tạo và hoàn thành vào ngày mồng 1 tháng 3 năm Quang Hưng thứ 10 (1587). Tham gia công đức xây dựng chùa còn có Thái phó Dương Quận công Nguyễn Hữu Liêu, Dương Quận chính thất Nguyễn Thị Ngọc,... Văn bia và ngôi chùa này cũng tương tự văn bia và ngôi chùa Hương Nham thị xã Tuyên Quang khắc năm Đại Chính thứ 8 (1537) thời Mạc do các quan chức của triều đình được sai phái đến đây, đã cho dựng chùa theo quy cách của ngôi chùa ở đồng bằng Bắc bộ. Thực tế chùa Gia Hưng cũng do quan chức từ phía Bắc bỏ nhà Mạc theo nhà Lê vào đây cai quản, lập ra ngôi chùa mang phong cách vùng đồng bằng Bắc bộ thế kỷ XVI, nhưng vì nơi đây thuộc nhà Lê Trung hưng cai quản, nên mang niên hiệu Quang Hưng vua Lê Thế Tông (1573-1599).

Không chỉ chùa Gia Hưng mà cả chùa Tĩnh Lâm xã Thạch Lâm huyện Thạch Hà cũng được viên quan địa phương là Tuần phủ Hà Tĩnh Liên Đình Tôn Thất Lạc đứng ra tu sửa vào năm Giáp Ngọ niên hiệu Thành Thái (1894).

Cuối cùng là chùa Yên Lạc xã Cẩm Nhượng huyện Cẩm Xuyên cũng do một quan chức là Trần Quang Diệu cúng 360 quan tiền làm lễ cầu phúc, sau lại cúng 100 quan tiền để trùng tu thập điện thánh vị.

Có thể nói chùa và văn bia chùa ở Hà Tĩnh chủ yếu là những ngôi chùa do cá nhân quan chức xây dựng, tu bổ, không hoàn toàn là chùa của làng xã như ở vùng Bắc, Trung bộ là do làng xã xây dựng và cai quản.

Văn bia đình làng

Cũng như chùa, đình làng Hà Tĩnh hầu như bị tàn phá hết trong chiến tranh. Bằng chứng là trước chiến tranh phá hoại, nơi đây có khá nhiều ngôi đình cổ như đình Hoành Sơn mà H. Le Breton đã chụp ảnh khi đến khảo cứu và biên soạn sách Le vieux An Tinh năm 1936. Hiện tại có duy nhất ngôi đình Hội Thống xã Xuân Hội huyện Nghi Xuân. Đình còn khá nguyên vẹn với các bức chạm gỗ tinh xảo có phong cách cuối Lê đầu Nguyễn. Hiện tại đình có 2 bia đá, một bia dựng năm Gia Long thứ 8 (1809) và một bia dựng năm Khải Định. Bia dựng năm Gia Long thứ 8 có đầu đề là Hậu thần bi kí. Văn bia ghi việc vị cựu Đồng tri Nghi Lĩnh bá Vũ Vinh Tiến bỏ ra 630 xâu tiền cổ, chia đều các viên sắc, binh hộ trong ấp 200 xâu, các chức sắc ở thành Thăng Long là 30 xâu để dùng vào việc công. Bốn thôn, mỗi thôn 100 xâu tiền, cho vay lãi thu lợi tức lấy tiền chi phí vào tô dung. Vì thế dân tôn bầu ông làm hậu Thần.

Nam đình ở xã Thạch Lạc huyện Thạch Hà, có 2 văn bia, 1 bia bị vỡ, một bia còn khá nguyên vẹn dựng năm Bảo Đại thứ 3 (1928). Bia này ghi việc khởi công xây dựng lại đình từ mùa đông năm Đinh Mão, đến mùa hạ năm Mậu Thìn thì hoàn thành. Tham gia xây dựng đình có các chức sắc địa phương như: Giám sát sửa đình là Chánh tổng hưu trí, sung bản tỉnh hội viên là Ngô Văn Hách; Tây giáp Đốc công đợi bổ chức Bát phẩm Đội trưởng là Dương Chi Tình...

Bia đền

Trái ngược với văn bia đình, văn bia đền hiện còn khá nhiều. Bia đền Nguyễn nhị đại vương ở xã Phất Lộc huyện Can Lộc, dựng năm Thành Thái thứ 9 (1897).

Bia đền thờ Nguyễn Biểu xã Yên Hồ huyện Đức Thọ, dựng năm Tự Đức thứ 30 (1877). Bia ghi việc phụng thờ vị Thần ở đây vốn là Thái học sinh triều Trần chức Điện tiền Thị ngự sử Nghĩa vương tôn thần, họ Nguyễn, húy Biểu, người làng Bà Hồ huyện Chi La (sau là huyện La Sơn). Đại vương bị quân Minh sát hại, được phụng thờ, rất hiển linh, giúp vua Lê Thái tổ đánh thắng quân Minh.

Bài văn bia ở miếu Nam Giới thờ Vũ Mục công, chức Nhập nội Kiểm hiệu Tư không Bình chương sự, soạn năm Hồng Thuận thứ 4 (1512). Văn bia cho biết: Ngài là con trai người anh thứ hai của Thái tổ Cao hoàng đế. Ông mất được mười tám năm thì người con thừa tự được phong làm Nhập nội Đại hành khiển, Môn hạ sảnh Tả ti Tả gián Nạp ngôn, Tri Nam đạo quân dân bạ tịch.

Bia đền Tả Ao xã Xuân Quang huyện Nghi Xuân, dựng năm Vĩnh Trị thứ 4 (1679) ghi việc trùng tu Tam tòa Đại vương linh miếu. Vị Thần ở đây là “Đại vương đến cai trị Nghệ An, rất được lòng dân, dốc sức đánh giặc, lấy thân báo đáp đất nước, anh dũng mãnh liệt còn rạng rỡ. Do đó mà lập đền phụng thờ, gọi là miếu Tam tòa Đại vương. Trong những năm niên hiệu Thịnh Đức, Vĩnh Thọ thời vua Lê, giặc Ô ngông cuồng, tiếng dao kiếm, trống chiêng vang khắp sông núi. Quan lại và dân không biết làm thế nào, duy chỉ còn dựa vào thần. Một sớm giặc bị đánh chặn, quay đầu rút lui, huyện ta mới không xảy ra việc gì. Vốn là thần của bốn vị Thánh vương, nên mưu cầu và thông minh sáng suốt đa phần nhờ vào sự cầu giúp thần vậy. Đến như binh dân, can dự vào việc sai trái cũng phải biết sợ; chiến tranh đã nhiều mà bệnh tật cũng hết, chính là đức của Đại vương ngầm giúp cho vậy”.

Bia đền Củi hay gọi là đền ông Hoàng Mười xã Xuân Hồng huyện Nghi Xuân, ghi việc tu sửa điện thờ Tam tòa thánh vị, Vạn thế mẫu nghi.

Bia văn miếu

Hà Tĩnh là đất Nho học, nên văn bia về khoa bảng, văn miếu khá phong phú.

Bia văn hội huyện La Sơn, hay bia Thành hoàng ở xã Đức Trường, huyện Đức Thọ dựng năm Vĩnh Hựu thứ 1 (1735). Văn bia ghi việc các vị trong Văn hội huyện La Sơn phủ Đức Thọ, gồm 67 vị, trong đó có 2 vị đỗ Tiến sĩ khoa Quý Sửu là Phan Như Khuê và Nguyễn Hành, cùng các chức sắc khác từ Tri phủ đến Tri huyện, Tri châu, lại viên trong huyện dựng bia. Vốn là ở xã Thanh Lãng trong huyện có vị Thị nội giám ty Lễ giám Tổng Thái giám Tham đốc Tình Quận công Bùi Phan Hữu từng dựng nhà thờ, lại cúng ruộng tế, sắm đồ tế khí. Để tỏ lòng tôn kính, dân lập điện thờ, dựng bia làm một bài văn ngợi ca công đức.

