Đi một ít bài cũ trước.
Dưới đó là cập nhật và bổ sung, sẽ được dán dần lên như mọi khi.
Tháng 1 năm 2026,
Giao Blog
---
Thứ Sáu, ngày 22/03/2024 - 08:12
Tạ Chí Tào
Đôi điều về xuất xứ của một bài đồng daohttps://baogialai.com.vn/doi-dieu-ve-xuat-xu-cua-mot-bai-dong-dao-post270244.html
...
Cỏ bồ đề

Có bao giờ tôi tìm hiểu cỏ bồ đề là loại cỏ gì khi mà có một người bạn đặt câu hỏi này cho tôi.
Cỏ bồ đề là tên gọi của cỏ ý dĩ, mọc đầy ở quê, nơi các mô đất hoang, bờ mương hay dọc triền đê .
Nó họ lúa. Hạt cỏ ý dĩ trắng như hạt ngọc, trẻ con lấy chơi, xâu chuỗi thành cườm đeo tay, người ta gọi là cỏ bồ đề.
Trở lại với câu đồng dao trên.
Câu hát nhắc tới ngựa Ông, là ngựa của ai? Ông nào được nhắc đến ? Cỏ Bồ Đề này là địa danh? (tôi viết hoa chữ Ông và Bồ Đề nhé).
Tương truyền năm 1427, Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn tiến qua sông Nhị Hà ( một cái tên khác của Sông Hồng) tiến đánh thành Đông Quan ( Hà Nội) lật đổ ách cai trị của quân nhà Minh, giải thoát nhân dân ta khỏi lầm than khổ cực. Quân giặc thật tàn ác, chúng:
" Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ"
( Bình Ngô đại cáo- Nguyễn Trãi)
Ông cho đóng quân và dựng dinh ở một xã ven sông Hồng, trong dinh có hai cây bồ đề nên dinh được gọi là dinh Bồ Đề. Hàng ngày ông lên tháp cao để quan sát quân địch bên trong thành Đông Quan, cùng các tướng bàn kế hoạch tiêu diệt địch. Nhân dân cắt cỏ mọc xung quanh dinh Bồ Đề cho ngựa của nghĩa quân ăn, cỏ đó gọi Cỏ Bồ Đề.
Cuộc kháng chiến thắng lợi, năm 1428 Lê Lợi lên ngôi vua , niên hiệuThuận Thiên ( Lê Thái Tổ) lập ra triều đại nhà Hậu Lê, ông trở thành người anh hùng dân tộc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam. Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo, thông báo với thiên hạ chiến công lãy lừng của quân dân ta.
Hiện nay ở Hà Nội có phường Bồ Đề, quận Long Biên, câu đồng dao tôi cho rằng là hợp lý với điển tích này.
Có một dị bản khác để giải thích ý nghĩa câu đồng dao trên.
Có một xóm Bồ Đề, xã Quần Anh, Hải Hậu, Hà Nam vào thế kỷ 15 có ba ông gọi là Phó Ba tướng quân đời nhà Lê đã có công khai phá đất hoang lập ra xóm làng lấy tên Bồ Đề. Mỗi khi các ông cưỡi ngựa về thăm dân làng, bà con vui mừng giục nhau cắt cỏ cho ngựa các ông ăn.
Điển tích này gắn bó với lịch sử hình thành địa phương của bà con xóm Bồ Đề.
Câu hát đồng dao lưu truyền trong dân gian ghi nhớ công lao của các anh hùng đã có công giữ nước đánh thắng ngoại xâm. Câu ca này đã đi vào đời sống các tầng lớp nhân dân và sẽ không mai một theo thời gian.
" Nhong nhong ngựa Ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn".
https://vanhoavaphattrien.vn/co-bo-de-a13564.html
...
NGUYỄN DƯ
Mấy tuần nay ngày nào cũng nghe người lớn bàn đại sự. Cứu nền kinh tế. Tạo công ăn việc làm. Nhiều giải pháp được đưa ra. Cái nào cũng hay, cũng được kèm theo… nếu, miễn là… Nghe mãi đâm ra bực mình, khó chịu. May quá! Được Ngô Quý Sơn kéo đi xem trẻ con chơi đùa(1).
Ôi! Cái vỉa hè quen thuộc ngày xưa. Ồn ào, vui nhộn.
Có đứa giục đánh “oẳn tù tì” (one, two, three: một, hai, ba). Thế là tất cả răm rắp để tay sau lưng. Rồi cả bọn cùng hò hét như vỡ chợ:
- Oẳn tù tì. Ra cái gì? Ra cái này!
Tụi này giỏi quá! Chưa đi học trường ngoại ngữ quốc tế ngày nào mà đã biết liến thoắng tiếng Anh. Ai dạy chúng mày vậy?
