Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách

08/01/2017

Ngôi mộ Nguyễn Bỉnh Khiêm mới phát lộ (bài Nguyễn Đình Minh)

Câu chuyện mới ở Hải Phòng.

Đầu tiên là một bài chép nguyên về từ trang Nguyễn Đình Minh.

Tư liệu bổ sung (nếu có) sẽ dán vào phía dưới.



---

Tháng 1 năm 2017

Ngôi mộ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và tôn tộc nhà Mạc - Hé mở độ tin cậy từ những căn cứ khoa học


Bài đã in trên Báo “Kinh doanh & Pháp Luật” số ra ngày 30.11.2016

Sự kiện những ngôi mộ cổ phát lộ ở xã Cộng Hiền (Huyện Vĩnh Bảo TP. Hải Phòng và trong số ấy có 1 tấm quách viết nhiều chữ “Nho”, đặc biệt ở đầu quách có 3 chữ thì 2 chữ rất rõ là “Nguyễn Bình”… Đã dấy lên đồn đoán liệu đó có phải là phần mộ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm? Phóng sự dưới đây, được viết về vấn đề này không dựa trên những vấn đề tâm linh mà căn cứ vào các chứng cứ khoa học, văn học, lịch sử và bằng phân tích logic.

 1.Tấm quách 1700 năm tuổi nói gì?

Ngày 7.4.2014, tại khu sân vườn cạnh bờ ao nhà cô Bùi Thị Hiền, nhân dân thôn Hạ Đồng xã Cộng Hiền (Huyện Vĩnh Bảo – Hải Phòng), đã khai quật nhiều ngôi mộ cổ. Điều đặc biệt là những ngôi mộ này có những đặc điểm lạ và chứa di vật bên trong bất bình thường.

Khởi động hành trình giải mã
Trong văn số 16 ngày 15.5.2014, của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người (sau khảo sát thực tế), gửi UBND xã Cộng Hiền, viết: “Đây là những ngôi mộ cổ và những người nằm trong đó có thể là những bậc danh nhân”. Tiếp đó, ngày 15.10.2014, đoàn cán bộ của Viện khảo cổ, sau khi nghiên cứu các vật thu được bởi Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người, đã có cuộc làm việc trực tiếp tại khu vực khai quật. Tại đây, các nhà khoa học đã kiểm tra xem xét, hội thảo tại chỗ nhiều nội dung, nhưng tập trung vào các hiện vật khai quật được bao gồm: 2 tấm quách bằng gỗ, 1 tấm còn khá nguyên vẹn, 1 chiếc tiểu gốm có hoa văn lạ và 9 chiếc cúc vàng hình nụ chè.

Kích cỡ và lớp sơn của chiếc quách khi khai quật, theo những người có mặt trực tiếp là ông Phạm Văn Thường (Y sỹ Phòng khám đa khoa xã Cộng Hiền), ông Phạm Đình Lời (Bí thư chi bộ thôn Hạ Đồng), vợ chồng ông bà Trần Giòn (Ngay sát khu khai quật)…, đều khẳng định, khi mới đào lớp sơn đỏ au và mùi thơm thoảng bốc lên. Kích cỡ thiết kế  theo quy cách: 1,26 m x 0,30 m x 0,33 m. Các tấm thiên, địa và xung quanh được ghép mộng và chốt bởi những “thẻ” gỗ có đầu vót nhọn. Tiến sĩ khảo cổ học Lê Đình Phụng, khẳng định 3 vấn đề về tấm quách: chất liệu gỗ Ngọc Am, màu sơn vỏ quách và các quy cách thiết kế, đặc biệt kiểu mộng ghép… theo các chỉ số phong thủy phù hợp với văn hóa mai táng người thuộc tầng lớp quý tộc mất vào giai đoạn cuối thế kỷ 16 và thế kỷ 17.