Bia khoa bảng Kiệt Thạch xã Thanh Lộc huyện Can Lộc dựng năm Cảnh Hưng thứ 16 (1755). Văn bia ngợi ca mảnh đất khoa bảng, có nhiều vị đỗ đại khoa như Hoàng Hiền đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức (1478), quê ở xã Kiệt Thạch, đứng thứ 44 trong hàng Đệ tam giáp, làm quan đến chức Tả Thị lang. Nguyễn Cung đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức (1493), quê ở xã Kiệt Thạch, đứng thứ 3 trong hàng Đệ nhị giáp, làm quan đến chức Thừa chánh sứ ty. Thái Kính đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa thi Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận (1511), quê ở xã Kiệt Thạch, đứng thứ 3 trong hàng Đệ tam giáp, làm quan đến chức Hình bộ Tả Thị lang...

Bia Khoa bảng tục biên ở nhà thờ Nguyễn Văn Trình xã Song Lộc huyện Can Lộc, dựng năm Khải Định thứ 7 (1922). Văn bia ghi tiếp các vị khoa bảng của dòng họ, như Cử nhân Ân khoa năm Mậu Thân Hoàng triều Tự Đức (1848) là Nguyễn Liên làm quan chức Quốc tử giám Tế tửu, Thừa Thiên phủ doãn. Nguyễn Văn Trình khoa thi Hội năm Mậu Tuất niên hiệu Thành Thái (1898). Cử nhân khoa Giáp Thân niên hiệu Kiến Phúc là Nguyễn Lương Cẩn. Cử nhân khoa Giáp Ngọ đời Thành Thái là Nguyễn Hữu Lượng, làm quan chức Tri huyện huyện Mộ Đức. Cử nhân khoa Canh Tý đời Thành Thái là Nguyễn Văn Tuân, làm quan chức Thị độc, hưu trí. Cử nhân khoa Kỷ Dậu đời Duy Tân; Phó bảng khoa Canh Tuất Nguyễn Quýnh. Ngoài ra còn có khá nhiều vị đỗ Tú tài, như Nguyễn Tùng, khoa Kỷ Dậu; Nguyễn Nghiên, khoa Mậu Dần; Nguyễn Du Tiến, khoa Giáp Ngọ. Nguyễn Đệ, khoa Canh Tý; Nguyễn Thứ Linh, khoa Kỷ Dậu.

Bia Thày Ngọ xã Sơn Hòa huyện Hương Sơn, dựng năm Tự Đức thứ 18 (1865). Văn bia ghi việc Tư văn của xã dựng đền thờ tiên thánh tiên hiền, lập đàn tế trời, thờ các vị hương hiền theo thứ tự kê rõ họ tên, như Đương cảnh Thành hoàng nguyên là Tiến sĩ nhà Đại Minh làm chức Án sát sứ An Nam, mỹ tự Cao sơn Cao lư Mạc sơn Hiển ứng Đại vương; cùng các hạ là Tiến sĩ triều Lê thăng chức Lại bộ Thượng thư Nhập nội Hành khiển, sung Đông các Đại học sĩ, Tổng thống thiên hạ binh mã Đô nguyên soái, tước Thái bảo Nghĩa Quận công, tặng mỹ tự Thống chinh Chiêu nghĩa Thượng thượng Thượng đẳng Tối linh Đại vương. Trải qua các triều đại gia phong mỹ tự Chương nhân Thuần đức Diên tiết Tuyên trung Hiển liệt Thượng thượng Thượng đẳng thần...

Văn bia dòng họ

Trong số dòng họ khoa bảng ở Hà Tĩnh, nổi bật là dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu (Can Lộc) và Nguyễn ở Tiên Điền (Nghi Xuân).

Dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu (Can Lộc) còn giữ được khá nhiều tư liệu Hán Nôm.Hiện tại ở từ đường họ Nguyễn thôn Lai Thạch huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh có 2 bia đá được dựng ở nhà bia hai bên trước lối ra vào. Một bia ghi về khoa thi Đình năm Mậu Thìn (1748) soạn năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748), có Nguyễn Huy Oánh đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh. Một bia ghi phả ký về Nguyễn Thám hoa ở Trường Lưu do Nguyễn Huy Oánh soạn năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756). Ngoài ra, còn có một văn bia Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1772) cũng của dòng họ Nguyễn này ghi về khoa thi của người em Nguyễn Huy Oánh là Nguyễn Huy Quýnh. Cũng cần điểm đến một bia khác thuộc dòng họ Phan thôn Vĩnh Gia cùng xã, nhưng ghi về tiểu sử bà cô của Phan Huy Oánh làm dâu họ Phan đã sinh ra Phan Kính đỗ Thám hoa khoa Quý Hợi (1743).

Văn bia Nguyễn Thám hoa gia phả kí cho biết Nguyễn Huy Oánh sinh năm Quý Tị niên hiệu Vĩnh Thịnh (1713), tên là Tàm, tự là Huy Oánh. Năm 6 tuổi nhập học, 8 tuổi đã thuộc chữ, 20 tuổi thi Hương khoa Nhâm Tí. Năm 33 tuổi, ngày mồng một tháng 4 thi Hội khoa Mậu Thìn (1748), được lấy đỗ. Ngày 25 tháng ấy thi Điện, ngày mồng 1 tháng 6 xướng danh đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ. Ngày 19 tháng 9 trở về quê, tháng 10 lên kinh nhậm chức Đãi chế ở Viện Hàn lâm. Năm Kỉ Tị (1749) làm phụng sai đạo Thanh Hoa. Năm Canh Ngọ (1750) làm chức Hiệp đồng đạo Nghệ An. Năm Nhâm Thân (1752) xây dựng nhà cửa, chợ, cầu. Năm Quý Dậu (1753) coi tuyển cử, thăng Đông các Hiệu thư khâm sai Đề điệu các xứ Hải Dương và An Quảng. Các sự kiện trên về cuộc đời Nguyễn Huy Oánh hoàn toàn phù hợp với các nguồn tài liệu khác.

Văn bia từ đường họ Phan thôn Vĩnh Gia xã Song Lộc cho biết: Thân phụ Phan Kính mồ côi cha từ nhỏ, lớn lên tìm thày học ở xã, theo đòi nghiệp thi thư. Mẹ là bà họ Nguyễn, con gái cụ Nho sinh ở Trường Lưu. Bà giỏi thêu thùa may vá, chăm chỉ việc canh cửi, chu tất mọi việc lớn bé trong nhà. Mùa thu năm Ất Mùi (1715), bà lo việc mời thày địa lý xem đất để cải táng mộ cho tổ phụ đến xứ đồng Cồn Đông. Mùa xuân năm Quý Hợi (1743), Phan Kính 29 tuổi, lại khăn gói ra Kinh theo học để thi Hội. Thi Đình, được lấy đỗ Thám hoa, sau đó được bổ chức Hàn lâm viện Đãi chế, được ban đai bạc, áo gấm, vào ra chốn lầu vàng gác ngọc.

Như vậy là họ Nguyễn và họ Phan ở Lai Thạch có quan hệ thông gia và đều là hai gia tộc lớn có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Nếu gia tộc họ Nguyễn có Nguyễn Huy Oánh là người thành đạt nhất, thì tộc họ Phan có Phan Kính là người khá nổi danh. Sự hiển đạt của Phan Kính và dòng họ Phan này có đóng góp không nhỏ của người mẹ Phan Kính là con gái họ Nguyễn, cô ruột của Nguyễn Huy Oánh.

Dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu đời nào cũng có người đỗ đạt, đặc biệt ở thế hệ Nguyễn Huy Oánh có anh em cùng đỗ đại khoa. Tuy vậy, để có được thành quả đó, con cháu dòng tộc này đã phải vượt qua muôn trùng khó khăn, kiên trì theo học. Bản thân Nguyễn Huy Oánh cũng phải trải trên 20 năm đèn sách, đến năm 36 tuổi mới đỗ đại khoa. Phan Kính cũng năm 29 tuổi mới chiếm được bảng vàng. Phan Kính tự ghi lại rằng: “Mùa xuân năm Quý Hợi (1743), Kính tôi 29 tuổi, lại khăn gói ra Kinh theo học để thi Hội. Khi qua sông Lam, vứt dao xuống sông khảng khái thề không thi đỗ thì không trở về. Từ đó luôn mang theo ý chí của lời thề đề cầu này, ngày đêm miệt mài đèn sách…”. Đó chính là ý chí lớn lao để giành lấy bảng vàng.

Cụm văn bia ở Tiên Điền, Nghi Xuân phản ánh khá cụ thể về dòng họ văn học Nguyễn Tiên Điền.

Bia Tích thiện gia huấn bi kýkhu di tích Nguyễn Du, Tiên Điền huyện Nghi Xuân, dựng năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765), ghi việc viên quan Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Lạng Sơn đẳng xứ Tán trị Thừa chánh sứ ty Thừa chánh sứ khâm sai kiêm Tri điện sự Nghi Đình hầu, người xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân phủ Đức Quang... Phúc Đình cư sĩ dựng bia ghi lời di huấn của tổ tông: gia nghiệp thi thư, nhà có khuôn phép, cháu con kế nối, giữ đạo hiếu đễ trung quân.

Bia Hồng lưu phái diễn, tại khu di tích Nguyễn Du, xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân, dựng vào năm Nhâm Ngọ (1762) niên hiệu Cảnh Hưng nhà Lê.

Mặt trước khắc chữ Phúc lớn, là thủ bút của Nguyễn Nghiễm. Mặt sau khắc họ tên Nguyễn tiên sinh, được phong tặng chức Lễ bộ Thượng thư Thái bảo, tước Nhuận Quận công và Phan quý thị, được phong tặng Nhất phẩm Tự phu nhân, gia phong Quận phu nhân.

Bia do con thứ là Nguyễn Nghiễm, đỗ Tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731), chức Nhập thị tham tòng Thượng thư Bộ Công, Tả chấp pháp kiêm Tế tửu Quốc tử giám, Nhập thị Kinh diên, tước Xuân Nhạc hầu bái dựng. Người cháu là Nguyễn Khản, Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1760), chức Đốc học Sơn Tây, Hàn lâm viện Hiệu thảo kính cẩn viết.

Bia Cầu Tiên đặt tại khu di tích Nguyễn Du, xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân, dựng năm Canh Thân (1740), niên hiệu Vĩnh Hựu thời Lê. Bài văn bia do Tiên Điền Nguyễn công, tức Nguyễn Nghiễm (1708-1775), người xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân, năm 24 tuổi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Hợi (1731) niên hiệu Vĩnh Khánh vua Lê Duy Phường, chức Thanh Hoa xứ Thanh hình hiến sát sứ ty viết.

Ngoài văn bia hai dòng họ Nguyễn ở Trường Lưu và Tiên Điền ra, còn có khá nhiều dòng họ khác khá hiển đạt được văn bia ở đây ghi lại.

Bia Chi Gia trang xã Ích Hậu huyện Lộc Hà, dựng năm Duy Tân thứ 8 (1914). Văn bia ghi Hiển tổ họ Nguyễn húy là Đức Tạo, tự là Đoan Trai, là con trai thứ của Ưu binh Đức Thạc công. Ông sinh vào năm thứ 3 niên hiệu Chiêu Thống đời Lê Mẫn đế, tức năm 1788 dương lịch, là năm mà quân Anh nhờ viện thuyền Pháp mà về nước.

Bia Văn Lý hầu họ Trần xã Kim Lộc huyện Can Lộc, dựng năm Hoằng Định 7 thứ (1607), do Phùng Khắc Khoan soạn. Văn bia về Trần công được vua đặc ban chức là Trung hưng Hiệp mưu Tá lí công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu Tổng thái giám Chưởng cung môn thừa chế sự, tước Văn Lí hầu.

Bia nhà thờ họ Nguyễn xã Nguyệt Áo huyện La Sơn (nay thuộc làng Mật xã Kim Lộc huyện Can Lộc). Văn bia do Nguyễn Đình và Nguyễn Dương soạn năm Cảnh Hưng Bính Dần (1746), ghi về Kính tiết tướng quân Hổ Bôn vệ Phó quản lãnh Nguyễn công húy Dữ, tự Bật Xuân, tên thụy là Cung Chất phủ quân. Ông sinh năm Kỷ Dậu (1669), mất ngày 12 tháng 8 năm Ất Dậu (1705). Tiên tổ ở làng Cương Gián huyện Nghi Xuân. Tổ sáu đời là Nguyễn Bật Lãng, đậu Tiến sĩ, làm quan đến chức Thái thường tự Tự khanh, sau dời nhà đến sống ở ấp Mật làng Nguyệt Áo huyện La Sơn.

Bia nhà thờ Bùi Dương Lịch ở xã Xuân Hồng huyện Nghi Xuân, do Nguyễn Văn Siêu soạn năm Tự Đức 19 (1866).

Bùi Tồn Trai người La Sơn, tên xưa là Cổ Hoan, sinh vào thời suy thoái, đạo học khó khăn, tự cho là bần sĩ, nhưng đã thi trúng Hội nguyên khoa thi Đinh Mùi đời vua Lê Chiêu Thống, sau thi Đình đỗ đầu Nhị giáp. Chưa kịp tuyển dụng thì tháng sau, quân Tây Sơn vào kinh thành, cung khuyết theo xe về Bắc. Ông vâng mệnh theo phù, đánh một trận ở Mục Sơn, binh bại ngựa mất, đường núi gập ghềnh hiểm trở, qua đạo Thái Nguyên chuyển sang lộ Sơn Nam mới trở về Thăng Long. Vâng lời mẹ trở về quê hương ở ẩn. Đó là thời kỳ ẩn trốn.

Bia Đặng tướng quân tức Đặng Đình An, xã Xuân Hồng huyện Nghi Xuân, ghi về gia tộc họ Đặng, từ cụ Cao cao tổ là quan Đề đốc, tước hầu, cụ Cao cao tổ khảo là Đức Bạn phủ sinh. Tằng tổ khảo là Hiển Khung, tước Vu Lương hầu.

Hiển tổ khảo chức Tả hiệu điểm, tước Văn Dũng hầu. Hiển khảo chức Dương vũ Uy dũng tán trị công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm Y vệ Thự vệ sự, tước Tài Lương hầu, được ban sắc tặng là Thông minh Cương nghị Anh dũng Trung trinh Trường khánh đại vương.

Từ đó tổ có công cha có đức trăm đời dài nối không dứt vậy; con hiếu cháu hiền muôn thuở mãi mãi.