- Dạ, mấy chú “Việt Nam to thế, Việt Nam mẹ sề” dạy chúng cháu đấy ạ.
(Năm 1945, đường phố Hà Nội được căng biểu ngữ Việt dân chủ Việt quốc: Dân Việt làm chủ nước Việt. Bên dưới dòng chữ Hán là dòng chữ Anh Vietnam to the Vietnamese, được dân Hà Nội “phiên âm” thành Việt Nam to thế Việt Nam mẹ sề).
Vừa dứt câu “Ra cái này” thì lập tức ngần ấy cánh tay cùng đưa ra phía trước. Kẻ “ngoại đạo” chưa thuộc phép chơi, tự hỏi đứa nào được, đứa nào thua? Dễ lắm. Nắm tay là cái búa. Xòe tay là tờ giấy. Giơ hai ngón tay là cái kéo. Tờ giấy bọc cái búa. Cái búa đập cái kéo. Cái kéo cắt tờ giấy. Cứ thế mà tính được, thua. “Ra” giống nhau là hòa.
“Oẳn tù tì” xong. Mấy đứa thua phải làm ngựa cho đứa được “vểnh râu” cưỡi. Vừa cưỡi vừa quất ngựa, ra oai ỏm tỏi:
Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ Bồ đề cho ngựa ông ăn
“Nhong nhong” là từ mô phỏng tiếng nhạc ngựa khi “ngựa chạy chậm” (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê).
Nhong nhong ngựa chạy lòng vòng quanh gốc cây. Nghỉ một tí. Tớ mệt rồi. Nghỉ xong lại chơi tiếp. Lúc nào có đứa bỏ cuộc thì mới ngừng chơi.
Ngô Quý Sơn dịch ngựa ông là mon cheval (ngựa của tao). Bồ đề được chú là tên một bãi đất thuộc Gia Lâm. Bãi này có một loại cỏ dài để nuôi ngựa.
Ông là từ tự xưng. Đứa bé cưỡi ngựa tự xưng là ông. Nghe cho oai.
Có vài học giả không đồng ý với Ngô Quý Sơn. Họ cho rằng câu ca ghi lại một sự kiện lịch sử. Ông cưỡi ngựa là… ông Lê Lợi! Có bó cỏ “Bồ đề” làm bằng chứng!
“Bồ Đề là tên chung để gọi phần đất phía bên kia cầu Long Biên, vì xưa kia ở đây có hai cây bồ đề to cao, nên những địa danh như bến đò, doanh trại, hành cung, thôn và xã… đều gọi là Bồ Đề, và sông Hồng đoạn qua đây cũng gọi là sông Bồ Đề”(2).
Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội có câu:
- Đố ai tát bể cấy kê
Tát sông Bồ Đề, nhổ mạ cấy chơi.
- Sông Bồ Đề nước đỏ như son
Em mà dối bạn, tội bằng hòn Thái Sơn
Lam Sơn thực lục chép:
- “Mới đầu, Trẫm đóng dinh ở thành Phù Liệt, cách giặc khá xa, sau dời đến dinh Bồ Đề xứ Bắc Giang, đối diện với giặc để chặn đường về của chúng. Ngày đêm luyện tập chư tướng, chọn lựa quân sĩ, sửa sang chiến cụ, kén chọn, nuôi sức, tập võ nghệ, rõ hiệu lệnh, sai các tướng chia nhau chẹt bít đường hẻm để cắt viện của giặc(…)”(3).
Bồ Đề là nơi Lê Lợi đóng doanh trại năm 1426.
- “Bến Bồ Đề đối diện với thành Đông Quan qua sông Nhị. Tại nơi đây, Lê Lợi sai dựng một lầu cao ngang với tháp Bảo Thiên bên thành Đông Quan để làm chòi quan sát và chỉ huy. Hằng ngày Lê Lợi lên tầng lầu cao nhất để theo dõi hoạt động của địch trong thành Đông Quan. Nguyễn Trãi lúc bấy giờ giữ chức nhập nội hành khiển lại bộ thượng thư, ngồi ở tầng lầu thứ hai, để cùng bàn bạc với Lê Lợi và thảo các thư từ giao thiệp với quân Minh cũng như các mệnh lệnh gửi cho nghĩa quân. Tại đại bản doanh mới này, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ tham mưu nghĩa quân trực tiếp chỉ huy việc vây hãm thành Đông Quan và tiến hành cuộc đấu tranh chính trị với địch”(4).
Câu ca: “Nhong nhong ngựa ông đã về,/ Cắt cỏ Bồ-đề cho ngựa ông ăn”, được Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên xếp vào loại “các câu ca dao còn giữ lại được những danh từ riêng chỉ tên người, tên đất, tên triều đại, hay ít ra cũng phản ánh những đặc điểm riêng biệt có thể nhận ra ngay được của một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó (…)”.
