Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách

08/03/2017

Chuyện về Bà chúa Lối ở huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc) : một thứ phi của Thái tổ Mạc Đăng Dung

Bà chúa Lối, tức là Bà chúa ở làng Xuân Lôi. "Lối" chính là đọc chệch từ "Xuân Lôi". Đến nay, bà vẫn được thờ phụng tại làng Xuân Lôi, suốt trong mấy trăm năm qua.

Có ảnh chụp ngôi đền Bà chúa Lối ở dưới. Công phát hiện gần đây là của nhóm Nguyễn Hữu Hạnh - Phan Đăng Nhật (và một số người khác). Tôi chưa từng tới ngôi đền này, mà chỉ xem tư liệu do nhóm trên chụp về.

Còn đang phân vân, về độ xác thực của tư liệu.

Thì thật ngẫu nhiên, trong ngày 8 tháng 3 năm 2017, tìm ra được một nghị định thời Pháp thuộc về Bà chúa Lối. Hóa ra, từ thời Pháp thuộc, người ta đã biết rất rõ về bà và di tích, di vật liên quan.

Sẽ công bố những tư liệu mới này sau, để khẳng định về một bà thứ phi của Mạc Thái Tổ ở vùng đất Vĩnh Yên/Vĩnh Phúc.

Dưới là chạy các thông tin đã biết cho đến thời điểm hiện tại. 

Thứ tự thông tin xếp theo ngày tháng công bố.







Ảnh của Phan Đăng Nhật, chụp tháng 8 năm 2012





---




1. Năm 2010, dòng họ Nguyễn viết về cha đẻ của bà thứ phi:

"
Năm Ất dậu đời vua Chiêu Tông (1525) người con cả của ông là Nguyễn Tông (có sách chép là Tôn Nguyên là Sùng) được làm quan  chức Hiến sứ. Con thứ hai làm chức phó sứ. Đời Thống Nguyên (Hoàng Đệ Xuân 1522-1520) Nguyên Tông (Toàn Lê tiết nghĩa lục chép là Tông Nguyên) nhận chức quan đô đốc của Mạc Đăng Dung được phong tước bá: Liên Đàm bá rồi đem con gái là Nguyễn Thị Ngọc Lãng gả cho Đặng Dung làm phi mở cung Trường Xuân.
"

"

Cụ Tổ dòng họ Nguyễn Thiệu


Dù có đi khắp năm châu bốn biển nhưng dòng họ Nguyễn Thiệu không bao giờ được "thay tên đổi họ". Tên ở đây là tên đệm - chữ "Thiệu" luôn được gắn liền như một quy luật tất yếu như một bí quyết bất biến để nhận ra người cùng huyết mạch hễ Nguyễn Thiệu là "người trong nhà". Đó là sự thực bởi khắp nước Nam này không có dòng họ Nguyễn Thiệu thứ hai.

Vừa qua nhiều nhà sử học sưu tầm và tổng hợp các danh nhân văn hóa qua các triều đại xa xưa trong đó có nhiều cuốn sách sử ghi chép về thân thế của Cụ Tổ dòng họ Nguyễn Thiệu tôi thấy nhiều chi tiết còn thiếu hoặc chưa chính xác vậy tôi - một hậu duệ thuộc dòng họ Nguyễn Thiệu xin được mạo muội trích dẫn từ "Gia phả dòng họ Nguyễn Thiệu" để làm tư liệu tham khảo và nói rõ hơn về Cụ Tổ Nguyễn Thiệu Tri.

Hiện nay Cụ Tổ Nguyễn Thiệu Tri còn lưu danh trên bia của Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội). Và tại xã Xuân Lôi (Lập Thạch Vĩnh Phúc) - nơi phát tích của dòng họ Nguyễn Thiệu người dân cả vùng nam Lập Thạch vẫn còn lập đền thờ ghi nhớ công ơn đối với "Quan Tiết" Nguyễn Thiệu Tri.

