Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách 晴耕雨讀

20/11/2025

Từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh - qua sắc lệnh 65 (ngày 23/11/1945) về bảo tồn cổ tích (di sản văn hóa)

Nhiều năm trước, đầu thế kỉ XXI, lúc du lãng London (thủ đô của Anh quốc), tôi đã tìm đến chỗ ở cũ của Nguyễn Ái Quốc. Đồng thời, tôi cũng đã lững thững từ đó đi đến Bảo tàng Đại Anh. Từ chỗ ở ấy, mà đi Bảo tàng Đại Anh thì không xa, chỉ cuốc bộ một lúc là tới.

Tha thẩn cả ngày trong Bảo tàng Đại Anh vẫn chỉ mới xem lướt qua được thôi, vì quá khủng về số lượng và chất lượng hiện vật ! Nên hôm sau tôi lại cuốc bộ tới !

Lúc ấy, chỗ tôi ở rất tiện đi các nơi. Tối tối thì về uống bia với nhóm cổ vũ bóng đá đủ các thành phần trong chỗ sảnh khách sạn !

Lúc đó, mới hiểu là chàng thanh Nguyễn Ái Quốc đã tới Bảo tàng Đại Anh để chiêm ngưỡng cổ tích và lục tìm tài liệu hồi đầu thế kỉ XX, như trong một số nghiên cứu sau này cho biết (ví dụ cụ Hồng Hà cũng từng viết về việc nay, trên Giao Blog có thể xem lại ở đây).

Nguyễn Ái Quốc đó, sau này, ngày sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong vai trò Chủ tịch nước Việt Nam Mới đã ra sắc lệnh bảo vệ cổ tích trên toàn cõi, và tổ chức chịu trách nhiệm theo mường tượng của ông lúc đó là "Việt Nam Bác cổ Học viện", hay "Việt Nam Đông phương Học viện" (tức là thay thế cho Pháp quốc Đông Dương Bác cổ Học viện - EFEO).

Mới đây, nhà báo Nguyễn Phúc Nam Dương có hỏi về sắc lệnh của Hồ Chủ tịch, nay gắn với ngày Di sản Việt Nam (23 tháng 11), thì tôi đã nói về Nguyễn Ái Quốc với Bảo tàng Đại Anh.

Toàn văn thì đọc bài của Nam Dương trên tờ Nhân Dân vừa lên (dán toàn văn ở bên dưới).

Tháng 11 năm 2025,

Giao Blog


--- 


Sắc lệnh 65 (ngày 23/11/1945)



"

Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa

Xét rằng việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam.

Xét rằng Đông Phương Bác cổ Học viện có nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam.

RA SẮC LỆNH

Điều thứ nhất: Đông Phương Bác cổ Học viện (Việt Nam Oriental Institute) có nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam.

Điều thứ hai: Đông Phương Bác cổ Học viện từ nay sẽ thay Pháp quốc Viễn đông Bác cổ học viện (École Francaise d'Extrême-Orient) bãi đi.

Điều thứ ba: Những luật lệ về việc bảo tồn cổ tích vẫn để nguyên như cũ.

Điều thứ tư: Cấm phá hủy những đình chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, những cung điện, thành, quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. Cấm phá hủy những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn.

Điều thứ năm: Chính phủ vẫn công nhận nguyên tác những khoản trợ cấp hàng năm của toàn quốc, của mỗi kỳ hay mỗi tỉnh cho Đông Phương Bác Cổ học viện. Khi dự thảo ngân sách cho toàn quốc, cho từng kỳ hay từng tỉnh, ông Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục, ông Ủy viên tài chính của mỗi kỳ hay của mỗi tỉnh phải dự tính khoản trợ cấp cho Đông Phương Bác cổ học viện.

Điều thứ sáu: Các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc gia giáo dục chiểu sắc lệnh này thi hành.

"

Bảo vật quốc gia: Tập sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945-1946, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, H.2017, tr.120.


---


20 năm Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam 23/11:

Thắp sáng tinh thần Hồ Chí Minh về bảo tồn di sảnChỉ cô đọng trong 6 điều, Sắc lệnh số 65 đã cho thấy tầm nhìn nhạy bén, thức thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thời đại mới, hệ thống pháp luật về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từng bước được hoàn thiện, trên cơ sở nối dài tinh thần của bản sắc lệnh lịch sử.