“(Nhong nhong…) nói lên sự mong đợi, lòng hân hoan và sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân đối với Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, những người đã cùng toàn dân tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến vĩ đại mười năm chống quân Minh hồi thế kỉ XV”(5).
Nguyễn Vinh Phúc cũng cho rằng “câu ca dao quen thuộc đã ghi lại cái không khí lâm hạ (tới mừng) hồ hởi của quần chúng (khi được tin nghĩa quân Lam Sơn về đóng tại bến Bồ Đề)”(6).
“Lòng hân hoan và sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân”, “không khí hồ hởi của quần chúng”được Lê Lợi kể lại trong Lam Sơn thực lục:
“Năm Ất Tỵ (1425), Quân ta đã ba ngày liền không có ăn, thế mà tuân mệnh nghiêm túc, không ai dám phạm. Dân chúng trên đường quân đi qua, thấy phép quân thì nghiêm mà lệnh thì theo đúng, nên lấy lúa gạo trâu bò của giặc đưa hết đến doanh trại ta để dùng vào việc quân. Trẫm bèn chia đều nuôi tướng sĩ, lương thực tạm đủ”(7).
“Năm Bính Ngọ (1426), Trẫm đến Đông Đô, ba ngày đầu, nhân dân vùng kinh lộ và các huyện, châu, phủ, các tù trưởng biên trấn đều tấp nập đến cửa dinh nguyện ra sức liều chết đánh các thành của giặc...”(8).
Lê Lợi kể chuyện nhân dân người thì ủng hộ lúa gạo, trâu bò để nuôi quân, người thì hồ hởi xin đầu quân, liều chết giết giặc. Lê Lợi không kể chuyện ông “nhong nhong” tại Bồ Đề, được nhân dân lo lắng… cắt cỏ cho ngựa ông ăn.
Đọc sử ai cũng hiểu rằng Bồ Đề là “khu quân sư”. Toàn bộ “cơ quan đầu não” của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nằm trong doanh trại Bồ Đề. Tình hình chiến sự rất căng thẳng. Chẳng lẽ Lê Lợi, Nguyễn Trãi lại cho phép dân chúng được lai vãng đến doanh trại giữa lúc “dầu sôi lửa bỏng” để cắt cỏ nuôi ngựa? Người không học Binh pháp cũng không vô tư, sơ hở đến mức như vậy.
Chưa hết. Bản thân cỏ Bồ đề cũng… có vấn đề.
Ta có rất nhiều ca dao, ngạn ngữ để khoe hàng trăm, hàng ngàn cái hay, cái đẹp, cái ngon của mọi miền đất nước. Người ta khoe đồ ăn thức uống, khoe đồ dùng, khoe tay nghề… Đặc biệt là khoe đặc sản ẩm thực địa phương. Nào là dưa La, húng Láng, nem Báng, tương Bần. Nào cá rô Đầm Sét, tôm hùm Nha Trang, mì Quảng, bún bò Huế. Nào nhãn Hưng Yên, cam Bố Hạ, bưởi Biên Hòa, dừa Bến Tre...
Tuy vậy, trong lúc khoe khoang dân làng phải… tránh phạm thượng! Tha hồ khoe những cái hay, cái đẹp. Nhưng không được đem tên làng ra để khoe đặc sản… nuôi súc vật. Có tiền mua tiên cũng được, nhưng không ai mua được đồ ăn của súc vật có “thương hiệu” mang tên làng. Đố ai mua được bèo Hà Nội, cám Huế hay cỏ Sài Gòn, rơm rạ Hạ Long v.v.
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cày cấy vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Bác nông dân thương yêu con trâu. Bác sẵn sàng trả ơn, đãi ngộ trâu bằng một bãi “cỏ non xanh tận chân trời”! Cỏ có “ngon nhất Đông Nam Á” hay “ngon nhất thế giới”, bác cũng không dám mang tên làng ra quảng cáo.
Tên làng được mọi người tôn trọng. Không phải là chuyện… đùa. Huống hồ Bồ Đề là một địa danh lịch sử.
Có người tìm được cỏ Tháp Mười đây nè!
Bao giờ hết cỏ Tháp Mười,
Thì dân ta mới hết người đánh Tây.
Khó ăn khó nói quá. Chỉ còn… lời quê chắp nhặt dông dài. Đề nghị bà con cùng đi ngắt một ngọn cỏ Tháp Mười xem nó ra sao?
