Chúng tôi vi vu dọc các làng ven biển ở xứ Thanh.
Chúng tôi ghé thăm phố/làng Diêm Phố dân cư đông đúc.
Chúng tôi ghé làng Nam Khê - nơi cư dân được đưa về làm muối thời Pháp thuộc.
Chúng tôi có ghé nghè Vích và chùa Vích. Vân vân.
Lạch Trường hiện lên trước mặt. Lạch Trường gắn với việc Lục Dận đưa quân theo đường thủy lên đánh Bà Triệu hồi thế kỉ thứ III.
| Lạch Trường ở xứ Thanh (nhìn từ xa xa, 2026) |
Bất giác làm nhớ những câu thơ về Bà Triệu vú dài, mà thơ diễn Nôm lịch sử viết trước năm 1890.
"Sĩ-huy nối giữ tước nhà:
Dứt đường thông hảo gây ra cừu thù.
Cửa hiên phút bỗng hệ tù,
Tiết mao lại thuộc về Ngô từ rày.
Binh qua trải bấy nhiêu ngày,
Mới sai Lục-dận sang thay phiên thần.
Anh hùng chán mặt phong trần,
Nữ nhi lại cũng có lần cung đao.
Cửu-chân có ả Triệu-kiều,
Vú dài ba thước
Gặp cơn thảo
Đem thân bồ liễu theo loài bồng tang.
Đầu voi phất ngọn cờ vàng,
Sơn thôn
Chông gai một cuộc quan hà,
Dẫu khi chiến tử còn là hiển vinh.
Từ giờ Ngô lại tung hoành,
Đặt làm Giao-quảng hai thành mới phân."
| Thơ quốc ngữ, đã xuất bản năm 1875 |
Tôi hay lấy năm 1890 là một cái mốc trong lịch sử cận hiện đại Việt Nam.
Tháng 1 - tháng 4, năm 2026,
Hà Nội - Xứ Thanh,
Giao Blog
---
BỔ SUNG
2.
Cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh
Nhân vật lịch sử
Triệu Thị Trinh hay Triệu Quốc Trinh, Triệu Ẩu, hay Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 nǎm 226 (Bính Ngọ) tại miền núi Quân Yên (hay Quan Yên), quận Cửu Chân (nay thuộc làng Quan Yên (hay còn gọi là Yên Thôn), xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa) trong một gia đình hào trưởng. Từ nhỏ, bà sớm tỏ ra có chí khí hơn người. Khi cha bà hỏi về chí hướng mai sau, tuy còn ít tuổi, bà đã rắn rỏi thưa: "lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng Trắc, Trưng Nhị". Triệu Thị Trinh là một phụ nữ xinh đẹp, giỏi võ, có tướng mạo kỳ lạ, người cao lớn, có chí lớn. Truyền thuyết kể rằng, bấy giờ ở quê bà có con voi trắng một ngà rất hung dữ phá phách ruộng nương, làng xóm, cây cối không ai trị nổi. Bà bèn họp các bạn bày mưu, dùng kế lừa voi xuống một bãi đầm lầy, rồi bà nhảy lên đầu voi, dùng búa khuất phục nó. Từ đó voi trở thành người bạn chiến đấu trung thành của bà.

Triệu Trinh Nương (226-248)
Khi nhà Ngô xâm lược đất nước, chế độ áp bức và bóc lột của nhà Ngô trên nước ta hồi bấy giờ vô cùng tàn bạo. Khi được vua Ngô cử sang làm thứ sử nước ta, Chu Phù và bọn tay chân của hắn ngang ngược hoành hành, thẳng tay cướp bóc tài sản của nhân dân Việt Nam. Nhân dân ta bị cưỡng bức phải đi kiếm các thứ như hương thơm, hạt trai, ngọc lưu ly, đồi mồi, ngà voi nộp cho vua Ngô. Mùa nào thức ấy, nhân dân ta còn phải nộp các thứ quả lạ như chuối tiêu, dứa, nhãn… để cung đốn cho bọn quan lại nhà Ngô. Chế độ bóc lột này làm cho tài sản người Việt Nam ngày càng kiệt quệ, đời sống ngày càng điêu đứng.
Triệu Quốc Trinh và anh trai là Triệu Quốc Đạt vô cùng căm giận bọn quan lại nhà Ngô ngay từ khi còn trẻ tuổi. Bà đã quyết hy sinh hạnh phúc cá nhân cho sự nghiệp cứu nước. Họ hàng khuyên bà lấy chồng, bà khảng khái nói: "Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người".
Với chí lớn ấy, từ năm 19 tuổi, bà đã cùng anh tập hợp nghĩa sĩ trên đỉnh núi Nưa, ngày đêm mài gươm, luyện tập võ nghệ để chuẩn bị khởi nghĩa.