Thứ Năm, ngày 20/11/2025 - 12:07


Bác Hồ đọc tấm bia Côn Sơn Tư Phúc Tự bi trong chuyến thăm chùa Côn Sơn (Hải Phòng) tháng 2/1965. Ảnh: Cục Du lịch quốc gia Việt Nam
Bác Hồ đọc tấm bia Côn Sơn Tư Phúc Tự bi trong chuyến thăm chùa Côn Sơn (Hải Phòng) tháng 2/1965. Ảnh: Cục Du lịch quốc gia Việt Nam

Đúc kết từ những năm bôn ba

Không khí hân hoan trong mùa thu độc lập năm 1945 kéo dài chưa được bao lâu, vận mệnh dân tộc lại bị đẩy đưa trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt, Chính phủ Lâm thời dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành hàng loạt sắc lệnh. Nhờ đó, góp phần chăm lo cho người dân có cơm ăn, áo mặc, được tiếp cận tri thức.

Sâu xa hơn, Người còn trăn trở tới tương lai của những giá trị tinh thần quý báu, hun đúc nên một dân tộc Việt Nam kiên cường, giàu bản sắc trong suốt dặm dài lịch sử. Chỉ hơn 2 tháng sau ngày lập quốc, Sắc lệnh số 65 được ký vào ngày 23/11/1945, đã đánh dấu mốc quan trọng trong công cuộc bảo tồn giá trị di sản văn hóa ở nước ta. Cụ thể, sắc lệnh đề ra cho Đông phương Bác cổ Học viện nhiệm vụ “bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam”. “Cổ tích” tức những dấu tích như công trình kiến trúc, hiện vật, tư liệu có ý nghĩa lịch sử còn sót lại, ngày nay được hiểu rộng ra là di sản văn hóa, theo thuật ngữ của quốc tế.

“Tư duy để đi đến một bản sắc lệnh mang tầm nhìn hiện đại, bắt kịp xu hướng thế giới như vậy, dĩ nhiên không phải là chuyện ngày một, ngày hai sau khi giành được chính quyền”, TS Chu Xuân Giao, Viện Nghiên cứu Văn hóa (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) bày tỏ. Mà trước hết, phải được kết tinh từ trong gia đình Nho học, giàu truyền thống yêu nước. Tư duy ấy càng được mở rộng trong những ngày tháng bôn ba ở nước ngoài. Khi sống tại Anh, chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc tranh thủ sau giờ làm việc, thường đến khảo cứu tư liệu trong Bảo tàng Anh. Nơi đây vào đầu thế kỷ 20 nổi tiếng vì trưng bày kho hiện vật đồ sộ thuộc nhiều nền văn minh từ châu Á sang châu Phi, được người Anh thu thập và đem về nghiên cứu trên hành trình xâm lược thuộc địa. Nhờ vậy, Bác đã nhận thức sâu sắc, cổ vật là thứ mang hồn cốt của một dân tộc, nên cần phải được dân tộc ấy nâng niu.

122.jpg
Sắc lệnh số 65 ký ngày 23/11/1945 đặt nền móng cho công cuộc bảo tồn di sản văn hóa. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Bảo tồn di sản: Trách nhiệm không của riêng ai

Từ những kinh nghiệm tích lũy ở xứ người, con người đề cao đạo học như Hồ Chủ tịch đã dành sự trân trọng đặc biệt đối với những thành tựu khoa học mà người Pháp, cụ thể là Viễn Đông Bác cổ Học viện tạo dựng. Ngay trong những điều lệ đầu tiên của bản sắc lệnh đã ấn định rõ, Đông Phương Bác cổ Học viện thay thế Viễn Đông Bác cổ Học viện do Pháp điều hành trước đây, bảo tồn tất cả di sản văn hóa vật thể trên khắp lãnh thổ Việt Nam.