Vào thời quân xâm lược Pháp mới chiếm nước ta, đã nổi lên rất nhiều cuộc khởi nghĩa, trong đó có cuộc nổi dậy của Nguyễn Trung Trực ở Tân An thuộc miền Nam nước ta. Trước khi bị hành hình, Nguyễn Trung Trực đã nói vào mặt quân thù một câu đanh thép: “Bao giờ đất này hết cỏ thì người Nam mới hết chống Tây”. Dựa theo ý của câu này nhân dân ta đã sáng tác câu ca dao sau đây trong thời kháng chiến chống Pháp:
Bao giờ hết cỏ Tháp Mười,
Thì dân ta mới hết người đánh Tây(9).
Câu nói của Nguyễn Trung Trực có sách chép là: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người nước Nam đánh Tây”(10).
Lời nói của Nguyễn Trung Trực được cuộc cải biên thành ca dao. Cỏ nước Nam bị thu hẹp lại thành cỏ Tháp Mười. Đối chiếu câu nói với câu ca dao thì có thể khẳng định rằng: cỏ Tháp Mười là cỏ hoang mọc tại vùng Tháp Mười. Nước ta không có cỏ tên là Tháp Mười.
Cũng nên nói thêm là Nguyễn Trung Trực không hoạt động chống Pháp tại vùng Tháp Mười.
Cỏ Tháp Mười của miền Nam và cỏ Bồ Đề của miền Bắc chỉ là cỏ của nhà văn, nhà thơ thôi.
Trở lại câu ca “nhong nhong” của trẻ con. Phải hiểu như thế nào? Đề nghị (lại đề nghị) hai cách hiểu.
1. Cách hiểu thứ nhất:
Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ bồ, đề cho ngựa ông ăn.
Bồ đề không phải là địa danh. Hai từ bồ, đề viết bằng chữ thường. Nên thêm “dấu phẩy” giữa hai từ để tránh nhầm lẫn.
- Bồ (chữ Hán, bộ Thảo) là cỏ bồ, lá non ăn được, lá già dùng làm chiếu, làm quạt hay làm cái bao bọc đồ, tục gọi là bồ bao (Hán Việt tự điển, Thiều Chửu). Bồ là một thứ cỏ thơm (Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh).
- Đề (bộ Thảo) là mầm cỏ tranh. Cây cỏ mới nhú mầm đều gọi là đề (Thiều Chửu).
Bồ và đề là hai loại cỏ “chất lượng cao” của trâu bò, dê ngựa.
2. Cách hiểu thứ hai:
Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ bồ để cho ngựa ông ăn.
- Đề được sửa thành để. Nói cách khác, để đã bị “trẻ con” đọc trại thành đề. Câu ca chỉ có cỏ bồ. Dễ hiểu hơn cách thứ nhất.
Trò chơi của trẻ con bắt chước ông quan nhong nhong cưỡi ngựa về làng. Oai vệ. Đủng đỉnh. Quan về làng! Dân làng phải lo “vi thiềng” ông, lo “bồi dưỡng” cho ngựa của ông.
Ý nghĩa câu ca dí dỏm, hiện thực. Người lớn cũng muốn vào chơi với trẻ con.
Cái vui của trẻ con vui hơn cái vui của người lớn. Cười đùa không theo bài bản vui hơn ca hát phải theo nhịp điệu được viết sẵn. Trẻ con cõng nhau chạy lòng vòng gốc cây vui hơn người lớn chạy ra chạy vào trên sân khấu được dàn dựng công phu.
Mời các cụ đến bến Bồ Đề lịch sử xem… người lớn cưỡi ngựa:
Giặc đi thì giặc lại về
Đến cầu Bồ Đề thì giặc phải lui
(Bồ Đề là bến, tức là bến Giốc Gạch, Việt Nam tự điển, Khai Trí Tiến Đức).
Xin bàn sang trò chơi… cưỡi ngựa của người lớn.
Thực dân Pháp đã nhập cảng trò đua ngựa vào nước ta! Sài Gòn được vinh dự dẫn đầu phong trào đua ngựa của cả nước.
| Người ngựa sửa soạn đua |
- Đua ngựa tại Sài Gòn.
Vương Hồng Sển cho biết “(Sài Gòn) bày cuộc đua ngựa, độ đầu ngày 15/8/1864, ngựa bản xứ, người cỡi khăn áo y phục An Nam, khi thấy có lợi nhiều mới sắp đặt mở trường đua nay còn thấy”(11).
Meyer nói rõ hơn là ngày 15/8/1864, nhân dịp “lễ Vạn thọ Pháp” (fête de l’Empereur), thành phố Sài Gòn tổ chức đua ngựa và đua xe bò (charrettes à boeufs) tại Polygone de tir (bãi tập bắn)(12).