Sau một thời gian chuẩn bị, Bà Triệu cùng nghĩa quân đã vượt sông Chu đến rừng núi Nưa (Nông Cống, Triệu Sơn ngày nay) để lập căn cứ, tập hợp lực lượng, chuẩn bị lương thảo, nhằm mở rộng địa bàn hoạt động xuống miền đồng bằng. Dưới ngọn cờ cứu nước của Bà Triệu, nhân dân khắp huyện Cửu Chân một lòng ủng hộ, nô nức tham gia nghĩa quân.
Bà Triệu (Tranh dân gian)
Cuộc khởi nghĩa của bà và Triệu Quốc Đạt bùng nổ vào nǎm 248 và được nhân dân trong quận Cửu Chân hưởng ứng nhiệt liệt và nhanh chóng lan tỏa ra quận Giao Chỉ. Bà làm hịch truyền đi khắp nơi, kể tội nhà Ngô và kêu gọi mọi người đứng dậy đánh đuổi quân Ngô. Từ núi rừng Ngàn Nưa, nghĩa quân Bà Triệu tấn công thành Tư Phố và đã mau chóng giành thắng lợi trọn vẹn. Bà Triệu cùng nghĩa quân vượt sông Mã xuống vùng Bồ Điền để xây dựng căn cứ địa. Về mặt quân sự, địa hình tự nhiên vùng Bồ Điền có đủ yếu tố để xây dựng một căn cứ thuận lợi cho cả “công” lẫn “thủ”. Từ đây có thể ngược sông Lèn, sông Âu ra sông Mã rút lên mạn Quân Yên (quê hương Bà Triệu), hoặc tới căn cứ núi Nưa lúc cần; lại có thể chủ động tấn công ra phía Bắc theo lối Thần Phù để khống chế địch ở mặt này.

Ngàn Nưa nhìn từ xa
Dựa vào địa hình hiểm yếu ở Bồ Điền, Bà Triệu đã cùng anh em họ Lý là Lý Hoằng Công, Lý Mỹ Công và Lý Thành Công chỉ huy nghĩa quân xây dựng một hệ thống đồn lũy vững chắc. Thanh thế nghĩa quân ngày càng lớn, khắp hai quận Cửu Chân, Giao Chỉ nhân dân một lòng hưởng ứng công cuộc cứu nước của Bà Triệu. Các thành ấp của giặc Ngô ở Cửu Chân lần lượt bị hạ. Từ Cửu Chân, cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng lan ra Giao Chỉ và vào tận Cửu Đức, Nhật Nam. Thứ sử Châu Giao bị giết, bọn quan lại đô hộ ở Châu Giao hết sức hoảng sợ trước thanh thế và sức mạnh của nghĩa quân Bà Triệu. Sử nhà Ngô thú nhận: Năm 248 “toàn thể Châu Giao đều chấn động”.
Triệu Quốc Trinh chỉ huy chiến đấu vô cùng gan dạ. Mỗi khi ra trận, bà thường cưỡi voi, đi guốc ngà, mặc áo giáp vàng, chít khǎn vàng. Câu ca dao :
Có coi lên núi mà coi,
Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng
đã vẽ lên hình ảnh oai hùng của nữ anh hùng Triệu Quốc Trinh khi bà ra trận. Bà đã đánh cho quân Ngô nhiều trận thất điên bát đảo.

Triệu Thị Trinh cưỡi voi ra trận
Khi Triệu Quốc Đạt tử trận, Triệu Quốc Trinh lãnh đạo toàn bộ quân khởi nghĩa chiến đấu chống quân Ngô. Bà Triệu tự xưng là Nhuỵ Kiều tướng quân (Vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa). Nghĩa quân chiến đấu liên tiếp nhiều trận, thế lực ngày càng mạnh, quân số có tới hàng vạn người. Nghĩa quân của bà đánh thắng quân Ngô nhiều trận, giết chết viên thứ sử Châu Giao.
Quân Ngô ở miền Cửu Chân không đủ sức phá nổi nghĩa quân, vì vậy vua Ngô phải cử viên danh tướng Lục Dận làm thứ sử Giao Châu kiêm chức Hiệu úy, đem thêm 8.000 quân sang nước ta đàn áp phong trào khởi nghĩa. Lục Dận một mặt ra sức trấn áp nhân dân, mặt khác dùng thủ đoạn xảo quyệt, đem của cải, tiền bạc lung lạc một vài thủ lĩnh địa phương nhằm ổn định Giao Chỉ, tập trung lực lượng tấn công Cửu Chân.
Ổn định được Giao Chỉ, Lục Dận đã đem toàn bộ lực lượng tấn công Cửu Chân theo hai đường thủy: một mũi từ Tạc Khẩu qua hành lang Hoàng Cương - Chính Đại - Bạch Ác ngược sông Lèn vây bức phía bắc, một mũi theo đường biển vòng qua sông Sung và Vích (cửa Lạch Trường) đánh vào phía Nam.
