Bài của học giả Hoàng Thị Ngọ.
Dưới đó là một bài của học giả Phạm Đức Duật.
Lấy về từ website Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Tháng 3 năm 2026,
Giao Blog
---
PHẠM VĂN THỤ MỘT TÁC GIA HÁN NÔM MỘT DANH NHÂN
HOÀNG THỊ NGỌ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Phạm Văn Thụ là một nhà khoa bảng, một vị quan Thượng thư triều Nguyễn giàu lòng yêu nước, thương dân. Cuộc đời và sự nghiệp của cụ gắn liền với những thăng trầm lịch sử đầy đau thương, anh dũng của một vùng quê và với triều đình nhà Nguyễn trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Phạm Văn Thụ cũng là một tác gia Hán Nôm còn để lại nhiều tác phẩm có giá trị.
Phạm Văn Thụ tự Đàn Viên, hiệu Đông Bạch Phái, sinh năm Tự Đức thứ 19 (1866) và mất năm Bảo Đại thứ 6 (1930) người xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Thiếu thời, cụ sống trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống học hành, thân phụ cụ là Phạm Xuân Đồng thông minh học giỏi, thi trúng nhị trường, được dân trong vùng xếp vào một trong "Đường Hào tứ kiệt". Thuở nhỏ, cụ thông minh tính lại cần kiệm, chủ yếu là học cha, anh ở nhà, khi lớn mới theo học cậu ruột và cùng các anh tập dượt văn bài bên ngoài. Năm Bính Tuất (1886) thi Ân khoa, cụ đỗ Tú tài, năm Tân Mão (1891) thi Hương, cụ đỗ Cử nhân; liền năm sau Nhâm Thìn (1892) thi Hội, cụ đỗ Phó bảng. Cuộc đời quan nghiệp của cụ bắt đầu từ Hậu bổ Thái Bình năm 1892 tiếp đến làm Tri huyện ở các huyện Thư Trì, Thần Khê, Duyên Hà; làm Tri phủ các phủ: Thái Ninh, Kiến Xương, Tiên Hưng; năm 1904 làm Án sát tỉnh Thái Bình; đến năm 1908 làm Liêm phóng sứ Hà Nội; làm Tuần phủ Phúc Yên, Thái Bình; cho đến năm 1920 làm Tổng đốc Bắc Ninh, 1921 làm Tổng đốc Nam Định. Đến năm Khải Định thứ 8 (1923) cụ vào Huế thụ chức Hộ bộ Thượng thư Cơ mật viện đại thần, sau đó năm 1925 lại kiêm Binh bộ Thượng thư và về trí sĩ năm 1926. Con đường hoạn lộ của cụ trải qua các chức như Hàn lâm kiểm thảo, Hàn lâm thị độc, Hồng lô tự thiếu khanh, Quang lộc tự thiếu khanh, Hồng lô tự khanh,... được triều đình sắc phong hàm Thái tử Thiếu bảo, Đông các đại học sĩ và tước Tứ Mỹ nam. Cụ mất ngày 12 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 6 (1930).
Sinh thời, cụ Phó bảng Phạm Văn Thụ tham gia nhiều hoạt động văn hóa như sáng tác thơ văn, câu đối, tuồng, biên soạn sách, viết bài tựa, hiệu duyệt, dịch thuật... các sách Hán Nôm của người đương thời như:
- Hiệu duyệt cuốn Hương Sơn Quan Thế Âm chân kinh tân dịch, ký hiệu AB.271. Cuốn này do Kiều Oánh Mậu dịch ra chữ Nôm và viết lời tựa năm Duy Tân Kỷ Dậu (1909), Trần Xuân Thiều chú thích, Vương Đan Quế bình luận.
- Hiệu đính và viết lời bạt cho cuốn Quốc triều luật học giản yếu. Cuốn sách này do Trương Du và Đỗ Quang Đình biên tập, Đỗ Văn Tầm duyệt chính và viết tựa, in năm Duy Tân thứ 4 (1910), hiện còn 4 bản in tại thư viện Hán Nôm và một bản microfilm tại Paris (Pháp).