Ngay sau đó, PGS.Tiến sỹ Nguyễn Lân Cường (Tổng thư ký Hội Khảo cổ Việt Nam) đã thực hiện tổ chức việc kiểm định niên đại tấm quách tại Phòng thí nghiệm Thủy văn đồng vị, thuộc Trung tâm  hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, mẫu gỗ lấy từ tấm quách (Mẫu gốc ký hiệu No.­1 NBK; Mẫu kiểm định số 02- KC/ 2014 ngày 10/7/2014) đã xác định niên đại gỗ 1700 năm, sai số 75 năm. Gỗ Ngọc am là loại gỗ quý hiếm (Ngọc am, nghĩa là ngọc ở dưới đất). Cây gỗ là cây Hoàng đàn, họ thông có thể sống nghìn năm tuổi, khu vực sinh trưởng là vùng núi tai mèo heo hút Hà Giang. Tuy nhiên chỉ khi nó được vùi lấp xuống đất từ vài trăm năm trở lên, khi toàn bộ dầu trong thân tụ vào lõi và tỏa mùi thơm thì mới được gọi là Ngọc am. Như vậy từ khi cây bị đốn hạ (chết) đến lúc “hóa” Ngọc Am, tuổi đời của gỗ đã cả nghìn năm (theo phương pháp phân tích niên đại C-14). Người ta chọn lõi gỗ này làm ván khi hung táng, hoặc làm quách sau khi cát táng, bởi chất dầu từ gỗ có thể giữ da thịt hoặc xương cốt bền vững do nó có 1 hợp chất thành phần chủ yếu là dầu thông làm vô trùng tuyệt đối. Tác giả Trần Lương trên Báo Công lý (số 18/2/2012), khi điều tra tại Hà Giang cho biết từ xưa ở đây có nghề khai thác gỗ Ngọc am bán cho các quý tộc ở Trung Quốc để làm quan tài chôn người chết. GS Đỗ Văn Ninh (Viện khảo cổ) cũng thừa nhận: người Trung Quốc gọi nó là san mộc (shamou). Gỗ quý này bền thơm và có tính sát khuẩn cao nên góp phần bảo quản thi hài. Còn tác giả Phạm Ngọc Dương trên VTC News buổi phát 7/9/2011 trong bài “Phát hiện bất ngờ: Hà Giang vẫn còn cây Ngọc am”, theo tác giả này tra cứu thì trong lịch sử, vua Tự Đức từng biếm chức viên quan Án sát tỉnh Quảng Bình là Nguyễn Khắc Nguyên vì vị này dám lén dùng tinh dầu ngọc am để ướp xác cho mẹ.

Ba điều chứng minh, một điều hé lộ
Những nội dung trên chứng minh 3 điều: thứ nhất tấm quách gỗ Ngọc am cực kỳ quý hiếm với niên đại 1700 năm là phù hợp với thời điểm khoảng 500 - 600 năm trở lại đây tương ứng thời kỳ nhà Mạc, vì niên đại được tính từ lúc cây được chặt khỏi gốc (hoặc chết) và vùi trong đất; trong khi trước đó, khu đất tại thôn Hạ Đồng hiện nay chỉ là vùng nước ngập đang bồi, ven sông hoang vắng có thể chọn làm địa điểm chôn dấu bí mật lý tưởng. Thứ 2, người được dùng nó làm quách mai táng không phải người thường dân, thậm chí không phải quan lại cỡ nhỏ. Nếu suy xét vị trí địa lý huyện Vĩnh Bảo trong điều kiện đường xá xa xôi, hiểm trở ở thời điểm đó, thì việc người thường dân lên Hà Giang khai thác gỗ này làm quách để dùng là điều không thể. Do đó gỗ phải được ban phát hoặc tặng cho những mệnh quan triều đình, mà người như vậy quê ở huyện Vĩnh Bảo có mặt trong Triều, thời điểm này không phải là nhiều. Thực tế, theo thống kê của Phòng Văn hóa Thông tin huyện Vĩnh Bảo, trong số 19 vị đỗ đại khoa thời khoa bảng phong kiến, thì có 15 vị đã xác định rõ tham gia các chức vụ trong triều đình các thời kỳ, sớm nhất là Hoàng Giáp Phạm Đức Khản (Hội Am- Cao Minh đỗ khoa thi Mậu Thìn 1448) giữ chức Tả Thị Lang và sau cùng là Tiến Sĩ Nguyễn Duy Tinh (Tạ Xá, Tứ Kỳ (cũ) Vĩnh Lại) đỗ khoa Ất Mùi 1535 giữ chức Thừa Chính Sứ. Các vị này đều  đã được các dòng họ hoặc nhân dân bản quán xác định phần mộ, duy nhất chỉ còn Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là ngôi mộ của Người vẫn chỉ tồn tại trong truyền thuyết.