Đặng tướng công được thăng chức Điện tiền Đô hiệu điểm ty Tả Hiệu điểm, tước Khuông Lộc hầu, Trụ quốc, Trung trật. Chúa thượng khen lòng thành, triều đình tán thưởng tài biện luận, liền được ban chữ tặng là Anh vĩ tướng quân Cẩm Y vệ Đô chỉ huy sứ ti Đô chỉ huy sứ Thự vệ sự, Khuông Lộc hầu, Thượng khinh xa úy.

Bia đền Tả Ao xã Xuân Quang huyện Nghi Xuân, dựng năm Vĩnh Trị thứ 4 (1679).

Lời truyền rằng Đại vương đến cai trị Nghệ An, rất được lòng dân, dốc sức đánh giặc, lấy thân báo đáp đất nước, anh dũng mãnh liệt còn rạng rỡ. Do đó mà lập đền phụng thờ, gọi là miếu Tam tòa Đại vương. Sừng sững bên trời, bày hiện khí tướng, không hại đến người.

Ngày 14 tháng 5 năm Đinh Tỵ, Trưởng quan viên của bản huyện là Tán trị Công thần Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Tham đốc Thần vũ Tứ vệ Quân vụ sự Khuông Lộc hầu Đặng Đình An đồn trấn ở đây lên kinh. Nhân đó các chức quan viên văn võ trong huyện cùng họp bàn, dâng lên xin Sắc chỉ chuẩn cho cùng nhau tính toán cải tạo xây dựng.

Đánh giá về người tài đất châu Hoan, Nguyễn Văn Siêu, danh nhân Bắc Hà, từng viết trong bài văn bia Bùi Dương Lịch vào năm 1866 như sau: Siêu tôi nghĩ đất Hoan như đất Trâu Lỗ của nước Nam, nhân tài phát đạt, đều ra gánh vác việc nước nhà. Thánh triều trung hưng, chẳng phải do tướng công gánh vác thì có ai đây. Tiến cử người dùng vào việc lớn quốc gia, đều từ kẻ sĩ đất Hoan Châu, không thể kể hết. Phần nhiều là danh thần, vũ công, văn trị, làm quan gương thanh sạch. Đấy chính là cái thể trong sạch, tuy bị vấy bẩn nhưng không thương hoại. Vì trong sạch cho nên có thể thấm nhuần muôn vật. Hiếu thay cái hiếu của người. Xem gia phong nhà quân tử thấy được việc gia đình như nghiêm chính trị, khiến mãi nghĩ suy.

Như vậy, văn bia Hà Tĩnh tuy không nhiều, song nội dung phản ánh lại khá phong phú mà bài viết này mới chỉ gợi mở đôi điều./.

(Tap chí Hán Nôm, Số 1 (86) 2008; Tr.40-47)


http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=1531&Catid=197


...

II. Đền thờ "tam tòa đại vương" = đền huyện Nghi Xuân


4.


Đặng Viết Tường

Chủ nhật, 19/03/2023 15:44 (GMT+7)

Tại huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) có nhiều đền thờ danh nhân Lý Nhật Quang. Vào tháng 3 hàng năm, người dân tổ chức lễ tế trang trọng để tướng nhớ người đã đem lại no ấm, bình yên cho quê hương xứ Nghệ.
3.

Hà Tĩnh: Đền Huyện ẩn chứa nhiều di vật giá trị

Hạnh Nguyên 15/12/2017 07:30

Sáng 14/12, Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) tổ chức Hội nghị Báo cáo kết quả bước đầu khai quật khảo cổ học đền Huyện, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân.

Theo Th.s Nguyễn Văn Anh- giảng viên Trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội), đền Huyện xưa được gọi là miếu Tam Tòa Đại vương và thường được gọi tắt là miếu Tam Tòa. Miếu còn được gọi theo tên địa danh là miếu Tả Ao bởi miếu được xây dựng tại xã Tả Ao. Tam Tòa là Thánh hiệu của Minh Uy Vương Lý Nhật Quang.

Quá trình khai quật, các nhà nghiên cứu, khảo cổ học phát hiện nhiều loại hình di vật (vật liệu kiến trúc, gốm men, đồ sứ, đồ sành, gốm thô, tiền đồng...) có niên đại từ thế kỷ I-II TCN đến thế kỷ XVII-XVIII. Sự xuất hiện của các loại gốm thô cho thấy ngay từ những thế kỷ I-II TCN nơi đây là một điểm tụ cư của cư dân thời sơ sử. Đồng thời,sự góp mặt của loại bình 6 quai cho thấy dưới thời thuộc Đường tại đền Huyện đã từng tồn tại những công trình kiến trúc lớn. Có lẽ đó cũng chính là nguyên nhân các thời Lý,Trần và Lê sau này tiếp tục chọn và xây dựng các công trình kiến trúc ở đây.

Mặc dù chưa phát hiện được dấu vết kiến trúc thời Lý tại đây song cũng đã tìm thấy một số di vật thời Lý. Các dấu vết thời Trần đã được tìm thấy ở cả 3 hố khai quật cùng với rất nhiều loại hình di vật khác nhau cho thấy dấu ấn đậm đặc của thời Trần. Tuy chỉ mới phát hiện một số cấu kiện của tháp, nhưng di vật,các ghi chú và họa tiết trang trí trên cấu kiện cho phép chúng ta tin rằng đây là một tòa tháp có quy mô khá lớn.

Giám đốc Bảo tàng Hà Tĩnh Nguyễn Trí Sơn nhấn mạnh: Những phát hiện khảo cổ học tại đền Huyện cho thấy đây là một di tích hết sức quan trọng. Trong lòng đất đền Huyện còn gìn giữ những bí mật về lịch sử cũng như giá trị văn hóa cần được khai quật và làm rõ. Vì vậy, các cơ quan chức năng cần phải phối hợp bảo tồn và quan tâm đầu tư nghiên cứu làm rõ giá trị của di tích này.

https://daidoanket.vn/ha-tinh-den-huyen-an-chua-nhieu-di-vat-gia-tri-10091521.html

2.


Các nhà nghiên cứu đã phát hiện nhiều hiện vật gồm vật liệu kiến trúc, gốm men, đồ sứ, đồ sành, gốm thô, tiền đồng... có niên đại từ thế kỷ 1-2 trước Công nguyên đến thế kỷ 17-18 ở di chỉ Đền Huyện.

Hà Tĩnh khai quật nhiều hiện vật thời Lý, Trần ở di chỉ Đền Huyện ảnh 1Các đại biểu xem hiện vật đã được khai quật. (Ảnh: Công Tường/TTXVN)

Sáng 14/12, Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh cùng với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức Hội nghị báo cáo những kết quả bước đầu khai quật khảo cổ ở Đền Huyện thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, khẳng định những hiện vật khai quật được là của thời Lý, Trần.

Trước đó, ngày 2/12/2017, các nhà nghiên cứu và sinh viên Khoa Lịch sử (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) đã bắt đầu tổ chức khai quật ba hố với 150m2, tại di tích Đền Huyện thuộc địa bàn xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân. 

Qua khai quật, các nhà nghiên cứu đã phát hiện nhiều hiện vật gồm vật liệu kiến trúc, gốm men, đồ sứ, đồ sành, gốm thô, tiền đồng... có niên đại từ thế kỷ 1-2 trước Công nguyên đến thế kỷ 17-18. Sự xuất hiện của các loại gốm thô cho thấy ngay từ những thế kỷ 1-2 trước Công nguyên, nơi đây là một điểm tụ cư của cư dân thời sơ sử.

Những phát hiện này cung cấp manh mối cho việc nghiên cứu giai đoạn Tiền sơ sử khu vực Nghi Xuân và khu vực Đền Huyện, là nơi cư trú của các cộng đồng cư dân dọc bên hữu ngạn sông Lam thế kỷ 1-2 trước Công nguyên.