Sau đó, y tập trung lực lượng tấn công vào các doanh trại của nghĩa quân. Quân Ngô hơn hẳn quân khởi nghĩa về mặt tổ chức cũng như về mặt vũ khí. Quân khởi nghĩa suy yếu dần và tan vỡ, lực lượng nghĩa quân còn non trẻ, không đủ sức chống lại đạo binh lớn hơn mình gấp bội.
Sau một cuộc bao vây ráo riết của quân giặc, Bà Triệu phải rút về núi Tùng Sơn. Bà quì xuống vái trời đất: "Sinh vi tướng, tử vi thần" (Sống làm tướng, chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn, đó là vào ngày 22 tháng 2 năm Mậu Thìn - 248.
Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu tuy thất bại, nhưng đã để lại một dấu son sáng ngời trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Dân tộc ta nói chung, vùng đất Thanh Hóa nói riêng rất tự hào đã sinh ra vị nữ Anh hùng đã làm nên những chiến công rạng rỡ cho dân tộc. Tinh thần yêu nước, chí khí quật cường cùng sự hy sinh lẫm liệt của Bà Triệu không chỉ làm cho kẻ thù khiếp sợ mà còn là nguồn cổ vũ lớn lao đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự chủ của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử.
Lê Khiêm tổng hợp
Nguồn:
- Nguyễn Đình Thực, "Suy nghĩ về cuộc khởi nghĩa Bà Triệu", NCLS, Số 147 (tháng 11, 12-1972), tr. 47-55.
- Hà Hùng Tiến, "Bà Triệu sự tích và lịch sử Bà Triệu", Lễ hội và danh nhân lịch sử Việt Nam, H.: VHTT, 1997, tr.115-121.
- Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, "Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu (năm 248), Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập 1. H.: Giáo dục, 2000, tr. 89-90.
https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3098/14281/cuoc-khoi-nghia-cua-trieu-thi-trinh.html
1.
Lục Dận - Đại tướng Đông Ngô đối đầu Bà Triệu, là nhân vật như thế nào?
Lục Dận - Đại tướng Đông Ngô đối đầu Bà Triệu, là nhân vật như thế nào?
Lục Dận là một trong những nhân vật tiêu biểu của tầng lớp sĩ tộc Đông Ngô thời Tam Quốc, đồng thời là người trực tiếp chỉ huy chiến dịch quân sự đàn áp cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu năm 248, để lại dấu ấn rõ nét trong lịch sử quan hệ giữa chính quyền phương Bắc và cư dân bản địa ở Giao Châu. Sinh ra tại Ngô quận, Ngô huyện – vùng đất sản sinh nhiều thế gia vọng tộc của Đông Ngô, Lục Dận thuộc dòng họ Lục danh giá, cháu ruột của Đại đô đốc Lục Tốn và là em trai của Lục Khải, người sau này giữ chức Tả thừa tướng. Xuất thân ấy giúp Lục Dận sớm được đào luyện trong môi trường chính trị – quân sự bài bản, tiếp thu cả tư tưởng trị quốc lẫn kinh nghiệm dụng binh của một gia tộc nổi tiếng về mưu lược.
Ngay từ khi còn trẻ, Lục Dận đã bước vào con đường quan trường Đông Ngô, từng đảm nhiệm chức Ngự sử, nổi tiếng là người cẩn trọng, hiểu luật pháp và có khả năng xử lý công việc hành chính lẫn quân sự. Ông được Thái tử Tôn Hòa coi trọng, kết giao thân thiết, cho thấy vị thế không chỉ dựa vào gia thế mà còn nhờ năng lực cá nhân. Trong bối cảnh Đông Ngô phải đối mặt với nhiều mối đe dọa cả trong và ngoài lãnh thổ, những quan lại có khả năng vừa trấn áp vừa ổn định địa phương như Lục Dận đặc biệt được Tôn Quyền tin dùng.

Năm 248, tình hình Giao Châu trở nên cực kỳ nghiêm trọng đối với triều đình Đông Ngô. Cuộc khởi nghĩa do Bà Triệu lãnh đạo bùng nổ ở Cửu Chân nhanh chóng lan rộng, giành được nhiều thắng lợi ban đầu, khiến chính quyền đô hộ lâm vào thế bị động. Nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân nổi dậy hưởng ứng, đe dọa trực tiếp sự kiểm soát của Đông Ngô ở khu vực phía nam. Trước nguy cơ mất Giao Châu, Tôn Quyền buộc phải cử một tướng lĩnh có đủ uy tín và năng lực sang đàn áp, và Lục Dận được lựa chọn, được phong làm Thứ sử Giao Châu kiêm An Nam Hiệu úy, trực tiếp chỉ huy khoảng 8.000 quân tinh nhuệ.