NGUYỄN THIỆU TRI
 (1442-1522)
       
Ông người xã Xuân Lôi huyện Lập Thạch phủ Tam Đái thuộc Thừa Tuyên Sơn Tây tục danh làng Lối (còn gọi là thôn Cây Phấn). Nay thuộc xã Xuân Lôi (huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc).
       
Thi đỗ ở bảng phụ danh sách thứ 11/50 khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1478) năm 37 tuổi (1).
       
Ông làm quan ở bộ Hộ (2) thăng đến chức Thượng Thư. Về trí sĩ được phong là Phụng Trực đại phu.
       
Năm Ất dậu đời vua Chiêu Tông (1525) người con cả của ông là Nguyễn Tông (có sách chép là Tôn Nguyên là Sùng) được làm quan  chức Hiến sứ. Con thứ hai làm chức phó sứ. Đời Thống Nguyên (Hoàng Đệ Xuân 1522-1520) Nguyên Tông (Toàn Lê tiết nghĩa lục chép là Tông Nguyên) nhận chức quan đô đốc của Mạc Đăng Dung được phong tước bá: Liên Đàm bá rồi đem con gái là Nguyễn Thị Ngọc Lãng gả cho Đặng Dung làm phi mở cung Trường Xuân.
       
Khi này ông đã 93 tuổi (3) đang trí sĩ ở quê nhà. Ông căm giận người con lỗi đạo mới cho gọi người con thứ đến trăng trối mọi việc về sau truất quyền thừa tự của con cả.
       
Đến đêm ông sửa lễ bái vọng về Lam Sơn là nơi có lăng tẩm của các Vua Lê rồi lấy chiếc mâm đồng tự phơi gan ruột mà tử tiết để tỏ lòng trung thành với nhà Lê.
       
Việc làm của ông cùng đồng thời với hành động của các sĩ phu khác chống lại Mạc Đăng Dung đến cùng như: Hàn Lâm hiệu lí Nguyễn Thái Bạt(4) đã nhổ vào mặt Mạc Đăng Dung rồi mắng chửi ầm ỹ trước các triều thần; Lễ bộ thượng thư Lê Tuấn Mậu(5) dấu hòn đá vào ống tay áo rồi nhân lúc được đến gần ném vào Mạc Đăng Dung. Thương trực bộ Lại Đàm Thận Hy(6) Tham chính sứ Kinh Bắc Nguyễn Duy Tường và Bình Hồ Bá Nghiêm Bá Kí(7) đều thống nhất hương binh chống đánh Mạc Đăng Dung gây thành một làn sóng ái quốc trung quân vang dội trong giới sĩ phu công việc của các ông không thành.
       
Sự tử tiết của Nguyễn Thiệu Tri như vì sao toả sáng chói lọi trong hàng bề tôi trung thành của nhà Lê sơ vì vậy đã dậy lên một ấn tượng mạnh mẽ.
       
TS Triều Mạc là Hà Nhậm Đại đã rất ca ngợi ông trong sách "Thiên Nam thi tập":
       Luỹ triều phụ tưởng há hoàng ân
       Cửu thập dư niên xử đức tôn
       Phú quý công danh như giới thị
       Quốc tồn cách thị dữ thân tồn.
       (Mấy triều những tưởng báo ơn vua
       Chín chục năm hơn được đức dư
       Phú quý công danh xem bằng cái
       Nước còn là mãi tấm thân còn).
       
Năm Bính ngọ (1666) triều vua Lê Huyền Tông đời Lê Trung Hưng theo lời tâu của Tham tụng Phạm Công Trứ(8) triều đình tuyên dương 13 công thần tiết nghĩa đời Chiêu Tông (1516-1522) ông được phong làm Phúc Thần bậc thượng đẳng. Bởi ông và ông Nguyễn Duy Tường tuy không có công theo Vua mà tử tiết nhưng có công nhận mật chiếu bất khuất mà hi sinh có khí tiết(9); ban tên Thuỵ là Cương Phương - con cháu được bổ dụng. Lại được lập đền thờ ở thôn Cây Phấn theo thời tiết tế tự như thể lệ tế bách thần.
       