Theo Sơn Nam thì:
“Đua ngựa là môn giải trí, với sác xuất khá khoa học nhưng vẫn còn yếu tố may rủi, lần hồi trở thành trò chơi “đỏ đen”. Khi chưa chiếm trọn Nam Kỳ lục tỉnh, người Pháp đã mở trường đua ngựa, tại vùng đất nghĩa địa, đến năm 1932 nhằm mở rộng cho hợp với tiêu chuẩn quốc tế, dời về Phú Thọ, góc đường 3 tháng 2 và Lý Thường Kiệt ngày nay”(13).
Polygone de tir (hay Polygone d’Artillerie) thuộc khu vực Đồng tập trận (còn được gọi là Mô súng hay Mả ngụy), nơi Minh Mạng cho chôn vùi xác 1137 người theo Lê Văn Khôi chống lại triều đình(14). Đồng tập trận cũng là nơi Nguyễn Tri Phương đắp đồn lũy Chí Hòa chống Pháp năm 1861.
Người Pháp gọi khu vực Mả ngụy là Plaine des tombeaux.
Vùng đất nghĩa địa được Sơn Nam nói tới nằm ở đâu?
Thực dân Pháp đã cho xây cất nghĩa địa ngay từ ngày mới chiếm được Sài Gòn. Nghĩa địa chia ra hai phần riêng biệt: phần dành cho người Âu (cimetière européen) và phần dành cho người bản xứ (cimetière indigène). Về sau người Sài Gòn gọi là Đất thánh Tây, Nghĩa địa đô thành (khu vực công viên Lê Văn Tám ngày nay).
Một điều chắc chắn là người Pháp không bao giờ tổ chức đua ngựa tại… nghĩa địa. Vì vậy, Vùng đất nghĩa địa của Sơn Nam không phải là nghĩa địa tây hay nghĩa địa ta. Vùng đất nghĩa địa là vùng Mả ngụy, người Pháp gọi là Plaine des tombeaux. Dường như Sơn Nam muốn tránh tên Mả ngụy của triều đình phong kiến, nên đã dịch Plaine des tombeaux thành Vùng đất nghĩa địa. Tên không có ý khinh miệt, không phân biệt đối xử với những người đã chết, nhưng có thể bị nhầm với Nghĩa địa đô thành.
Đã có nhiều nhà báo, nhà văn, quan chức người Pháp viết bài ca ngợi hòn ngọc Viễn Đông. Trương Vĩnh Ký cũng đăng đàn diễn thuyết, giới thiệu Sài Gòn và các vùng phụ cận thời mới bị Pháp chiếm đóng.
Nhưng, các bài viết và bài nói chuyện không đả động gì đến trường đua ngựa (người Sài Gòn gọi tắt là trường đua).
- Bản đồ năm 1867 và 1893 không có trường đua.
- Bản đồ năm 1903 có Trường đua (Champ de courses) “hoành tráng” tại Polygone d’Artillerie, làng Phú Thạnh (khu vực Công trường Dân Chủ ngày nay).
- Bản đồ năm 1933 có Trường đua mới (Nouvel Hippodrome) “đúng tiêu chuẩn quốc tế” (Trường đua Phú Thọ, Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Phú Thọ ngày nay).
- Bản đồ năm 1947 có một sân vận động (sân Hoa Lư ngày nay) trong khu đất của nhà binh (thành Gia Định cũ, giới hạn bởi đường Lê Duẩn, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày nay).
| Đua ngựa Hà Nội |
- Đua ngựa tại Hà Nội.
Ngày 6/6/1884, triều đình Huế công nhận nền bảo hộ của Pháp tại Bắc Kì.
Cuộc đua ngựa đầu tiên tại Hà Nội được tổ chức ngày 15/7/1886. Chương trình hôm ấy có 2 cuộc đua ngựa và một cuộc đua “người ngựa” dành cho tất cả các hạng tuổi (une course pour homme-chevaux de tout âge). “Người ngựa” là người kéo xe thay ngựa. Các phu xe tay, vừa nắm càng xe vừa chạy. Người thắng giải cuộc đua người ngựa hôm ấy là Lo-Ky(15).
Cuộc đua ngựa ngày 15/7/1886 được tổ chức tại đâu? Sách báo xưa không nói rõ. Chỉ có thể dựa vào một vài tài liệu để suy đoán.
- Ngày 27/3/1887, có đua ngựa trong thành Hà Nội. Trường đua ngựa (người Hà Nội gọi là quần ngựa) nằm giữa điện Kính Thiên và Cột Cờ. Đường ngựa chạy chỉ dài 1200 mét. Khán đài nằm trên sân tầng thứ nhất của Cột Cờ, được chia thành hai khu: Khu dành cho các quan chức, các phu nhân, và khu dành cho các sĩ quan(16).
Rất có thể cuộc đua ngựa đầu tiên ngày 15/7/1886 đã được tổ chức trong thành Hà Nội. Cuộc đua đạt “kết quả mĩ mãn, vượt chỉ tiêu”, thực dân Pháp bèn cho sửa sang, làm đường ngựa chạy, làm khán đài. Sáu tháng sau, ngày 27/3/1887 quần ngựa được khánh thành.