           

Kết quả khai quật cho thấy sự tập trung đậm đặc của các loại vật liệu kiến trúc thời Đường cùng nhiều loại hình đồ gốm men, trong đó, sự góp mặt của loại bình 6 quai cho thấy, dưới thời thuộc Đường tại Đền Huyện đã từng tồn tại những công trình kiến trúc lớn. Sự xuất hiện của kiến trúc lớn tại đây dưới thời thuộc Đường cho thấy vị thế địa chính trị, địa kinh tế quan trọng của địa điểm này trong lưu vực sông Lam và chính là nguyên nhân các thời Lý, Trần, Lê sau này tiếp tục chọn, xây dựng các công trình kiến trúc ở đây.

           

Các loại hình hiện vật khai quật được ở Đền Huyện cũng cho thấy các kiến trúc thời Trần tại đây được trang trí theo phong cách hoàng cung với các đề tài trang trí như hình rồng, lá đề... thể hiện tính vương quyền và tư tưởng của Phật giáo.

Thạc sỹ Nguyễn Văn Anh, Khoa Lịch Sử (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn), Trưởng đoàn khảo cổ cho biết: “Kết quả khai quật bước đầu phát hiện một số dấu vết kiến trúc cũng như một số di vật của thời Trần cho đến thời Lê. Kết quả của việc khai quật lần này sẽ mở ra cơ hội để có thể tìm hiểu kỹ hơn và làm rõ các giá trị lịch sử, văn hóa của di tích Đền Huyện mà chúng tôi cho rằng đây là một di tích rất quan trọng."

Trong Thư tịch và văn bia cho thấy Đền Huyện xưa được gọi là miếu Tam Tòa Đại vương và gọi tắt là miếu Tam Tòa. Miếu còn được gọi theo tên địa danh là miếu Tả Ao, bởi miếu được xây dựng tại xã Tả Ao trước đây. Tam Tòa không có nghĩa là 3 tòa nhà như một số người giải thích mà là Thánh hiệu của Minh Uy Vương Lý Nhật Quang.

Thời gian tới, Hà Tĩnh sẽ có kế hoạch bảo vệ nghiêm ngặt khu di tích Đền Huyện và xây dựng tài liệu đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích quốc gia./.

(TTXVN/Vietnam+)

https://www.vietnamplus.vn/ha-tinh-khai-quat-nhieu-hien-vat-thoi-ly-tran-o-di-chi-den-huyen-post479697.vnp


1.

Di tích-Danh thắng-Lễ hội

Báo cáo khảo cổ di tích đền Minh Uy Vương Lý Nhật Quang

SỞ VH,TT&DL HÀ TĨNH
BẢO TÀNG TỈNH
______________________
                Số:           /BTT
V/v tổ chức khai quật khảo cổ học
                 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                               Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
____________________________________________
                     Hà Tĩnh, ngày  01 tháng  12  năm 2017

                     

 
            Kính gửi:  
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
- UBND huyện Nghi Xuân;
- Phòng Văn hóa Thông tin huyện Nghi Xuân;
- UBND xã Xuân Giang, h. Nghi Xuân.
 
Thực hiện Quyết định số: 4635/QĐ-BVHTTDL ngày 30/11/2017 của Bộ VH, TT&DL về việc cho phép Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội khai quật khảo cổ tại di tích đền Huyện, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh xin báo cáo việc tổ chức khai quật, với các thành viên sau:
1. ThS Nguyễn Văn Anh, Giảng viên Bộ môn Khảo cổ học, Khoa Lịch sử, trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, Chủ trì khai quật, trưởng đoàn.
2. ThS Trần Phi Công, Trưởng phòng Nghiên cứu-Sưu tầm, Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh; Phó đoàn.
Cùng các cán bộ của Phòng NC-ST, Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh và 28 Sinh viên năm thứ 4, khoa lịch sử, trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội.
Thời gian từ ngày 01 tháng 12 đến ngày 30 tháng 12 năm 2017.
Địa điểm: đền Huyện, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân.
(Đính kèm Quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc cho phép khai quật khảo cổ học ).
Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh xin kính báo để các cơ quan, đơn vị được biết, đồng thời đề nghị tạo điều kiện giúp đỡ đoàn thực hiện tốt chuyến công tác.
Kính mong được sự quan tâm, giúp đỡ của lãnh đạo các cấp.
Trân trọng cảm ơn./.
 

Nơi nhận:                                         
- Như kính gửi;
- Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội;
- Phòng Quản lý DSVH;
- Giám đốc, Phó GĐ;
- Phòng NC-ST;
- Lưu VT.
                           GIÁM ĐỐC
 
 
 
 
 
                      Nguyễn Trí Sơn

 
 
 
 
CHƯƠNG TRÌNH BÁO CÁO KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU KHAI QUẬT
 DI TÍCH ĐỀN HUYỆN- XÃ XUÂN GIANG- NGHI XUÂN
-----------------------------------------
 
1. Ổn định tổ chức, thông qua chương trình:  đ/c Nguyễn Thị Hồng- Trưởng phòng HC-TH
2. Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu: ThS Nguyễn Trí Sơn- Giám đốc Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh.
3. Báo cáo kết quả bước đầu khai quật đền Huyện: ThS Nguyễn Văn Anh- Khoa Lịch sử, trường ĐH KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ trì khai quật.
4. Phát biểu của GS-TS Nguyễn Văn Kim, Phó Hiệu trưởng trường ĐH KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.
5. Phát biểu của ThS Nguyễn Cảnh Thụy- Phó giám đốc Sở VH, TT&DL Hà Tĩnh
6. Phát biểu của đại diện lãnh đạo huyện Nghi Xuân
7. Phát biểu của đại diện lãnh đạo xã 
 
 
  
 
 
BÁO CÁO KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU KHAI QUẬT DI TÍCH ĐỀN HUYỆN
(Thôn Hồng Tiến, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh)
 
I. MỞ ĐẦU
Di tích Đền Huyện xưa được gọi là đền Tả Ao, nơi thờ Minh Uy vương Lý Nhật Quang; lại có truyền thuyết, đền là nơi thờ ông Bờ Ao, tức Tả Ao thiền sư, nhà Phong thủy nổi tiếng dưới thời Lê Trung hưng. Đền được xây dựng trên một gò đất cao bên Hữu ngạn dòng Lam Giang, xưa thuộc xã Tả Ao, tổng Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An, nay thuộc thôn Hồng Tiến, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, trong khu vực có tọa độ 18°39’39’’ Vĩ độ Bắc; 105°44’57’’ Kinh độ Đông.

Sách Đồng Khánh dư địa chí viết, mục Danh thắng huyện Nghi Xuân viết “Đền thiêng Tả Ao: ở xã Tả Ao, tổng Xuân Viên thờ thần Tam Tòa. Tra trong Tự điển, thần Tam Tòa là con thứ 8 của vua Lý Thái Tông[1]. Năm Đinh Tỵ, niên hiệu Vĩnh Trị nhà Lê, Khuông quận công cho trùng tu và lập bia thờ có phần trang trọng. Đền này là ngôi đền thiêng trong bản huyện”[2]. Mặc dù là một danh thắng của Nghi Xuân nhưng trải qua những biến động của xã hội và thời cuộc, đền đã bị phá hủy hoàn toàn. Năm 1976, dấu vết đền Huyện được các nhà khảo cổ học phát hiện. Năm 1990, các cuộc điều tra và thăm dò khảo cổ học được thực hiện tại đây. Kết quả thăm dò khảo cổ học tại Đền Huyện đã phát hiện nhiều loại hình di vật, trong đó có di vật gốm men và vật liệu kiến trúc thời Lý, Trần. Kết quả khai quật thăm dò cho thấy, Đền Huyện được khởi dựng từ thời Lý. Tuy nhiên tính chất, quy mô của Đền Huyện như thế nào thì cần thêm nhiều bằng chứng hơn nữa.