Các triều đại về sau đều có sắc phong tặng: nay con cháu còn lưu giữ được 5 đạo sắc của nhà Lê và 5 đạo sắc của triều Nguyễn. Đạo sắc cổ nhất đề ngày 18 tháng 4 năm Cảnh Trị thứ 8 đời vua Lê Huyền Tông (1670) nguyên văn các chữ đẹp được ghi là: "Tứ Mậu tuất khoa đệ tam giáp ĐTS xuất thân Hộ bộ thượng thư Nguyễn Tướng Công Thuỵ Cương Phương chính trực trung hậu tế thế trạch dân kiêm tiết phục nghĩa khang quốc bảo dân chí đức Đại Vương". (Ban cho ông tướng công họ Nguyễn vốn đỗ đệ Tam giáp ĐTS xuất thân khoa Mậu Tuất thượng thư Bộ Hộ tên thuỵ là Cương Phương là người ngay thẳng trung hậu cứu đời dân ơn giữ tiết tháo theo chính nghĩa nước yên vui dân được giữ gìn có đức lớn tước Đại Vương).
       
Đền thờ ông được chép trong tự điển Bộ Lễ nhà Lê được quốc tế. Trong đền có đôi câu đối:
Nghĩa đảm cao huyền thiên địa bạch
Trung can quảng đối quỷ thần tri
(Mật nghĩa vô cùng trời đất rõ
Gan trung mở rộng quỷ thần hay)
       
Triều Nguyễn niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 6 (1846) ban sắc tặng các chữ: Tuấn lương Lượng Trực Lê triều Mậu tuất khoa Đệ tam giáp ĐTS xuất thân Hộ bộ tượng thư Nguyễn Phủ quân chi thần.
       
Cho đến ngày nay dân địa phương vẫn khiêng tên huý của ông. Người ta chỉ dám xưng gọi "Quan Tiết" hay "Đền Quan Tiết". Uy danh ông lừng lẫy một vùng Nam huyện Lập Thạch là như thế.
   ------------------                                    
 
              * Chú thích

              1. Xem bia Văn Miếu Hà Nội số 6 lập ngày 15-8 năm Giáp Thìn (1484).
         2. Bộ Hộ: Giữ công việc ruộng đất nhân số kho tàng lương tiền thu phát và các việc về ruộng lộc thuế má muối và đất.      
         3. Về tuổi của Nguyễn Thiệu Tri theo như ĐKL ông thi đỗ năm 37 tuổi khoa Mậu Tuất 1478 thì năm sinh của ông là 1442.
       Năm 1522 sử cương mục chép ông Tử Tiết khi vua Chiêu Tông thất bại. Vậy khi ấy ông mới 81 tuổi.
       Các thư tịch đều chép năm ấy ông đã 93 tuổi là điều lấy làm ngờ.
       4. Nguyễn Thái Bạt: Người xã Bình Lăng huyện Cẩm Giàng. Nay thuộc thôn Thu Lăng xã Ngọc Liên huyện Cẩm Bình tỉnh Hải Dương.
       Đỗ đệ nhị TS xuất thân (Hoàng giáp) khoa Canh Thìn niên hiệu Quang Thiệu 5 (1520) đời vua Lê Chiêu Tông.
       5. Lê Tuấn Mậu: Người xã Xuân Lôi huyện Yên Phong. Nay là thôn Xuân Lôi xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh.
       Đỗ Đệ nhị giáp TS xuất thân (Hoàng giáp) Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức 21 (1490).
       6. Đàm Thận Huy: Người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn. Nay là thôn Ông Mạc xã Hưng Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
       Đỗ Đệ tam giáp ĐTS xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức 21 (1490). 