- Viết lời giới thiệu cho cuốn Hương Sơn hành trình tạp vịnh của Giá Sơn Kiều Oánh Mậu, biên soạn năm Duy Tân thứ 4 (1910)
- Hiệu duyệt và cùng Đoàn Triển, Cao Xuân Dục đề tựa cho cuốn Trung học Việt sử toát yếu của Ngô Giáp Đậu. Sách in tại 22 Hàng Bè năm 1911. Trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn 22 bản in, 5 bản chép tay và 1 bản microfilm tại Paris (Pháp).
- Viết bình luận cuốn Việt sử kính của Hoàng Cao Khải. Cuốn Việt sử kính của Hoàng Cao Khải in bằng chữ La tinh được Trần Tán Bình dịch ra chữ Hán và Phạm Văn Thụ viết lời bình luận, in năm Duy Tân thứ 3 (1909). Hiện trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn 3 bản in, 1 bản viết tay.
- Viết đề từ (Tân nữ huấn đề từ) bằng chữ Nôm cho cuốn Huấn nữ truyện (訓女傳) của Trịnh Huy Giản. Sách có ký hiệu AB.423.
- Cùng Nguyễn Doãn Thạc dịch ra Hán văn cuốn An Nam sơ học sử lược (安南初學史略). Cuốn sách này do Giáo sư Mêbông (EFEO) và Ruxiê (Pháp), Giám đốc Học chính Nam kỳ biên soạn, Cao Xuân Dục hiệu đính, nhà in Viễn Đông Hà Nội in năm Duy Tân thứ 3 (1909) và năm Duy Tân thứ 5 (1911). Hiện trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn 7 bản in và 1 bản chép tay.
Ngoài số bị thất lạc, những trước tác chính của Phạm Văn Thụ còn lại như sau:
Tân niên thuyết (新年說)
Thái Bình thông chí (太平通志)
Việt sử tam tự tân ước toàn biên (越史三字新約全編)
Đàn viên ký ức lục (檀園記憶錄)
Nội dung chính của các cuốn sách trên như sau:
1. Tân niên thuyết (新年說)
Tân niên thuyết (新年說) được Phó bảng Phạm Văn Thụ soạn năm Duy Tân thứ 3 (1909) khi đang làm Liêm phóng sứ ở Hà Nội. Cuốn sách này gồm các bài:
- Hoa bình ký (花萍記)
- Xã hội cải lương tục lục (社會改良續錄)
- Tảo hôn nghi giới (早婚宜戒)
- Hảo tụng cảnh lục (好訟竟錄)
Nội dung của Tân niên thuyết (新年說) là nhân dịp năm mới tác giả nói về một số vấn đề như: đặc tính và lợi ích của giống bèo hoa dâu, khuyên mọi người nên chăm nuôi để làm phân bón; khuyên nên bỏ những hủ tục và phải đổi mới sinh hoạt xã hội, ghi nhận những làng xã đã có bước tiến bộ trong việc bỏ hủ tục, đổi mới sinh hoạt xã hội...; giải thích tại sao không nên lấy vợ lấy chồng sớm, khuyên nên tránh việc tảo hôn; khuyên mọi người nên sống hòa thuận, nhường nhịn lẫn nhau không nên tranh giành hơn thua theo kiện tụng.
Cuốn sách thể hiện sự thay đổi về cách nghĩ và những tư tưởng tiến bộ của tác giả do tiếp xúc với nhiều nhà yêu nước, cải cách dân chủ, cách mạng và các loại sách báo tiến bộ, các học thuyết kể cả học thuyết Mác-xít... Đọc bài bút ký của Phạm Văn Nam, con trai thứ ba của cụ Phạm Văn Thụ càng thấy rõ hơn tại sao cụ lại viết Tân niên thuyết (新年說): "Tuy thuộc phái cổ nhưng thân phụ ta đã rộng đọc các sách Tân thư do các bạn Đông du gửi về. Ta còn nhớ ngay từ hồi thân phụ ta còn ở Hà Nội (1908) đã thấy trong nhà có bộ Nhật - Nga chiến kỷ gồm 4 quyển. Trong có rất nhiều tranh ảnh, viết bằng chữ Hán, Nhật, Anh. Bộ đó phải dấu kỹ, không dám cho người ngoài xem. Trong khi đàm luận với các bạn thân, ta thấy thân phụ ta nói tới thuyết Đại đồng, thuyết Mác-xít. Thì ra các thuyết đó các cụ đã biết từ lâu" (Phụ lục 1 của Đàn Viên ký ức lục).