Sau hơn 40 năm phát hiện và gần 30 năm được điều tra, thăm dò, mọi nghi vấn về di tích này vẫn chưa được giải đáp. Thực hiện kế hoạch đào tạo ngành cử nhân Lịch sử của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Khoa Lịch sử và Bảo tàng Hà Tĩnh; được phép Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sự đồng ý của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Tĩnh. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Bảo tàng Hà Tĩnh phối hợp khai quật di tích Đền Huyện. Cuộc khai quật nhắm đến các mục tiêu cụ thể như sau:

- Điều tra xác định phạm vi của di tích;

- Khai quật thăm dò xác định diễn biến địa tầng, tìm kiếm các di tích, di vật trên cơ sở đó tìm hiểu niên đại, tính chất và diễn biến của di tích qua các thời kỳ.
Trong quá trình điều tra, khai quật tại địa phương, đoàn công tác nói chung, Thầy và trò Trường Đại học Khoa học và Nhân văn đã nhận được sự giúp đỡ có hiệu quả của lãnh đạo xã Xuân Giang; thôn Hồng Tiến và đặc biệt là sự giúp đỡ ân cần, tình cảm trìu mến của bà con nhân dân thôn Hồng Tiến. Nhân đây Đoàn xin gửi lời cảm ơn chân thành và xin ghi nhận những tình cảm tốt đẹp đó.

II. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, KHAI QUẬT DI TÍCH ĐỀN HUYỆN
II.1. Đền Huyện qua các nguồn tư liệu và kết quả điều tra khảo cổ học.
Thư tịch sớm nhất hiện biết liên quan đến đền Huyện là tấm bia Trùng tu Tam Tòa đại vương linh miếu bi ký. Bia có niên hiệu Vĩnh Trị (1676-1679) đời vua Lê Hy Tông, bia bị vỡ thành nhiều mặt, đã được lắp ghép và dựng lại trong khuôn viên của đền. Văn bia cho biết đây vốn là miếu thờ (Minh Uy) Đại vương gọi là Tam Tòa đại vương, dựng trên đất bằng xã Tả Ao, đến thời Lê Trung hưng đã bị đổ nát chỉ còn nền móng. Năm Đinh Tỵ, Thượng tướng quân Tham đốc Thần vũ Tứ vệ quân vụ sự Khuông lộc hầu Đặng Đình An đứng lên hưng công trùng tu, tôn tạo lại miếu. Bia này cũng được Đồng Khánh dư địa chí nhắc đến, theo Đồng Khánh dư địa chí thì đền được trùng tu năm Đinh Tỵ, niên hiệu Vĩnh Trị, tức năm 1677.

Theo Đồng Khánh dư địa chí cho biết, đền thiêng Tả Ao là một danh thắng của huyện Nghi Xuân. Theo ghi chép của Đồng Khánh dư địa chí có thể thấy bên cạnh gọi đền là Tam Tòa thì đền còn được gọi theo tên địa danh ghép với tính chất của đền, hay nói cách khác đền thiêng Tả Ao có thể được hiểu là: đền thiêng ở xã Tả Ao. Như vậy, với tình hình tư liệu hiên có, ta biết đền, từ trước năm Đinh Tỵ (1677) tại vị trí đền Huyện đã có các công trình kiến trúc, đây là nơi thờ Minh Uy vương Lý Nhật Quang, miếu gọi theo tên thánh của ông là miếu Tam Tòa. Thư tịch không cho chúng ta biết gì hơn về tính chất, quy mô cũng như niên đại khởi dụng của miếu.

Kết quả điều tra cho thấy, đền Huyện là một di tích có quy mô khá lớn, diện phân bố trên một không gian rộng lớn khoảng 1000m2, phía Bắc đến bờ Hữu sông Lam, hai phía Nam và Đông đến bờ Hữu của lạch đền Huyền (hói đền Huyện). Ở phía Bắc, nơi tiếp giáp với sông Lam, kết quả khảo sát những năm 90 cho biết, tại đây có nhiều đồ sành sứ. Hiện nay, mặc dù việc kè bờ sông, đào đầm nuôi thủy sản đã phá hủy tầng văn hóa song trong lớp đất còn thấy nhiều đồ gốm men, sành sứ có niên đại thời Trần và thời Lê sơ. Niên đại và tính chất phân bố của các di vật tại đây khiến một số nhà nghiên cứu nghĩ rằng đền Huyện là một điểm nằm trong hệ thống cảng Hội Thống – Phù Thạch; Ở phía Đông, cách trung tâm đền ngày nay khoảng 100m vẫn thấy rất nhiều di vật gạch ngói, gốm men sành sứ có niên đại từ thời Trần đến thời Lê Trung hưng, trong đó đáng lưu ý tại khu vực giếng Tả Ao có khá nhiều mảnh bao nung, một dụng cụ quan trọng trong sản xuất gốm men. Hiện vật tập trung nhiều nhất là trong khu vực từ giếng Tả Ảo về phía Tây. Đây cũng là khu vực có địa hình cao hơn xung quanh từ 50cm-150cm. Hiện vật hết sức đa dạng phong phú gồm gạch ngói, gốm men, đồ sứ và đồ sành, trong đó nhiều nhất vẫn là vật liệu kiến trúc. Có thể dễ dàng bắt gặp sự hiện diện của các loại vật liệu kiến trúc thuộc các thời Tùy Đường, Lý, Trần và thời Lê. Các di vật này phản ánh phần nào chiều sâu lịch sử của địa điểm này. Trên cơ sở kết quả điều tra, chúng tôi đã mở 3 hố khai quật (ký hiệu là H1, H2 và H3), nơi chúng tôi dự đoán vốn là Trung tâm của đền Huyện.

II.2. Kết quả khai quật tại H1
Hố khai quật số 1 (H1) hình chữ nhật, chạy dài theo chiều Bắc – Nam, diện tích 30m2 được mở trên phạm vi vườn sắn cách Hậu Cung đền hiện nay khoảng 100m về phía Bắc, cách đầm tôm phía sau đền khoảng 30m. Trên mặt đất khu vực này có nhiều ngói mũi sen và gốm men thời Trần. Tại đây, lớp canh tác dày trung bình 20-30cm trong lẫn hiện vật của nhiều thời, trong đó chủ yếu là di vật thời Trần. Ở độ sâu trung bình 30cm so với mặt đất là lớp gạch, ngói phân bố đậm đặc thành cụm trong đó chủ yếu là là ngói sen.

Ngói sen tìm được tại H1 gồm ngói lợp thân mái và ngói sen lợp diềm mái, chất liệu đất sét pha cát, màu đỏ, hồng đỏ. Không tìm thấy mảnh nào còn đủ dáng, tất cả đều là mảnh vỡ, ngói rộng trung bình 18-20cm, mũi sen hất cao, đuôi có móc gài. Ngói sen lợp diềm mái đầu hình đuôi én với phần giữa là cánh sen chính, hai bên là cánh phụ, trên lưng gắn lá đề cân trang trí hình rồng. Khác với lá đề cân cùng loại tìm thấy trong các di tích thời Trần ở vùng Bắc Bộ, lá đề cân trang trí rồng gắn trên ngói sen lợp diềm mái ở đây có hai loại, loại thứ nhất trang trí 1 hình rồng ở tư thế trườn từ trên xuống dưới, đầu ngẩng cao vờn cầu lửa, loại thứ hai là lá đề trang trí đôi hai rồng, vờn cầu lửa như thường thấy ở các di tích thời Trần ở vùng Bắc Bộ. Bên cạnh lá đề cân gắn trên ngói sen lợp diềm mái tại H1 cũng tìm thấy lá đề lệch hai mặt trang trí hình rồng.