“Những ngày đầu của nền dân chủ cộng hòa, chưa thể xây dựng ngay được một cơ quan bảo tồn văn hóa hoàn toàn mới, có tầm vóc tương xứng với thiết chế được người Pháp định vị trong mấy mươi năm qua”. Đó là một lý do được TS Ngô Vương Anh lý giải cho việc Bác Hồ lựa chọn tiếp quản một thiết chế văn hóa hình thành từ thời Pháp thuộc. Bởi từ khi thành lập vào năm 1900, Viễn Đông Bác cổ Học viện đã dày công tạo lập nên hệ thống thư viện, bảo tàng có quy mô trên khắp 3 miền mà đến nay vẫn đang hoạt động, như: Thư viện Khoa học Xã hội, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế…

Bầu không khí học thuật lan rộng từ người Pháp tới người Việt Nam trong không gian Học viện. Nhiều trí thức Việt Nam được truyền thụ phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại, thịnh hành ở phương Tây, cách thức dập văn bia, sưu tập tư liệu. Những công trình học thuật từ đó được tiếp sức, để thoát ra khỏi cái bóng của nền Khổng học cũ kỹ. TS Vương Anh còn chỉ ra, mấu chốt trong phương pháp nghiên cứu khoa học của họ có sự gặp gỡ với trụ cột 3 nguyên tắc trong Đề cương về Văn hóa năm 1943 gồm: Dân tộc, khoa học, đại chúng, mà trong đó, khoa học chiếm vị trí trung tâm.

Từ sau năm 1945 đến 1954, công tác bảo tồn di sản đứng trước vô vàn thách thức. TS Chu Xuân Giao đánh giá, bởi ảnh hưởng của cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, hoạt động của Học viện trong thời kỳ này chưa thể tạo ra những bước đột phá. Thay vào đó, mới chỉ tập trung vào nỗ lực lưu giữ cổ vật, ngăn chặn nguy cơ bị hủy hoại. Hiểu được bối cảnh đầy ngặt nghèo ấy, ngay trong bản sắc lệnh, Bác đã khơi dậy ý thức tự hào dân tộc, động viên nhân dân nâng cao trách nhiệm bảo vệ những giá trị văn hóa dân tộc. Bằng lời hiệu triệu nghiêm cấm phá hủy những mái đình, chùa, đền, miếu, cung điện, lăng tẩm, hay những hiện vật, văn bia, thư tịch cổ, sắc lệnh nêu cao trọng trách bảo tồn văn hóa là của toàn dân, vượt ra ngoài giới hạn trách nhiệm của một cơ quan đơn lẻ.

Dẫu biết, sau cuộc chiến khốc liệt, nhất là phong trào “tiêu thổ kháng chiến” được thực hiện trên quy mô cả nước, những di sản bị mất mát, thiệt hại là khó tránh khỏi. Tuy vậy, nhiều người không quản ngại, đã giấu cẩn thận bên mình những tư liệu cổ trên suốt dọc đường tản cư. Cũng trong gian khó, ta lại càng thấy rõ sự mưu trí của con người Việt Nam qua những việc giấu sắc phong vào ống tre, vùi xuống đất, rồi vùi chuông chùa xuống ao... TS Vương Anh nhận định: “Sắc lệnh 65 như tiếp thêm động lực bảo vệ di sản trong điều kiện không thể khắc nghiệt hơn của những người dân vốn biết trân trọng truyền thống của ông cha”. Sau ngày hòa bình lập lại ở miền bắc, nhiều báu vật được nhân dân cất giữ cẩn thận mới dần được đem trả lại cho các di tích. Công tác nghiên cứu, phát huy giá trị di sản nhờ vậy từng bước được tiến hành. Bên cạnh đó, Bác cũng dành sự quan tâm tới công tác bảo tồn di sản khi trực tiếp đến thăm các di tích và ân cần trò chuyện với đồng bào. Về thăm di tích Côn Sơn (nay thuộc Hải Phòng) vào tháng 2/1965, Người căn dặn: “Cán bộ và nhân dân phải bảo vệ tốt di tích lịch sử”.