2. Thái Bình tỉnh thông chí (太平省通志)
Sách được Phó bảng Phạm Văn Thụ soạn năm Thành Thái thứ 12 (1900), hiện trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn 2 bản viết tay: A.82 gồm 112 trang ; bản thứ 2 ghi tên sách là Thái Bình thông chí (太平通志) ký hiệu A.1754 gồm 106 trang. Hai bản này đều có bản microfilm ở Paris (Pháp).
Nội dung sách ghi chép về lịch sử, địa lý, nhân vật lịch sử, phong tục tập quán của tỉnh Thái Bình, gồm các mục: 1.Địa danh; 2. Phong tục; 3. Nhân vật; 4. Cổ tích di văn; 5. Chinh chiến (về một số cuộc khởi nghĩa chống triều Nguyễn và thực dân Pháp); 6. Sông ngòi, đường sá; 7. Cầu cống; 8. Chợ búa; 9. Kỹ nghệ thổ sản; 10. Phần tổng luận. Đây là một cuốn sách có giá trị giúp cho việc tìm hiểu về nhiều lĩnh vực khoa học xã hội ở một tỉnh đồng bằng Bắc bộ.
3. Việt sử tam tự tân ước toàn biên (越史三字新約全編)
Sách do Phạm Văn Thụ biên soạn và viết tựa năm Duy Tân Kỷ Dậu (1909), bên trong còn có bài tựa thứ 2 do Nguyễn Tuấn viết, nhà in Áng Hiên, 24 Hàng Đào Hà Nội in năm Duy Tân Kỷ Dậu (1909). Hiện Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 3 bản in ký hiệu: VHv.1697, VHv.235, VHv.1820
Nội dung: Lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng đến Tây Sơn được soạn theo thể văn vần mỗi câu 3 chữ.
4. Đàn Viên ký ức lục (檀園記憶錄)
Đây là cuốn hồi ký bằng Nôm được Phạm Văn Thụ viết sau khi về trí sĩ năm 1926 và đã được con rể là Cử nhân Bùi Lương phụng chuyển phiên âm ra quốc ngữ và hoàn thành vào mùa thu năm Mậu Thìn (1928).
Đàn Viên ký ức lục (檀 園 記 憶錄) là cuốn sách có giá trị sử liệu, cung cấp nhiều thông tin quý để nghiên cứu về nhiều lĩnh vực kinh tế, lịch sử, khoa cử, các cuộc khởi nghĩa yêu nước chống Pháp và hoạt động của các phong trào cách mạng dân chủ ở nước ta giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cuốn hồi ký đã cung cấp nhưng tư liệu quý để có thể rõ thêm về tình hình thi cử ở nước ta những năm cuối thế kỷ XX, quy mô cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật, hoạt động của nghĩa quân Đề Thám và nhiều tư liệu xung quanh hoạt động của các nhà hoạt động cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thị Thanh (Chị ruột của Chủ tịch Hồ Chí Minh)... Phần cuối cuốn hồi ký tác giả đã cung cấp những tư liệu hết sức cụ thể, sinh động về triều đình Huế khoảng những năm 1923 -1926 dưới chính quyền Bảo hộ và nước "Quốc mẫu". Rất nhiều sự kiện lịch sử được tác giả ghi lại một cách chi tiết, sinh động, trung thực. Ví dụ như đoạn viết về sự việc ngăn đốt đền Sóc Sơn:
Nhà nước quy cữu tại Sóc Sơn hiểm trở vì có đền đức Đổng Thiên Vương, vậy Đề Thám tự về đấy tế cờ, điện giao quan sứ, quan tỉnh phải đốt đền. Cụ Đoàn Chiển cố can không được. Quan năm đã sai chứa rơm vẩy dầu vào rồi, chỉ còn đợi người phóng hỏa nhưng chưa ai dám hạ thủ. Cụ Đoàn kíp cho con là cậu Phán Kỳ về báo ta. Ta cố nài ông Bou-da dẫn vào can quan Thống. Khi ấy quan Thống Morel đã phải về Pháp đình chất vấn, quan De Miribel quyền thay đương dịp đóng cửa làm giấy điện về Pháp hỏi cách xử trí ông Va-doanh (bị quân Đề Thám bắt cóc)... Ta mới kíp cho ông Phán Trinh dịch ngay chữ Pháp. Đại ý nói:
"Đền Sóc Sơn thờ đức Đổng Thiên Vương, có công đánh Tàu, bảo tồn quốc chủng, cả nước kính mến. Nay vì đánh Đề Thám mà di nộ đến thần. Nếu đốt đền này một là làm cho Đề Thám khinh thường, hai là làm cho dân tâm phẫn kích, cách dẹp loạn không trông ở Đề Thám, chỉ cần trông ở quốc dân".