Quần ngựa trong thành Hà Nội sinh hoạt được vài năm thì bị dẹp bỏ. Hà Nội xây quần ngựa chính thức.
- Bản đồ Hà Nội 1890 có một quần ngựa hoành tráng, đúng tiêu chuẩn được xây cất tại địa điểm Cung Văn hóa ngày nay (đường Trần Hưng Đạo, gần nhà ga xe lửa Hà Nội). Ngày 31/1/1894, nhân dịp tàu Zabiaca của Nga ghé thăm Hà Nội, một cuộc đua ngựa được tổ chức long trọng tại đây để chiêu đãi các sĩ quan Nga.
- Năm 1899, quần ngựa (Cung Văn hóa) bị phá bỏ để lấy đất xây nhà Đấu Xảo cho Hội chợ triển lãm (Exposition d’Hanoi). Nhà Đấu Xảo được khánh thành ngày 16/11/1902.
| Trường đua ngựa Hà Nội |
Một quần ngựa mới được xây cất tại Liễu Giai (cung Thể Thao Quần Ngựa ngày nay). Tranh dân gian Oger (1908) có tấm Đấu mã trường, vẽ cổng “trường đua ngựa” này. Khán giả thời ấy toàn là tây đầm.
(Hải Phòng có Hội đua ngựa (Société hippique) năm 1887. Quần ngựa Hải Phòng nằm cạnh đường đi Đồ Sơn (bản đồ Hải Phòng năm 1889). Nam Định tổ chức đua ngựa ngày 18/1/1891).
Lyon, 4/2013
N.D
(SH293/07-13)
--------------
(1) Ngô Quý Sơn, Jeux d’enfants du Vietnam, Sudestasie tái bản, 1985, tr. 49.
(2) Bùi Thiết, Từ điển Hà Nội, Nxb. Văn Hóa - Thông Tin, 1993.
(3) (7) (8) Nguyễn Diên Niên, Lê Văn Uông, Lam Sơn thực lục, Ty Văn Hóa Thanh Hóa, 1976, tr. 252, 248, 251.
(4) Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Khởi nghĩa Lam Sơn, Nxb. Khoa Học Xã Hội, 1977, tr. 386.
(5) Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Văn học dân gian, tập 2, Đại Học và Trung Học chuyên nghiệp, 1973, tr. 309-310.
(6) Nguyễn Vinh Phúc, Lê Lợi và Thanh Hóa trong khởi nghĩa Lam Sơn, Nxb.Thanh Hóa, 1987, tr. 255.
(9) Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, in lần thứ tám, Nxb. Khoa Học Xã Hội, 1978, tr. 487.
(10) Bảo Định Giang, Ca Văn Thỉnh, Thơ văn yêu nước Nam Bộ (nửa sau thế kỷ XIX), Nxb. Văn Học, 1977, tr. 216.
(11) Vương Hồng Sển, Sài Gòn tạp pín lù, Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 108.
(12) Charles Meyer, La vie quotidienne des français en Indochine 1860-1910, Hachette, 1985, tr. 87.
(13) Sơn Nam, Người Sài Gòn, Nxb. Trẻ, 1992, tr. 69.
(14) (17) Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa, Xuân Thu tái bản, tr. 78, 278.
(15) Claude Bourrin, Le vieux Tonkin 1884-1889, Imprimerie d’Extrême-Orient, 1941, tr. 114.
(16) André Masson, Hanoi pendant la période héroique 1873-1888, Geuthner, 1929, tr. 127
http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c288/n12229/Nhong-nhong-ngua-chay-long-vong.html
...
Thứ sáu, 16/03/2012 - 16:48
“Nhong, nhong… ngựa ông đã về!”
Anh Pha cho biết, từ ngày anh đi học xa, bé Huyền Phương rất nhớ bố. Ngày nào hai bố con cũng vài lần gọi điện nói chuyện với nhau. Những ngày nghỉ cuối tuần được về nhà, anh dành nhiều thời gian vỗ về, vui đùa cùng con để bù đắp những thiếu hụt tình cảm trong những ngày xa cách...
QĐND - Mỗi khi Thiếu tá Nguyễn Hồng Pha (học viên Học viện Chính trị) được về thăm nhà ở phường Sao Đỏ (Chí Linh, Hải Dương), thì câu nói đầu tiên và quen thuộc mà anh được nhận khi vừa bước chân đến cổng nhà là giọng của con gái Huyền Phương đang học lớp 2: “Nhong, nhong, nhong, ngựa ông đã về/ Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn…”.