Sáng mãi trong hệ thống pháp luật

“Sau Sắc lệnh số 65, hệ thống pháp luật về bảo tồn di sản ở nước ta từng bước được hoàn thiện, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng giai đoạn”, TS Nguyễn Anh Thư, Trường đại học Văn hóa Hà Nội chia sẻ. Có thể kể đến Nghị định số 519-TTg, năm 1957 quy định thể lệ bảo tồn cổ tích cho đến Pháp lệnh 14-LCT/HĐNN7, năm 1984 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh. Đến năm 2001, Luật Di sản văn hóa được ban hành, trở thành văn bản có hiệu lực cao nhất và tác động toàn bộ đến hệ thống di sản văn hóa. Chính thức có hiệu lực trong năm nay, Luật Di sản văn hóa năm 2024 đã bổ sung thêm nhiều nội dung mới. Theo TS Thư, văn bản luật này đã giải quyết những vấn đề phát sinh do xã hội đương thời đặt ra đối với người làm công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Một trong những bước tiến quan trọng được TS Thư chỉ ra, là sự mở rộng quan điểm tiếp cận về di sản. Trước đây, nhận thức về di sản chỉ dừng lại ở di sản vật thể và phi vật thể. Đến nay, Luật Di sản văn hóa đã bổ sung riêng một chương cho loại hình di sản tư liệu. Mà ngay từ năm 1945, Bác Hồ đã nhấn mạnh việc cấm xâm hại các hiện vật chứa đựng thông tin lịch sử. Bên cạnh đó, từ vai trò gìn giữ hiện vật của người dân nêu trong Sắc lệnh số 65, luật hiện hành đã tạo hành lang pháp lý cho các cá nhân được sở hữu di sản. Song song với đó, khuyến khích hệ thống bảo tàng ngoài công lập phát huy vai trò lan tỏa giá trị di sản.

Không chỉ là văn bản pháp luật, Sắc lệnh số 65 còn trở thành ngọn hải đăng soi sáng tư tưởng Hồ Chí Minh cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở nước ta trong suốt 80 năm qua. Thời gian đã lùi xa, nhưng tầm nhìn chiến lược của Người vẫn vẹn nguyên giá trị, trở thành nền tảng khẳng định bản lĩnh văn hóa Việt Nam mạnh mẽ trong kỷ nguyên vươn mình.

Khi người Pháp bị đẩy lùi khỏi Đông Dương, nhân sự người Việt Nam khi đó tiếp tục được theo đuổi công tác nghiên cứu ở Đông Phương Bác cổ Học viện dưới sự quản lý của chính quyền mới. Không những kế thừa thành tựu khoa học, TS Vương Anh khẳng định, tinh thần của sắc lệnh thể hiện chiến lược tập hợp nhân tài bất phân đảng phái của Bác Hồ. Như vậy, Người đã thành công trong việc vận động những trí thức ấy đồng hành cùng Chính phủ trong cuộc kháng chiến sắp diễn ra.

Nguyễn Phúc Nam Dương

https://nhandan.vn/thap-sang-tinh-than-ho-chi-minh-ve-bao-ton-di-san-post924341.html


---


BỔ SUNG


1.

Sắc lệnh 65 (23/11/1945) - Sắc lệnh đầu tiên về bảo tồn di sản văn hóa

18/11/2021 | 07:31

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.

Sắc lệnh 65 (23/11/1945) - Sắc lệnh đầu tiên về bảo tồn di sản văn hóa - Ảnh 1.

Ngay khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2/9/1945, để bảo vệ và củng cố những thành quả cách mạng đã đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã bắt tay ngay vào quá trình quản lý đất nước trước sự đe dọa của thù trong, giặc ngoài và đối mặt với muôn vàn khó khăn về nhiều mặt, bằng cách ban hành kịp thời các sắc lệnh điều chỉnh rất nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau. Công cuộc bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa đã được Người cụ thể hóa bằng việc ban hành Sắc lệnh số 65/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945, hơn 2 tháng sau khi nước nhà giành được độc lập. Đây là Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước ta đặt nền móng cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Sắc lệnh được ban hành vào thời điểm đất nước còn muôn vàn khó khăn với giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm, điều đó càng thể hiện rõ tầm nhìn xa, trông rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tập Sắc lệnh gồm 117 Sắc lệnh của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành từ 30/8/1945 đến ngày 28/2/1946 đã được công nhận Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2496/QĐ-TTg ngày 22/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Sắc lệnh số 65/SL khẳng định việc bảo tồn cổ tích "là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam" (khái niệm "cổ tích" trong Sắc lệnh ngày nay được gọi là di sản văn hóa, gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể). Sắc lệnh ghi rõ:

"Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa

Xét rằng việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nước Việt Nam.

Xét rằng Đông Phương Bác cổ Học viện có nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam.

RA SẮC LỆNH

Điều thứ nhất: Đông Phương Bác cổ Học viện (Việt Nam Oriental Institute) có nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam.