Quan Thống sứ vừa tiếp giấy, kíp sai quan Tissot mở cửa dẫn ta vào, trước còn thuyết nạn chưa chịu nghe. Ta cực trần:
"Làm một việc vô ích mà có hai điều dở: thứ nhất là hễ phạm dân nộ thì núi cũng phải đổ, rừng cũng phải tan, không thể nào thu thập được nữa".
Quan De Miribel bảo quan Tissot lục bộ Nam sử dịch Pháp tự sẵn đem xem rõ lịch tích rồi mới chịu điện đình đốt.
Quan Bô-da than thở, nói:
"Không biết còn hay họ nhỡ đốt đi mất rồi”.
Những cuốn sách mà Phạm Văn Thụ để lại đều là những cuốn sách có giá trị về sử liệu, địa lý lịch sử, văn học, giáo dục...thể hiện tri thức uyên bác và tấm lòng của một nhà Nho, nhà khoa bảng giầu lòng yêu nước, thương dân cho dù ở bất cứ cương vị nào. Cụ Phó bảng Phạm Văn Thụ luôn có ý thức muốn bảo vệ, duy trì những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Không chỉ góp công trong việc giữ lại được đền Sóc Sơn khỏi bị đốt vì là nơi tế cờ của nghĩa quân Đề Thám mà cụ còn có công giữ lại khu Văn miếu Quốc tử giám khỏi bị biến thành nhà thương sau khi dùng làm nơi chữa bệnh dịch hạch năm 1902.
Với Phó bảng Phạm Văn Thụ: làm quan không phải để vinh thân mà phải vì dân. Suốt cuộc đời làm quan cụ chịu ảnh hưởng sâu sắc quan điểm của Tán Thuật (Nguyễn Thiện Thuật) tức là làm quan: phải biết khoan cho dân, làm những việc có ích cho dân. Ở cương vị nào cụ cũng luôn khiêm tốn, trung thực, trăn trở vì dân. Cụ đã làm được nhiều điều có lợi cho dân như: mở trường dạy học, phát triển dân trí, làm đường, mở chợ, khai sông, xây cống, đào sông, đắp đê chống lụt, khai khẩn đất hoang, nghĩ cách xin giảm thuế cho dân... Ở thế quan Án sát, Liêm phóng sứ, Tri phủ, Tuần phủ, Tổng đốc... cụ luôn xét đoán công minh, lấy nhân đức khuyên bảo người lầm lỗi, lại dùng những lời lẽ khéo léo thuyết phục quan trên và nhà cầm quyền nên đã cứu được nhiều người thoát khỏi hình tội.
Cụ luôn có ý thức giúp đỡ, che chở cho những người tham gia các phong trào yêu nước, cách mạng và chống thực dân Pháp, vụ điển hình nhất là cụ tìm cách xóa án, trả tự do cho nhà cách mạng Chu Dưỡng Bình. Những việc mà Phó bảng Phạm Văn Thụ đã làm vì dân vì nước thật khó kể xiết. Một số nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử và con, cháu các nhà yêu nước, cách mạng đã kể và viết những lời chứng thực đầy tri ân để con cháu cụ biết mà thêm tự hào về cha, ông mình.
Do được nhân dân trong vùng yêu quý biết ơn, chính quyền bảo hộ nể và triều đình tin tưởng, sau khi cụ mất triều đình đã cho xây khu lăng mộ tại quê nhà xã Bạch Sam (Hưng Yên) trên diện tích hơn 400 mét vuông. Để tôn vinh cụ, tháng 10 năm 2006, UBND tỉnh Hưng Yên đã có quyết định công nhận khu lăng mộ của Phó bảng Phạm Văn Thụ là di tích lịch sử - văn hóa của tỉnh./.
...