![]() |
Bố con Thiếu tá Nguyễn Hồng Pha. |
Anh Pha cho biết, từ ngày anh đi học xa, bé Huyền Phương rất nhớ bố. Ngày nào hai bố con cũng vài lần gọi điện nói chuyện với nhau. Những ngày nghỉ cuối tuần được về nhà, anh dành nhiều thời gian vỗ về, vui đùa cùng con để bù đắp những thiếu hụt tình cảm trong những ngày xa cách. Bé Huyền Phương thích nhất là được bố làm “ngựa ông” cho bé cưỡi. Bởi thế, lần nào cũng vậy, trước khi lên đơn vị, anh dỗ ngọt con: “Phương ở với mẹ, với ông/ Cuối tuần bố “biến” ngựa ông Phương ngồi”.
Bài và ảnh: Bùi Hồng Mạnh
https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tiep-lua-truyen-thong/nhong-nhong-ngua-ong-da-ve-436930
...
Thứ ba, 19/02/2008 | 23:15
Người Thăng Long trong chiến dịch giải phóng thành Đông Quan
Ngày 22-11, đại bản doanh của nghĩa quân Lam Sơn đã chuyển từ Thanh Hóa ra đóng tại tòa thành đất ở Tây Phù Liệt (nay là thôn Việt Yên, xã Ngũ Hiệp, Thanh Trì) cách thành Đông Quan độ 10 km về phía Nam.
Ngày đầu, các hào kiệt ở Kinh Lộ và nhân dân các phủ huyện, cùng các tù trưởng ở biên trấn đều kéo đến cửa quân xin liều chết đánh thành. Cuộc tấn công vào thành chia làm ba hướng. Tướng Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị dẫn 100 thuyền chiến đến bến Động Bộ Đầu; tướng Đinh Lễ quản lĩnh hơn một vạn quân bộ đánh vào hướng cầu Tây Dương (Cầu Giấy); hướng thứ ba mạn Nam do đích thân Lê Lợi chỉ huy. Đêm 22 tháng 11, vào canh ba, quân ta bốn mặt ập lại phóng hỏa đốt các dinh quân của Phương Chính, chúng tranh nhau bỏ chạy vào cửa thành, xác chết gối lên nhau. Nghĩa quân thu hơn trăm thuyền chiến và rất nhiều khí giới.
Sau trận thắng này, Lê Lợi cho chuyển đại bản doanh từ Đông Phù Liệt sang bến Bồ Đề ở bờ bắc sông Nhị, cho dựng chòi cao để hằng ngày theo dõi quân địch ở trong thành. Cùng với kế “tâm công”, Lê Lợi còn cử các tướng giỏi trực tiếp chỉ huy vây hãm các cửa thành. Có lần xiết chặt vòng vây, nghĩa quân đã bắt được 3.000 quân lính, 500 voi ngựa. Lần khác, ngày 14-3-1427 ở cầu Sa Đôi (Mễ Trì), địch nống ra thăm dò lực lượng, nghĩa quân kiên quyết giáng trả, và đã phải dùng đến mảnh vỡ của chum, nồi, vại mà đánh địch.
Trong ba tháng 6, 7 và 8 năm 1427 những cuộc đụng độ vẫn tiếp diễn. Tại bãi Cơ Xá, quân và dân vừa lo đánh địch vừa dựng chiến lũy. Quân giặc từ trong thành lẻn ra cướp bóc đều bị đánh. Thực hiện bao vây thành và diệt viện, Lê Lợi phái hai đạo quân tinh nhuệ, chia đường tiến gấp đánh hai đạo quân viện binh. Khi Liễu Thăng vừa vào Lạng Sơn đã bị vây hãm ở Chi Lăng rồi bị chém chết ngay tại trận. Còn Mộc Thạnh vừa đến Tuyên Quang, biết tin Liễu Thăng bị giết cũng vội vàng rút lui.
Được tin thắng trận, người Bồ Đề đua nhau đem gạo thịt đến đại bản doanh khao quân. Hàng nghìn người trong vùng lại đua nhau đi cắt những gánh cỏ non cấp cho đoàn ngựa chiến. Hàng trăm dân chài ở bờ bắc, lợi dụng đêm đông sa mù, cùng nhau bí mật chở thuyền bè đến đón quân sang bờ nam sông Nhị tiêu diệt căn cứ pháo binh và trạm tiền tiêu của giặc ở Vạn Xuân (nay là vùng đất Lương Yên - Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng). Và chỉ trong một đêm dân sở tại đã đắp xong chiến lũy bảo vệ. Chủ tướng Lê Lợi còn tự thân chỉ huy quân dân đắp thêm một chiến lũy mới, chạy từ phường Yên Hoa tới thẳng cửa Bắc thành.