Điều thứ hai: Đông Phương Bác cổ Học viện từ nay sẽ thay Pháp quốc Viễn đông Bác cổ học viện (École Francaise d'Extrême-Orient) bãi đi.

Điều thứ ba: Những luật lệ về việc bảo tồn cổ tích vẫn để nguyên như cũ.

Điều thứ tư: Cấm phá hủy những đình chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, những cung điện, thành, quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. Cấm phá hủy những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn.

Điều thứ năm: Chính phủ vẫn công nhận nguyên tác những khoản trợ cấp hàng năm của toàn quốc, của mỗi kỳ hay mỗi tỉnh cho Đông Phương Bác Cổ học viện. Khi dự thảo ngân sách cho toàn quốc, cho từng kỳ hay từng tỉnh, ông Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục, ông Ủy viên tài chính của mỗi kỳ hay của mỗi tỉnh phải dự tính khoản trợ cấp cho Đông Phương Bác cổ học viện.

Điều thứ sáu: Các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc gia giáo dục chiểu sắc lệnh này thi hành."[1]

Sắc lệnh số 65/SL tuy ngắn gọn nhưng súc tích, phản ánh những tư tưởng, quan điểm rất cơ bản, sâu sắc của Nhà nước ta đối với việc bảo tồn di sản văn hóa. Điều đó cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu giá trị vật chất cũng như giá trị tinh thần của các di sản văn hóa, đó là những báu vật kết tinh tư tưởng, tài năng sáng tạo của dân tộc Việt Nam. Với tầm nhìn chiến lược, Người đã nhận thấy cần thiết phải bảo vệ, giữ gìn di sản văn hóa. Bởi di sản văn hóa chính là nơi thể hiện rõ nét nhất hồn cốt của một dân tộc, để mất di sản, dù chỉ là một phần, cũng chính là đánh mất bản sắc dân tộc.

Trước khi có Sắc lệnh 65, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến di sản văn hóa. Ngày 13/9/1945, Người về thăm và dự Lễ kỷ niệm Lý Bát Đế (8 vị vua họ Lý) tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh). Trong không khí trang nghiêm, Hồ Chủ tịch kính cẩn nghiêng mình dâng hương tưởng niệm 8 đức vua triều Lý. Sau đó, Người ân cần nói chuyện với đồng bào và căn dặn: "đi lễ cốt ở lòng thành, cứ gì có mâm bạch ngọc mới là quý…". Người mong "Đình Bảng cần ra sức phát huy truyền thống cách mạng".[i]

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử "lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu", trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, ngày 19/9/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ, nói chuyện và giao nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên phong (Sư đoàn 308 - Quân đội nhân dân Việt Nam) tại Đền Hùng. Đây là di tích lịch sử đặc biệt của dân tộc, nơi gắn với hình ảnh "Con Lạc cháu Hồng"; nơi mà mỗi người dân Việt Nam luôn coi đó là niềm tự hào cho hồn thiêng sông núi, dòng giống của dân tộc. Tại Đền Giếng, Bác đã căn dặn cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Lời căn dặn của Bác cất lên từ Đền Hùng trở thành một lời hịch thiêng liêng của non sông đất nước, chỉ vẻn vẹn hai câu mà khái quát cả mấy nghìn năm lịch sử, rút ra quy luật tồn tại và phát triển muôn đời của đất nước và con người Việt Nam: "Dựng nước phải đi đôi với giữ nước".