ĐÀN VIÊN KÝ ỨC LỤC (TBHNH 2002)
Thứ Ba, 03/04/2007 22:57
ĐÀN VIÊN KÝ ỨC LỤC
PHẠM ĐỨC DUẬT
Hội văn nghệ Thái Bình
Đàn viên ký ức lục là tập hồi ký gần một nghìn trang viết tay bằng chữ Nôm củ một tác gia Hán Nôm hồi đầu thế kỷ XX. Ông tên là Phạm Văn Thụ, tự Đàn Viên, hiệu Đông Bạch Phái, người làng Bạch Sam, huyện Mỹ Hào, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Năm Thành Thái thứ tư (1892), ông đậu Phó bảng, rồi làm tri huyện các huyện Thư Trì, Thần Khê, Duyên Hà, Phụ Dực, Tri phủ Kiến Xương, Tiên Hưng thuộc Thái Bình. Sau đó ông được thăng Tuần phủ Phúc Yên. Sau vụ Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn bị ám sát trước dinh thự Thái Bình ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Sửu (13-3-1913), Phạm Văn Thụ được thăng Tổng đốc Thái Bình. Tháng 8 – 1923, ông vào Huế làm Thượng thư Bộ Hộ dưới triều Khải Định. Tháng 6 năm 1926, Phạm Văn Thụ về hưu ở quê làng Bạch Sam.
Khi còn làm quan ông từng viết sách Thái Bình tỉnh thông chí, An Nam sơ học sử lược dịch, và đề tựa, viết lời bạt một số sách như Trung học Việt sử toát yếu, Việt sử tam tự tân ước toàn biên, Quốc triều luật học giản yếu... v.v
Sau khi hưu quan, ông để thời gian viết bản thảo Đàn Viên ký ức lục này. Tập bản thảo không chỉ viết về tiểu sử cá nhân, gia đình, quê hương tác giả, mà điều quan trọng là nhiều sự kiện chính trị xã hội của địa phương nơi ông làm quan được kể lại với tình cảm cởi mở, chân thành, làm rõ nhiều vấn đề lâu nay còn nghi hoặc.
Có lẽ rất ít tác gia Hán Nôm hồi đầu thế kỷ trước, có được tiểu sử cụ thể, tỉ mỉ như Phạm Văn Thụ tự thuật về mình trong Đàn Viên ký ức lục. Mở đầu ông viết “Ta sinh năm Bính Dần, ngày 18-5, hoàng hiệu Tự Đức năm thứ 19 (tức dương lịch 30-6-1866). Thuở bé mệnh danh là Phạm Văn Trúc, theo tục phối với tên thân huynh ta cho dễ nhận. Năm 21 tuổi, gặp kỳ Bính Tuất ân khoa, hoàng hiệu Đồng Khánh nguyên niên (1886), chưa kịp tục bộ, đội tên làng là Phạm Văn Viên, ứng thí trúng Tú tài. Cách khoa Mậu Tý (1888) đến khoa Tân Mão (1891), cải chính là Phạm Văn Thụ, thi trúng Cử nhân. Khoa hội Nhâm Thìn (1892) liền trúng Phó bảng. Đương buổi phong trào thay đổi, đúng câu thơ cổ:
Giang sơn phong cảnh còn nguyên đó,
Thành quách nhân dân đã khác rồi.
Chính khi ta ứng hạch, quán chỉ còn đề theo hạt tân thiết là Đạo Địch Lâm. Khi nộp quyển vào trường lại được gửi về tỉnh Hải Dương cũ. Đến khi thành mệnh Cử nhân, mới cải sáp sang tỉnh Hưng Yên.
Nước non vẫn nước non nhà,
Gò cây in dấu ông bà mở mang.
Chỉ đáng nực cười trong thời kỳ ngoài hai mươi tuổi mà cái huy hiệu ta, nào Khoá Trúc, nào Tú Viên, nào Cử Thụ, nào Bảng Thụ, thay hình đổi dạng đến đôi ba lần, an nhiên không lấy làm phiền, cũng chưa vượt khỏi ra ngoài không khí tập quán vậy. Ta vốn tính đã đa sầu, đa cảm, cuộc đời lại bán cựu bán tân, có dám đâu thừa nước mắt khóc người xưa, cũng học đòi ăn cơm mới nói chuyện cũ”.