Nguyễn Thiệu Anh
 (Trích từ Gia phả dòng họ Nguyễn Thiệu)

"


2. Bài của Phan Đăng Nhật, năm 2012, lấy về trang Mạc tộc (bài này sau in chính thức trong kỉ yếu hội thảo, xem mục lục kỉ yếu ở đây).



 Ngày 3 tháng 7 năm 2012 vừa qua, chúng tôi ( Khang, Thuận, Nhật) đi Vĩnh Phúc tiếp tục tìm hiểu khảo sát để làm bộ phim tư liệu phục vụ hội thảo khoa học về “nhà Mạc ở Vĩnh Phúc”.
          Trước đó, có nghe nói qua về đền thờ của thứ hậu, nhưng chưa “sở thị”, chúng tôi nhờ anh Hạnh đi tìm hiểu trước. Hôm nay anh Hạnh dẫn đường . Đền thờ Bà được nhân dân gọi là Đền bà chúa Lối. Ngày xưa đây là làng Lối, sau đổi thành Xuân Lôi. Tên làng thành tên Bà chúa.
          Đến nơi, chúng tôi được tiếp chuyện ông Nguyễn Thiệu Thăng, chủ nhang, đồng thời là hậu duệ của Bà. Mọi di tích, giấy tờ liên quan hầu như đã mất hết. May thay, nhà đền còn giữ được bài văn bia  mộ được chép lại trên giấy bằng chữ Hán và dịch ra quốc ngữ.
          Qua bài văn, được biết Bà tục danh là Nguyễn Thị Ngọc Lãng, được tặng hiệu Thái chiếu viên, xuất thân từ một gia đình danh gía vọng tộc. Ông nội làm Thượng thư bộ Hộ. Bà “Bẩm sinh thiên tính, dáng vẻ đoan trang, tính tình hiền hậu,…thảo hiền đức hạnh, chăm chỉ lễ phép”.
          Bà sinh năm 1507, mất năm 1537 (niên hiệu Đại Chính thứ 8, thời vua Mạc Đăng Doanh), hưởng dương 30 năm. Khi Bà lâm bệnh, triều đình cử thái y, cấp nhiều tiền bạc, hết lòng chạy chữa. Sau chuyển về quê nhà tiếp tục điều trị. Bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Chính kỵ của Bà ngày 4 tháng 4 hàng năm. Bà được an táng ở cánh đồng “lò hấp”, còn gọi là đồng Chén, mộ phần theo “đoài sư chấn hương”.
          Chúng ta chân thành cám ơn bà con Xuân Lôi và bà con họ Nguyễn Thiệu đã chăm sóc hương khói nhiều thế kỷ nay. Từ nay con cháu họ Mạc xa gần nhớ ngày giỗ Bà 4 - 4 Âm lịch đến dâng hương.


Bài và ảnh Phan Đăng Nhật

http://mactoc.com/newsdetail/1687/tim-en-en-tho-va-khu-vuc-lang-mo-thu-hau-cua-thai-to-mac-ang-dung.aspx



3. Bài của Phan Đăng Thuận, năm 2012


  Thông báo Hán Nôm >> Chủ đề >> Lịch sử
Phan Đăng Thuận
90. Tư liệu về thứ phi của Thái tổ Mạc Đăng Dung (TBHNH 2012)
Cập nhật lúc 10h27, ngày 09/02/2015
PHAN ĐĂNG THUẬN
Hà Nội

trong chương trình nghiên cứu về nhà Mạc và hậu duệ ở Vĩnh Phúc, chúng tôi đã đi về đền thờ bà Chúa Lối thuộc làng Lối xã Xuân Lôi huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc. Bà là Nguyễn Ngọc Lãng, quê ở làng Lối nên gọi là bà Chúa Lối. Bà là Thứ phi của Thái tổ Mạc Đăng Dung. Năm 1538 bà bị bệnh, xin về bản quán để chữa trị và mất tại quê nhà. Hiện nay ở đền còn có văn bản bằng chữ Hán có tiêu đề: “Hoàng Việt Thái Chiêu mộ chí”. Bia được khắc vào năm Đại Chính thứ 8 (1538). Cuối văn bản có thêm dòng ghi chú bằng chữ Hán, cho biết vào năm Thành Thái thứ 10 (1907), ông “Đỗ Văn Phác người trong thôn coi đền khi cày ruộng thấy 2 phiến đá mộ chí, đem ghép lại, nhân đó sao chép, rồi lại chôn đá vào chỗ cũ”.