Tại H1 cũng tìm thấy khá nhiều đồ gốm men, chủ yếu là bát, âu chân đèn thuộc các dòng men: men ngọc, men trắng, men nâu, gốm men trắng hoa lam. Gốm men ngọc số lượng không nhiều, đáng chú ý có một số mảnh bình 6 quai, bát trong lòng có con kê vuông, chân đế đặc,... là những sản phẩm tiêu biểu của gốm men thời thuộc Đường thế kỷ VII-IX; Dòng men trắng chủ yếu là bát có dáng hình cầu, thành còn tròn đều, miệng loe, trong lòng có con kê 5 mấu hoặc dấu xếp nung trực tiếp. Dòng men nâu có các loại bát hình phễu thành loe vát, trong lòng có dấu con kê 5 mấu; các loại âu hình cầu, đáy phẳng, trong phủ men trắng. Đây là những loại hình gốm men điển hình của thời Trần thế kỷ XIII.

Bên cạnh các loại hình vật liệu kiến trúc, gốm men tại đây cũng tìm được một số tiền đồng và xỉ sắt. Tiền đồng sớm nhất tìm được tại H1 là đồng Trị Bình nguyên bảo (治平元寶), đúc năm Trị Bình Long ứng (治平龍應 (1205-1210)) thời vua Lý Cao Tông (1186-1210); đồng có niên đại muộn nhất tìm được tại đây là đồng Minh Mệnh thông bảo (明命通寶) đúc dưới thời vua Minh Mệnh nhà Nguyễn (1820-1840).
Tại H1 cũng đã tìm thấy một số mảnh gốm giai đoạn sơ sử, chủ yếu là mảnh nồi, thân tròn, miệng loe, văn thừng. Sự xuất hiện của những di vật này ở đây cho thấy, có thể ngay từ những thế kỷ trước Công nguyên đền Huyện đã là nơi quần cư của, những nhóm cư dân này chắc hẳn có mối quan hệ với các cư dân Xuân An, Bãi Cọi, vv...

II.3. Kết quả khai quật tại H2.
Hố khai quật số 2 (H2) hình chữ nhật, diện tích 44m2, dài Bắc Nam 11m; rộng Đông – Tây 4m. H2 mở cắt ngang qua vị trí chuyển đổi địa hình thấp ở phía Nam và địa hình cao ở phía Bắc, Cách Tiền Đường hiện tại khoảng 30m về phía Tây, nơi tập trung rất nhiều gạch các loại, trong đó đáng chú ý, lẫn trong các loại gạch vỡ tại đây đã tìm thấy lá đề trang trí hình tháp, một số cấu kiện hình đấu, một bộ phận kết nối trong kiến trúc.

Ở độ sâu trung bình 20cm – 30cm so với mặt đất hiện tại, tại phía Bắc của hố khai quật đã phát hiện vết tích tường gạch đổ theo chiều Đông Bắc – Tây Nam và dấu vết tường này còn tiếp tục chạy về phía Bắc. Tường được xếp bằng gạch và các cấu kiện. Đáng chú ý, trong số cấu kiện đã phát hiện có cấu kiện có mặt cắt ngang hình chữ L, cao 36cm; rộng cạnh thứ nhất 32cm; cạnh còn lại rộng 16,5. Mặt ngoài của chân chữ L trang trí hình rồng. Rồng ở đây là loại “rồng giun” thân uốn khúc hình túi vải mềm mại, đầu ngẩng cao vờn cầu lửa; mặt ngoài cạnh dài để trơn, mặt trong có khắc 5 chữ Hán: Lục tầng tam thập lục (六曾三十六). Các chữ Hán này cho phép suy đoán đây là cấu kiện của một kiến trúc nhiều tầng và đây là cấu kiện thứ 36 thuộc tầng thứ 6. Cấu trúc, hoa văn trang trí và đặc biệt là các cấu kiện đấu củng đã tìm được ở khu vực này cho phép suy đoán đây là những cấu kiện của một tòa tháp và dấu vết tường đổ chính là phần tường của tòa tháp đó.
Bên cạnh cấu kiện này còn tìm thấy 2 mảnh cấu kiện có chữ khác, các cấu kiện bị vỡ, chữ được khắc ở mặt sau, mảnh thứ nhất có chữ: Ngũ ...(五...); mảnh thứ hai có chữ .... Ngũ (...五). Với quy luật ghi chú trên các cấu kiện có thể đoán mảnh thứ hai thuộc tầng thứ 5 và mảnh còn lại là mảnh thứ ...năm.

Dấu vết tường đổ và những cấu kiện tháp tìm được tại đây cho phép khẳng định, tại H2 có dấu vết một tòa tháp nhiều tầng được xây ghép bằng các modul đúc sẵn bằng đất nung. Cấu trúc, quy mô và đặc biệt là các ghi chú trên các cấu kiện cho phép suy đoán tháp có cấu trúc ít nhất là 9 tầng, quy mô có thể là tương đương với tháp Bình Sơn (Vĩnh Phúc).

Bên cạnh các cấu kiện tháp, H2 cũng là vị trí tập trung nhiều gạch chữ nhất màu xám, xương mịn, đanh, trang trí văn thừng; một số gạch múi bưởi. Gạch chữ nhật màu xám và gạch múi bưởi tìm thấy ở đây giống với gạch xây dựng tháp Nhạn (Nam Đàn, Nghệ An). Đây là những loại gạch tiêu biểu của thời thuộc Đường thế kỷ VII.

 II.3. Kết quả khai quật tại H3.
Hố khai quật số 3 (H3) hình chữ L, diện tích 97m2, hố dài theo chiều Đông Tây, cách H1 7m về phía Tây. Tại H3 đã phát hiện dấu vết bó nền, đường xếp ngói và các gia cố móng trụ.

Dấu vết bó nền và gia cố móng trụ xuất lộ dọc theo chiều dài của hố đào. Bó nền dài 20m và tiếp tục chạy về phía Đông. Bó nền được xếp bằng hàng gạch nghiêng, thân tường được xếp bằng gạch và ngói sen.

Có tổng cộng 11 dấu vết gia cố móng trụ đã được làm xuất lộ được ký hiệu lần lượt từ MT01 đến MT11. Các móng trụ hình vuông, kích thước trung bình 40 x40cm và 60x60cm, được đầm bằng gạch và ngói. Các móng trụ này thuộc về hai đơn nguyên kiến trúc khác nhau, trong đó các móng trụ có ký hiệu MT01, MT02, MT03, MT04 MT05 và MT06 thuộc về đơn nguyên kiến trúc thứ nhất (ký hiệu là KT01). Các móng trụ này cùng và bó nền tạo thuộc về kiến trúc KT01, cho thấy kiến trúc KT01 có giới hạn phía Bắc là phần bó nền đã xuất hiện, phần nền mở rộng về phía Nam. Sự phân bố của các móng trụ cho phép suy đoán KT01 nằm dài theo chiều Đông Tây, kết cấu nhiều gian, độ rộng bước gian trung bình là 390-410cm; khoảng cách từ mép ngoài bó nền đến tim cột ngoài (có thể là cột quân) trung bình 90-100cm; khoảng cách từ cột ngoài đến cột tiếp theo (có thể là cột cái) là 210cm. Với bước gian và khoảng cách cột như trên có thể thấy KT01 là một kiến trúc có quy mô khá lớn, với quy mô kiến trúc như vậy, chắc hẳn KT01 là kiến trúc quan trọng của khu vực đền Huyện.