So với các tướng lĩnh chỉ dựa vào sức mạnh quân sự thuần túy, Lục Dận thể hiện rõ phong cách dụng binh mang dấu ấn của gia tộc Lục: kết hợp chặt chẽ giữa quân sự, chính trị và tâm lý chiến. Khi sang Giao Châu, ông không lập tức dốc toàn lực tấn công nghĩa quân Bà Triệu mà trước hết tìm cách ổn định những khu vực trọng yếu, trấn áp các điểm nổi dậy nhỏ lẻ và đặc biệt là chia rẽ nội bộ lực lượng bản địa. Lục Dận dùng tiền bạc, của cải để mua chuộc một số hào trưởng địa phương, làm suy yếu hậu phương và nguồn tiếp tế của nghĩa quân, qua đó cô lập dần căn cứ chính của Bà Triệu ở Cửu Chân.
Về mặt quân sự, Lục Dận triển khai một kế hoạch bao vây nhiều lớp, tận dụng ưu thế về tổ chức, kỷ luật và vũ khí của quân Ngô. Ông chia quân làm hai mũi tiến công chủ lực bằng đường thủy. Một mũi xuất phát từ Tạc Khẩu, theo hành lang Hường Cương – Chính Đại – Bạch Ác, ngược sông Lèn để đánh vào phía bắc căn cứ nghĩa quân. Mũi còn lại theo đường biển, vòng qua sông Sung và sông Vích, tiến vào cửa Lạch Trường để đánh từ phía nam. Thế gọng kìm này nhằm cắt đứt đường rút lui, đồng thời làm nghĩa quân phải phân tán lực lượng đối phó trên nhiều hướng.
Trong khi đó, lực lượng của Bà Triệu dù có tinh thần chiến đấu cao và uy tín lớn trong nhân dân, nhưng lại thua kém rõ rệt về trang bị, khả năng tiếp tế lâu dài và kinh nghiệm đối phó với chiến tranh quy mô lớn. Sau nhiều tháng giao tranh ác liệt, đặc biệt tại các căn cứ như Bồ Điền, quân khởi nghĩa dần rơi vào thế bị bao vây, lương thực cạn kiệt, binh lực hao mòn. Quân Ngô, dưới sự chỉ huy của Lục Dận, kiên trì siết chặt vòng vây, không nóng vội quyết chiến mà từng bước làm tan rã sức kháng cự.
Cuối cùng, trước sức ép ngày càng lớn, Bà Triệu buộc phải rút về núi Tùng, thuộc vùng Hậu Lộc ngày nay. Tại đây, khi nhận thấy không còn khả năng xoay chuyển cục diện, bà đã chọn cái chết để giữ trọn khí tiết, kết thúc cuộc khởi nghĩa khi mới hơn 20 tuổi. Về phía Đông Ngô, chiến thắng này giúp họ tái lập quyền kiểm soát Giao Châu, biến vùng đất này trở lại thành một đơn vị hành chính trực thuộc, và Lục Dận được ghi nhận là người hoàn thành nhiệm vụ trọng yếu mà triều đình giao phó.
Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ lịch sử lâu dài, chiến thắng của Lục Dận mang tính quân sự – hành chính nhiều hơn là chiến thắng về lòng người. Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu dù thất bại nhưng đã khắc sâu tinh thần chống đối sự cai trị hà khắc của phương Bắc, trở thành biểu tượng sớm của ý chí độc lập trong lịch sử Việt Nam. Ngược lại, hình ảnh Lục Dận trong sử sách Việt chủ yếu gắn với vai trò một tướng lĩnh đàn áp, đại diện cho quyền lực ngoại bang, dù trong chính sử Trung Hoa ông được đánh giá là người có tài năng và mưu lược.
Lục Dận, với xuất thân thế gia, năng lực tổ chức và cách dụng binh linh hoạt, là hình mẫu điển hình của tầng lớp quan tướng Đông Ngô thời Tam Quốc. Trận chiến với Bà Triệu không chỉ phản ánh sự chênh lệch về sức mạnh giữa chính quyền đô hộ và phong trào khởi nghĩa bản địa, mà còn cho thấy nghệ thuật đàn áp kết hợp quân sự và chính trị của nhà Đông Ngô. Trong khi đó, thất bại của Bà Triệu lại trở thành chiến thắng tinh thần lâu dài của người Việt, khiến tên tuổi bà sống mãi, còn Lục Dận chủ yếu được nhắc đến như người đã khép lại một chương bi tráng của lịch sử kháng chiến thời cổ đại.
https://danviet.vn/luc-dan--dai-tuong-dong-ngo-doi-dau-ba-trieu-la-nhan-vat-nhu-the-nao-d1398958.html
..
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.
LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.
Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.