Nguyên văn:

皇越太昭墓誌

太昭姓阮諱玉朗貫在立石縣春雷社祖奉直大夫戶部尚書名紹知父連潭伯名良翰母序夫人姓阮名氏貞太昭媛以前朝端慶三年丁卯八月十六日酉時生淑慎端莊本乎天性門楣之慶可徵也

太上皇在潛邸時奉入侍敬戒儉勤動循禮法太上皇於受命之始丹封昭媛告以長春宮仍終賜田土桑洲共二百柒拾畝皇上廣敘尋之道加以大字曰太昭媛大正八年二月二十日太昭媛染病有醫官李樸奉命診治并奉賜錢百五貫本年三月二十一日奉回本貫療治雖醫治多方而神丹罔效本年四月初四日酉時壽終春秋三十有一

太上皇特命太保鎮國公莫文撰西寧侯奠敬司禮監掌監尹瑛等奉賞賜錢二千貫皇上聞訃為輟朝二箇月命南軍都督府掌府事宣,郡公鄧文值西軍都督府掌府事,梁郡公范金梧司禮監右提點阮讓等董喪事并奉賞賜錢三百貫賜諡曰謹儀本月十一日巳時太昭入嬪本月二十一日皇上命南軍都督府左都督艾陽侯黎充光。。。祭仍賞賜錢三百貫本年十月二十一日皇上皇因往經理宣光地方回親臨其家賜弔慰奉內百貫本年十二月初六日寅時太昭媛闓嬪本月十八日上命香郡公丁伯潭輔祭本月十九日巳時發引安葬于魯吸之原兌山震向憶太昭有淑行懿則而不享遐壽是哀也。銘曰

雲迷素月

草憫玄堂

令儀如在

萬古流光

大正八年十二月十九日

謹事郎翰林院校理士范既奉敕撰謹事郎中書監正字巨丁仁勇奉敕書嘉行大夫工部鞍轡當造所刊書匠匠正巨段有猷奉敕刊

成泰十年二月本村人守祠杜文朴耕見兩石岸墓誌合來因將承抄又將石埋于依舊。

Dịch nghĩa:

Bia mộ Thái Chiêu Viên nước Hoàng Việt

Thái Chiêu Viên họ Nguyễn, tên huý là Ngọc Lãng, quê ở xã Xuân Lôi huyện Lập Thạch. Ông nội là Phụng Trực đại phu Hộ bộ Thượng thư tên là Thiệu Tri. Thân phụ là Liêu Đàm bá Lương Hãn. Thân mẫu là Tự Phu nhân tên là Nguyễn Thị Trinh. Thái Chiêu Viên sinh giờ Dậu ngày 10 tháng 8 năm Đinh Mão, niên hiệu Đoan Khánh thứ 3 triều Lê (1507). Bẩm sinh thiên tính, dáng vẻ đoan trang tính tình hiền hậu. Đó là điều tốt trong gia tộc đã hiện rõ.