Khi ấy, quân Minh ở trong thành Đông Quan đã sức cùng lực kiệt, mỏi mắt chờ viện binh mà viện binh đã bị đánh tan, nên hoang mang lo sợ, không còn tinh thần chiến đấu, lại được thư của Bình Định Vương từ bên ngoài bắn vào, bảo cho biết “nước xa không cứu được lửa gần” và nói rõ 6 điều tất phải thua của quân giặc. Hoảng hốt và tuyệt vọng, Vương Thông buộc phải nhận đến dự Hội thề tổ chức ở phía Nam thành vào ngày 10-12-1427. Từ ngày 20-12-1427, quân Minh được cấp 500 thuyền và lương thảo để rút về nước.
Ngày 3-1-1428, thành Đông Đô hoàn toàn giải phóng, Nguyễn Trãi nhân danh Lê Lợi viết bài “Bình Ngô đại cáo” để báo cáo chiến thắng với toàn dân. áng văn bất hủ đó được coi như bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc...
Ngày 29-4-1428 (15 tháng tư Mậu Thân), Lê Lợi lên ngôi hoàng đế ở Đông Đô, đặt quốc hiệu là Đại Việt, niên hiệu là Thuận Thiên. Trong 6 năm cầm quyền, Lê Lợi đã ban hành nhiều chính sách nhằm xây dựng nước Đại Việt thành một quốc gia độc lập, tự do và giàu mạnh.
Lê Lợi mất ngày 22 tháng 8 nhuận năm Quý Sửu (1433) tại Đông Kinh, miếu hiệu là Thái Tổ.
Gần 6 thế kỷ đã trôi qua, hình ảnh người anh hùng dân tộc, nhà quân sự lỗi lạc vẫn được người Đông Đô - Đông Kinh - Hà Nội khắc ghi. Trong dân gian, hiện vẫn lưu truyền câu ca: “Nhong nhong ngựa ông đã về/ Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn”; hoặc: “Bồ Đề bắn thư/ Bồ Đề chăn ngựa/ Bồ Đề vượt sông”. Tại hồ Lục Thủy, nằm ở vị trí đắc địa của kinh đô, từ lâu gắn liền với sự tích trả gươm thần của Lê Thái Tổ. Tại phía bắc hồ, năm 1896 người ta đã dựng tại đây tượng đài vua Lê, đúc bằng đồng. Vua đội mũ bình thiên, mặc áo bào, tay cầm kiếm chỉ xuống mặt hồ. Hơn 60 năm trước, phố Bờ Hồ đã được đổi thành phố Lê Thái Tổ. Phố nằm trên đất các thôn Khánh Thụy. Tự Tháp, Phúc Phố, Tô Mộc thuộc tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương. Phố dài 685 mét, đi từ quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, chạy vòng theo bờ Tây hồ Hoàn Kiếm, đến phố Bà Triệu - Tràng Thi. Đối diện với tượng vua Lê, ở phía đông bắc của hồ có vườn hoa Chí Linh, hai bên vườn hoa có phố Lê Lai và Lê Thạch. Kề phố Lê Lai là phố Trần Nguyên Hãn; kề phố Lê Thạch là phố Đinh Lễ và Nguyễn Xí. Đó là danh tính các tướng tâm phúc của Bình Định Vương.
Giờ đây, mỗi lần qua Bờ Hồ, tại nơi “lắng hồn sông núi ngàn năm”, lòng ta lại nhớ núi Chí Linh ở miền Tây Thanh Hóa, nơi Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đã ẩn náu trong ngày đầu dựng nghiệp vô cùng gian khổ; nhớ chuyện Lê Lai, trong lúc hiểm nguy, đã cải trang làm Lê Lợi hy sinh liều mình cứu Chúa. Vì thế trong dân gian mới có câu “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”, có nghĩa ngày 21 tháng 8 giỗ Lê Lai, ngày hôm sau - 22 giỗ Lê Lợi. Ngày giỗ của đức vua còn được nhân dân gọi “Tháng Tám giỗ cha” một cách hết sức thiêng liêng và thành kính.
Mỹ Văn
(Hà Nội Mới)
https://scov.gov.vn/dat-nuoc-con-nguoi/con-nguoi-viet-nam/nguoi-thang-long-trong-chien-dich-giai-phong-thanh-dong-quan.html
...
(HNMĐT)- Làng Bồ Đề có tên gốc là Phú Viên hoặc Phú Hựu, sở dĩ gọi là “Bồ Đề” vì xa xưa trong làng có hai cây bồ đề cao, nổi bật giữa những làng quê ven sông Hồng, ngang đỉnh tháp chùa Báo Thiên ở trong Kinh thành Thăng Long ở bên kia sông.
TS. Bùi Xuân Đính
https://hanoimoi.vn/lang-bo-de-87774.html
...

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.
LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.
Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.