Khi làm Tri phủ Kiến Xương, ông được chứng kiến vụ tập hợp nghĩa binh của sư chùa Lãng Đông tiến lên thị xã toan đánh chiếm các dinh thự của công sứ Davis và Tuần phủ Vương Hữu Bình. Ông nhận xét “hạt Kiến Xương là nơi phồn kịch, khó cai trị nhất tỉnh Thái Bình. Ta ở mới gần một năm, quan dân yên vui, không điệp đổi làm huyền ca, đương có cái cảm tình điền trù tử đệ. Bỗng đâu kỳ tháng một, năm Đinh Dậu (Thành Thái cửu niên, tức tây lịch 1897) nổi biến Mạc Thiên Binh.
Hết thẩy toàn kỳ, hại nhất là Hải Dương, Hải Phòng, vì có can đến tính mệnh người Tây. Vậy dân mắc phải một phan kỳ thảm. Phủ, huyện nào hoặc hạt dân tiềm khởi, hoặc Thiên Binh kinh quá, người thì cách, người thì phát vãng. Quan huyện Thuỷ Nguyên Nguyễn Ngọc Kiểm, quan phủ Kiến Thụy Phạm Du, tiến sĩ và bạn hương niên với ta vô tình mà phải tống tử tại đảo Côn Luân. Phúc tướng như cụ Đỗ Văn Tâm, tổng đốc Hải Dương, nửa đêm quan toàn quyền tiếp báo, tức thì đến tỉnh, đòi đem cụ ra pháp trường hành hình”.
Năm 1913, Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn bị ám sát bằng tạc đạn ở cửa dinh, Phạm Văn Thụ ghi: “Năm 1913, mùng 6 tháng 2 Quý Sửu, tỉnh Thái Bình phát sự tạc đạn, cụ tuần Hành Thiện Nguyễn Duy Hàn bị hại. Ta phải đổi về chịu lấy gánh nặng, chối từ không được. Thầy tớ cũ phần nhiều lo thay cho ta. Vì tạc đạn đã lâu chỉ thấy đồn, chưa ai biết rõ hình dạng nó thế nào. Đột nhiên, một tiếng thực như sấm dậy đất bằng, ai cũng choáng váng. Vậy mà ta khổ tâm đối phó, nhất ngôn nhất động, may trúng cơ nghi...”
Mùa nước năm ấy (Quý Sửu 1913), đê Phú Chử huyện Thư Trì bị vỡ, mấy huyện bị lụt, công sứ Perret tự tử. Sau nạn lụt lớn này, Phạm Văn Thụ làm bài thơ song thất lục bát gần một trăm câu để uý lạo đồng bào.
Vụ Pháp truất ngôi vua Thành Thái, khi đó ông đương quyền Tuần phủ. Một hôm phó sư Dupuy hỏi ông: “Không biết những khi phế lập lễ nghi như thế nào? Còn lúc định rước xuống thuyền, đem ngài sang Tây, ngộ ngài không chịu thì xử trí làm sao?”
Ông cảm động ứa nước mắt mà trả lời: “Đã sinh biến phế lập, còn có lễ nghi gì?...
Tôi trộm nghe đức Thành Thái sở dĩ sinh điên, cũng chỉ vì có thông minh mà vô sở dụng. Nhà nước muốn đem sang Tây tưởng nên dùng cách êm ả để ngài đỡ chứng uất... Rồi lại để ở chỗ đức Hàm Nghi, đãi lấy Vương lễ. Mà rước đức Hàm Nghi về chấp chính, thực có phúc cho nước Nam tôi”...
Tất nhiên, bọn quan cai trị Pháp chỉ nói lấy lòng quan lại nước ta vậy thôi, không khi nào chúng dám đưa vua Hàm Nghi về thay vua Thành Thái. Thế mà thân hào Thái Bình vẫn làm đơn, có hàng trăm chữ ký, xin rước vua Hàm Nghi về chấp chính. Một hôm ông và quyền án sát Trần Thiện Kế đến Hội Nam Phong, tại nhà cụ tuần Luật Trung đông đủ các cụ đại lão. Cụ Khâm Nhân Mục nói: “Chà chà! Thái Bình giỏi nhỉ. Xin rước đức Hàm Nghi về làm vua à?”