Thái Thượng hoàng khi chưa lên ngôi vua, đã được cho theo hầu, một lòng cung kính, giữ gìn, cần kiệm, việc gì cũng giữ đúng lễ phép. Thái Thượng hoàng khi lên ngôi vua, liền phong cho là “Chiêu Viên” và cho ở cung Trường Xuân; lại ban 270 mẫu ruộng bãi dâu. Hoàng thượng rộng mở đạo hiếu, lại ban thêm đại tự là “Thái Chiêu Viên”. Ngày 20 tháng 2 niên hiệu Đại Chính thứ 8 (1537), Thái Chiêu Viên lâm bệnh. Quan ngự y là Lý Phác phụng mệnh đến chữa trị và ban cho 500 quan tiền. Ngày 21 tháng 3 năm đó bà vâng mệnh trở về quê nhà chữa bệnh. Tuy đã dùng nhiều phương pháp điều trị, kể cả thần dược, nhưng không có kết quả. Bà mất vào giờ Dậu ngày 4 tháng 4 năm đó, hưởng thọ 31 tuổi.

Thái Thượng hoàng sai Thái bảo Trấn Quốc công là Mạc Văn Soạn và Tây Ninh hầu Điện Kính, Ty lễ giám chưởng giám là Doãn Anh cùng vâng mệnh đến ban cho 200 quan tiền. Khi nghe tin cáo phó, nhà vua nghỉ chầu 2 tháng, sai Nam quân Đô đốc phủ chưởng phủ sự Tuyên Quận công Đặng Văn Trí, Tây quân Đô đốc phủ chưởng phủ sự Lương Quận công Phạm Kim Ngô, Ty Lễ giám Hữu Đề điểm Nguyễn Nhượng đến trông coi việc tang lễ và ban cho 300 quan tiền cùng thuỵ hiệu “Cẩn Nghi”. Vào giờ Tỵ ngày 11 tháng đó làm lễ “nhập thần” Thái Chiêu Viên. Ngày 21 tháng ấy, Hoàng thượng lệnh cho Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Ngãi Dương hầu Lê Sung Quảng đến tế và ban cho 300 quan tiền. Vào ngày 21 tháng 10 năm đó, Hoàng thượng đi kinh lý vùng Tuyên Quang trở về, đích thân vào chia buồn với gia đình và lại ban 100 quan tiền. Vào giờ Dần ngày 6 tháng 12 năm đó, làm lễ Khải Thần. Ngày 18 tháng đó, nhà vua sai Hương Quận công là Đinh Bá Đàm lo việc tế lễ. Giờ Tỵ ngày 19 tháng đó, lễ cử hành an táng được đưa về cánh đồng “Lỗ Hấp” mộ phần theo “Đoài sơn chấn hướng”. Nhớ Thái Chiêu là người thảo hiền, đức hạnh, chăm chỉ lễ phép mà không được trường thọ, thật đáng thương thay. Có bài minh rằng:

Mây mờ che trăng tỏ,

Cỏ buồn chốn huyền đường.Dungnghi như còn đó,

Soi sáng mãi muôn đời.

Ngày 19 tháng12 niên hiệu Đại Chính thứ 7 (1537), Cẩn sự lang Hàn lâm viện Hiệu lý Phạm Ký phụng mệnh soạn.

Cẩn sự lang Trung thư giám chính thần Đinh Nhân Dũng phụng mệnh viết chữ. Gia Hạnh đại phu Công bộ yên bí đường tạo sở san thư tượng Tượng chính thần Đoàn Hữu Du phụng mệnh khắc.

Tháng 2 niên hiệu Thành Thái thứ 10 (1907) Đỗ Văn Phác người trong thôn coi đền khi cày ruộng thấy 2 phiến đá mộ chí, đem ghép lại, nhân đó sao chép, rồi lại chôn đá vào chỗ cũ.

Nhận xét:

Đây là một tư liệu quý giúp chúng ta hiểu thêm về tiểu sử của một nhân vật trong hoàng tộc Mạc cũng như để nghiên cứu về lịch sử xã hội Đại Việt thời Mạc. Tư liệu này cũng giúp chúng ta hiểu được mối quan hệ gắn bó giữa nhà Mạc với vùng đất Vĩnh Phúc. 

Chú thích:

(1). Chúng tôi xin cảm ơn PGS.TS Đinh Khắc Thuân đã hiệu đính, chỉnh lý giúp.

http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=2333&Catid=485

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.