Ngày 15/2/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm di tích Côn Sơn. Sau khi thắp hương tại Tổ đường chùa Côn Sơn, Bác Hồ đã dừng lại bên tấm bia "Côn Sơn Tư Phúc tự bi", dịch và giảng giải về nội dung của tấm bia, nhắc nhở mọi người cần trân trọng những giá trị di sản văn hóa của dân tộc. Bác đã leo núi Côn Sơn, tới Thanh Hư Động và dừng chân ở Thạch Bàn - nơi Nguyễn Trãi thường ngồi đọc sách, làm thơ và suy ngẫm việc nước. Tại mảnh đất lịch sử này, Người căn dặn: "Cán bộ và nhân dân phải bảo vệ tốt di tích lịch sử, trồng nhiều cây để Côn Sơn trở thành nơi tùng lâm đẹp đẽ". Lời căn dặn của Bác cho chúng ta thấy rõ hơn về một lãnh tụ luôn quan tâm tới công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc, luôn nhớ về cội nguồn lịch sử.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, đó là những tác phẩm văn học, nghệ thuật cổ điển, nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Khi bàn về âm nhạc dân tộc với nghệ sĩ Đinh Thìn, Bác dặn dò: "Âm nhạc dân tộc ta rất độc đáo, Bác đã đi nhiều nước trên thế giới nhưng Bác vẫn nhớ những câu hát của dân ta. Ta có nhiều câu hát dân ca hay lắm. Bây giờ phải khai thác, phát triển nó lên... Cháu là thanh niên, cháu phải làm nòng cốt tiếp thu và phát triển âm nhạc dân tộc"[2]. Nghệ sĩ tuồng Nguyễn Nho Túy đã không ngờ cái nghề diễn tuồng trước đây bị xem là "xướng ca vô loài" lại được Bác Hồ và các đồng chí Trung ương ngồi xem trân trọng đến thế… "Bác còn bước lên sân khấu bắt tay anh chị em tôi, lại ân cần dặn dò: "Nghệ thuật của cha ông ta hay lắm, tốt lắm! Cố mà giữ gìn".[3] Âm nhạc dân tộc đã đi vào tâm hồn và tình cảm của Bác ngay từ thời thơ ấu, Người vẫn nhớ đinh ninh những làn điệu, những câu hát dân gian ở quê nhà. Xúc động biết bao trong khoảnh khắc cuối cùng của đời người, Bác muốn nghe một khúc dân hát dân ca. Ước nguyện bình dị của Người ẩn chứa cả một tinh thần nhân văn cao đẹp, trong tinh thần ấy là quê hương, là nguồn cội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quan tâm tới việc xây dựng bảo tàng, bởi nơi đây chính là trường học tốt về lịch sử, đích thân Người đã đến duyệt lại nội dung trưng bày Viện Bảo tàng cách mạng trước ngày mở cửa. Người cho rằng: "Viện Bảo tàng Cách mạng cũng giống như một cuốn sử cho ta thấy rõ ông cha ta đã khó nhọc như thế nào mới xây dựng nên đất nước tươi đẹp như ngày nay…"[4]; "Nếu mọi người học tập thấm nhuần tinh thần anh dũng và chí khí kiên cường, học được ở Viện Bảo tàng, mà quyết tâm làm đúng chính sách của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, đặt lợi ích chung lên lợi ích riêng, thì chúng ta nhất định thắng lợi trong mọi việc"[5].

Nước ta có một hệ thống di sản văn hóa vô cùng phong phú, cả di sản thiên nhiên và di sản văn hóa, vật thể và phi vật thể, trải dài từ Bắc chí Nam. Hàng chục di sản thiên nhiên và di sản văn hóa, vật thể và phi vật thể, đã được UNESCO công nhận, trở thành tài sản của thế giới. Con người có thể xây dựng nên rất nhiều công trình mới, nhưng không thể tạo ra di sản, vì di sản là quá khứ, là lịch sử. Đó chính là những báu vật, cần được đặc biệt bảo vệ, giữ gìn. Ngày 24 tháng 2 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 36/2005/QĐ-TTg về việc hàng năm lấy ngày 23 tháng 11 là "Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam", đây cũng chính là ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc Lệnh 65. Dù Bác đã đi xa nhưng những lời căn dặn của Người mãi là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Thời gian càng lùi xa tư tưởng của Người càng sáng mãi./


[1] Bảo vật quốc gia: Tập sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945-1946, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, H.2017, tr.120.

[2] Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb. Tác phẩm mới, H.1985, tr.229.

[3] Hồ Chí Minh với Văn nghệ sĩ, Văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh, tập 4, Nxb Hội Nhà Văn, H.2012, tr.304

[4] Hồ Chí Minh - Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H.2011, tr.6

[5] Hồ Chí Minh - Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H.2011, tr.256

[i] Chủ tịch Hồ Chí Minh với Bắc Ninh, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, H.2019, tr.12.

Cao Thanh Huyền

https://bvhttdl.gov.vn/sac-lenh-65-23-11-1945-sac-lenh-dau-tien-ve-bao-ton-di-san-van-hoa-20211117152304607.htm

---



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.