Các móng trụ có ký hiệu MT07, MT08, MT09, MT10 và MT 11 thuộc về đơn nguyên kiến trúc thứ 2 (được ký hiệu là KT02). Cấu trúc của KT02 chưa rõ ràng, các móng trụ này cắt phá một phần vào móng trụ của của KT01, điều đó cho thấy KT02 xây dựng khi KT01 không còn nữa.

Dấu vết đường Hoa chanh Dấu vết đường Hoa chanh nằm phía dưới của bó nền KT01, bị bó nền và một số móng trụ của KT01 cắt phá, dấu vết còn lại gồm 04 ô. Mỗi ô có kích thước trung bình 40x40cm; cánh hoa được ghép bằng ngói theo kỹ thuật nêm cối. Như vậy các di tích xuất lộ ở H3 cho thấy ít nhất đã có 3 giai đoạn kiến trúc được được ở đây cho thấy quá trình phá hủy, tôn tạo của di tích này.

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
III.1. Một số kết luận bước đầu
Thư tịch và văn bia cho thấy đền Huyện xưa được gọi là miếu Tam Tòa Đại vương và thường được gọi tắt là miếu Tam Tòa. Miếu còn được gọi là theo tên địa danh là miếu Tả Ao bởi miếu được xây dựng tại xã Tả Ao. Tam Tòa ở đây không có nghĩa là 3 tòa nhà như một số người giải thích mà Tam Tòa là Thánh hiệu của Minh Uy Vương Lý Nhật Quang.

Kết quả khai quật tại 3 hố khai quật đã phát hiện nhiều loại hình di vật gồm: vật liệu kiến trúc, gốm men, đồ sứ, đồ sành, gốm thô, tiền đồng, vv... có niên đại từ thế kỷ I-II trước Công nguyên đến thế kỷ XVII-XVIII. Sự xuất hiện của các loại gốm thô cho thấy ngay từ những thế kỷ I-II trước Công nguyên nơi đây là là một điểm tụ cư của cư dân thời sơ sử. Những phát hiện này cung cấp những manh mối cho việc nghiên cứu giai đoạn Tiền sơ sử khu vực Nghi Xuân, từ đó tìm hiểu và làm rõ đời sống văn hóa của các cư dân ở Xuân An, Bãi Cọi, đền Huyện và những thôn làng trù phú, nơi cư trú của các cộng đồng cư dân dọc bên hữu ngạn sông Lam thế kỷ I-II trước công nguyên.

Sự tập trung đậm đặc của các loại vật liệu kiến trúc thời Đường cùng nhiều loại hình đồ gốm men, trong đó có sự góp mặt của loại bình 6 quai cho thấy dưới thời thuộc đường tại đền Huyện đã từng tồn tại những công trình kiến trúc lớn. Sự xuất hiện của kiến trúc lớn tại đây dưới thời thuộc Đường cho thấy vị thế địa chính trị, địa kinh tế quan trọng của địa điểm này trong khu lưu vực sông Lam. Và có lẽ đó cũng chính là nguyên nhân các thời Lý, Trần và Lê sau này tiếp tục chọn và xây dựng các công trình kiến trúc ở đây.

Mặc dù chưa phát hiện được dấu vết kiến trúc thời Lý tại đây song cũng đã tìm thấy một số di vật thời Lý. Các dấu vết thời Trần đã được tìm thấy ở cả 3 hố khai quật cùng với rất nhiều loại hình di vật khác nhau cho thấy dấu ấn đậm đặc của thời Trần. Các kiến trúc tìm thấy ở H3 cho thấy thời Trần tại đây từng tồn tại các kiến trúc có quy mô lớn. Cùng với các loại hình di vật phát hiện tại H1 cho thấy các kiến trúc thời Trần tại đây được trang trí theo phong cách kiến trúc hoàng cung với các đề tài trang trí như hình rồng, lá đề,... thể hiện tính vương quyền và sự tư tưởng của Phật giáo.

Phát hiện dấu vết tháp tại H2 là phát hiện quan trọng nhất, mặc dù mới phát hiện một số cấu kiện của tháp nhưng di vật và đặc biệt là các ghi chú và họa tiết trang trí trên cấu kiện cho phép chúng ta tin rằng đây là một tòa tháp có quy mô khá lớn. Hai cấu kiện tháp của tầng 6 được phát hiện cho phép xác định, chiều cao phần thần tường của tầng thứ 6 tối thiểu là 72cm. Nếu tính cả chiều cao của phần áp mái bao gồm hệ đấu củng thì tầng 6 tối thiểu cũng phải có chiều cao trung bình 120-130cm. Niết bàn kinh cho biết, tháp thường có cấu trúc, 1,3, 5,7,9 hoặc 12 tầng. Các cấu kiện hiện biết thuộc tầng thứ 6, do vậy số tầng của tháp sẽ là 7, 9 hoặc 12.

Việc phát hiện kiến trúc tháp nhiều tầng tại đây là bằng chứng quan trọng cho biết dưới thời Trần, tại khu vực đền Huyện có quần thể kiến trúc chùa Tháp. Do vậy, nếu như việc thờ phụng Minh Uy vương Lý Nhật Quang được thực hiện tại đây ngay từ thời Lý thì đền tính chất của quần thể chùa tháp ở đây sẽ là cấu trúc “tiền Phật, hậu Thánh”.

III.2. Một số kiến nghị
Những cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích đền Huyện cần tuyên truyền và giải thích lại tên gọi của Đền cho đúng như kết luận của các nhà khoa học nhằm trả lại giá trị đích thực và phản ánh đúng tính chất của di tích.

Những khám phá của khảo cổ học tại đền Huyện cho thấy đền Huyện là một di tích hết sức quan trọng, trong lòng đất đền Huyện còn gìn giữ những bí mật về lịch sử cũng như giá trị văn hóa cần được khai quật, nghiên cứu và làm rõ. Do vậy, UBND tỉnh, các cấp, các ngành liên quan của tỉnh cần quan tâm đầu tư nghiên cứu làm rõ các các giá trị của di tích này.

Việc nghiên cứu và làm rõ giá trị của di tích không chỉ cho biết lịch sử của di tích mà còn là cơ sở quan trọng xác định vị trí và vai trò của miền đất Hà Tĩnh dưới thời Lý, Trần. Tư liệu thu được qua các cuộc khai quật là cơ sơ quan trọng cho việc lập hồ sơ đề nghị công nhận di tích đền Huyện là di tích cấp quốc gia.
Với những giá trị còn ẩn chứa với lòng đất, bất kỳ việc xây mới nào cũng phải được sự cho phép của các cơ quan chức năng và cần phải được khai quật khảo cổ trước khi tiến hành xây mới các công trình tại đây.
 
 


[1] Tam Tòa tức là Minh Uy vương Lý Nhật Quang. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Minh Uy vương Lý Nhật Quang là con thứ 8 của vua Lý Thái Tổ. Đồng Khánh dư địa chí chép nhầm là con thứ 8 của Lý Thái Tông. Dưới thời trị vì của vua Lý Thái Tông, Lý Nhật Quang là Chi Châu Nghệ An.
[2] Đồng Khánh dư địa chí. Nxb Thế giới (bản PDF), tr.1364. 

Tác giả bài viết: Ths: Nguyễn Văn Anh khoa lịch sử trường ĐHKHXH&NV đại hộc quốc gia Hà Nội.

http://xuangiang.nghixuan.hatinh.gov.vn/gioi-thieu/danh-thang-dia-phuong

...



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.