Cuối năm ấy đúng 30 tết, ông Phan Chu Trinh cùng ông Đinh Dụng Hưởng cưỡi ngựa ở huyện Mỹ Lộc sang chơi. Ông tiễn ông Đinh Dụng Hưởng về Ninh Bình, còn ông Phan Chu Trinh ở lại ăn tết với ông một tuần lễ. Đêm nào cũng nói chuyện đến khuya. Ông Phan nói: “Thời cục này, tất phải thi hành chính thể dân chủ mới tiến hoá được...”. Sau cụ Nguyễn Thượng Hiền lấy tình niên bảng cứ chủ nhật thường sang trò chuyện, nào là ông Phan Chu Trinh, ông Nguyễn Sinh Huy có tiếng chí sĩ cũng hay vãng lai giao du. Thứ nhất can hệ là cổ động rước đức Hàm Nghi. Vì thế nhà nước dùng cách ky mi (trói buộc-PĐD) cốt đem ta lên phủ Thống Sứ để tiện phòng thám những chốn ẩn vi của ta hành động”.
Về việc ông Hoàng Tăng Bí bị Pháp tình nghi, ông nói: “Ông Hoàng Tăng Bí đỗ trẻ, sẵn lòng nhiệt hiểu, cảm ngộ lời hiểu của quan toàn quyền, định đổi tư tưởng về đường thực nghiệp. Ông Hoàng đi khắp các nơi diễn thuyết lập hội buôn bán nội hoá, hiệu là Hội Đông Thành Xương... Nói cho phải, giá bắt lỗi ông Hoàng Tăng Bí vào luật “Khi trá quan tư thủ tài” (dối trá việc công việc tư để giữ tiền bạc của người khác – PĐD) thì đúng, chứ bắt vào luật “mưu phản” thì rất oan”.
Đàn Viên ký ức lục còn ta ta biết khá tường tận về việc hoạt động của nghĩa quân Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật làm thủ lĩnh và việc thực dân Pháp đối phó với quan quân Đề Thám ở Yên Thế như thế nào.
Tháng 6-1926, sau nhiều lần đề nghị, Phạm Văn Thụ được nghỉ hưu. Tuy vậy mỗi khi có cuộc bạo động nào, các quan lại Pháp cũng thỉnh cầu hỏi ký kiến ông. Thí dụ, vụ nghĩa quân đánh huyện Phụ Dực và Vĩnh Bảo. Tri huyện Hoàng Gia Mô bị hạ sát. Mô là con Hoàng Mạnh Trí. Mô gọi Hoàng Trọng Phu là chú. Tính Mô kiêu ngạo và rất tàn nhẫn. Bọn Pháp cai trị định nghiêm trị dân Cổ Am, nhưng Phạm Văn Thụ can ngăn. Mặc dầu vậy, Thống sứ Robin vẫn cho ném bom làng Cổ An.
Mấy năm nghỉ hưu, bên cạnh việc thăm thân hữu đôi bên nội ngoại, phần nhiều ông giành thời gian viết tập hồi ức, công phu, tỉ mỉ, chân thực này. Bản thảo được cử nhân Bùi Lương, con rể cả ông phiên ra quốc ngữ. Toàn bộ bản quốc ngữ do Phạm Văn Thảo, con trai cả ông đóng thành mấy tập để gia đình giữ làm vật gia bảo.
Phạm Văn Thụ về hưu được hơn bốn năm, ngày 12 tháng 6 Canh Ngọ (7-7-1930) ông bị bệnh đột ngột rồi mất tại quê nhà, thọ 65 tuổi.
Đàn Viên ký ức lục là tập tư liệu rất quý. Ngoài việc phản ánh nhiều sự kiện chính trị quan trọng ở các tỉnh phía Bắc, ở triều đình Huế suốt hơn 30 năm Phạm Văn Thụ làm quan, nó còn cho chúng ta hiểu nhiều tập tục cả tốt và xấu của xã hội nông thôn phía Bắc nước ta thời kỳ thuộc Pháp. Tự nội dung tập tư liệu cũng cho chúng ta thấy tinh thần yêu nước của nhân dân và sĩ phu cùng thủ đoạn cai trị của hàng loạt quan lại Pháp và những tên Việt gian khoác áo quan lại những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.102-107
https://hannom.vass.gov.vn/tong-muc-luc/10-dan-vien-ky-uc-luc-tbhnh-2002-505227
...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.
LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.
Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.