Điều đặc biệt, vào ngày 10.8.2016, khi trực tiếp khảo sát đo đạc tấm quách đang quàn tại 59 Tràng Thi Hà Nội, Kiến trúc sư Lê Kiên (cộng tác viên Viện TNCN) đã nhận thấy tấm địa được làm dày bất bình thường, khi xem xét kỹ, sau khi đất bùn khô bong ra xuất hiện 1 đường rãnh chạy vòng vòng quanh chu vi có độ sâu lấn vào gỗ chừng 2mm. Dấu hiệu này cho thấy nghi vấn là tấm địa được làm bởi 2 lớp gỗ; Và người thiết kế dường như cố ý để lộ cho hậu sinh lối tìm vào các bí mật bên trong. Khi phát biểu về điều này, TS Lê Đình Phụng cho hay: thường thì các bậc tôn quý cài các thẻ tre, thẻ bạc hoặc “Kim sách – thẻ vàng”, tức là những tấm thẻ ghi lại các dấu hiệu báo cho người khai quật biết về người nằm trong quách. Đây là trường hợp đặc biệt cần nghiên cứu mở đáy quách để phát hiện tiếp.

 2. Bí ẩn những dòng chữ Hán
Ngoài những chi tiết về cấu trúc, lớp sơn đặc biệt nói ở kỳ trước, còn có một chi tiết vô cùng quan trọng, đó là những chữ  Nho viết trên tấm quách. Những chữ còn đọc được hé mở thông tin về chủ nhân của nó.

Xác nhận của cụ Đồ Nho 91 tuổi
Ông Phạm Văn Thường (Y sĩ  Phòng khám đa khoa Cộng Hiền), người trực tiếp cọ rửa tấm quách kể: Tôi thấy toàn bộ tấm quách đều có chữ Nho viết trên nền đỏ thẫm có màu đen hơi ánh vàng, khi cọ rửa bị bong tróc một số chữ, nhưng rất tiếc không một ai biết đọc nên đành bỏ qua, tấm quách do  để khô nên chữ chuyển trắng mờ dần. Lời kể của Y sĩ  Phạm Văn Thường có tới trên 20 người sẵn sàng ký vào giấy làm chứng. Khoảng 15 ngày sau cụ Phạm văn Duyệt 91 tuổi (thôn Ngãi Am, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo) được mời đọc tấm quách, xác định “Tôi thấy có rất nhiều chữ, ở phần đầu quách có 3 chữ to nhưng 1 chữ bị mờ nên chỉ đọc được 2 chữ “Nguyễn Bình”. Tấm quách tiếp tục bị phơi khô tới 32 ngày (Từ 8.4 đến 10.5 năm 2014), nên các chữ bị bay mất dần. Ở thời điểm này, anh Ngô Duy Hiển (Đại học Dân lập Hải Phòng) đã dùng iPad chụp lại, và chính anh đã “vẽ” lại các chữ theo hình thức mô phỏng các nét cấu tạo của từng chữ một để nhà thư pháp Lê Thiên Lý nghiên cứu. Theo hướng này, phần nhiều chữ Nho nhất trên mặt quách ghép được thành 1 bài thơ 20 chữ*.  Xác định những chữ trên quách chính là “tấm minh tinh” theo gợi ý của Tiến sỹ Lê Đình Phụng, chúng tôi đã  nhờ cụ Lương Bắc Tưởng (người Hoa) số nhà 689 lô 2, phường Đông Khê, đường Lê Hồng Phong 85 tuổi giỏi chữ Hán Nôm  đến xem trực tiếp. kết quả  đã nhìn rõ 2 chữ còn sót lại là 2 chữ “Kim lan” (bông lan vàng).

Như vậy, nếu coi như độ tin cậy của bài thơ mà anh Ngô Duy Hiển và nhà thư pháp Lê Thiên Lý góp sức nghiên cứu hợp thành là không cao; thì vẫn còn tồn tại 4 chữ do 2 cụ đồ nho khẳng định. Vấn đề là 4 chữ ấy có ý nghĩa gì, và chúng có quan hệ như thế nào với bài thơ 20 chữ ý nghĩa chỉ rõ Trạng Trình nguyễn Bỉnh Khiêm chính là chủ nhân của tấm quách?

 Bên trong hư ảo truyền thuyết chứa cốt lõi lịch sử
Truyền thuyết dân gian huyện Vĩnh Bảo từ xa xưa đã truyền khẩu câu đồng giao về nơi yên nghỉ của Trạng Trình “Ba Ra trông sang, Ba Đồng ngoảnh lại, táng tại Ao Dương”. Tuy truyền thuyết có yếu tố kỳ ảo, song xét theo nguyên lý khoa học, truyền thuyết bao giờ cũng bắt nguồn từ cốt lõi lịch sử. Theo đó cửa sông Ba Ra nằm chếch phía Đền Trạng Trình hiện tại khoảng hơn 1 Km, dòng sông này có luồng chảy về khu vực Thượng Đồng và Hạ Đồng thuộc xã An Hòa và Hạ Đồng  thuộc xã Cộng Hiền (Ba Đồng), tại đây có 1 lạch sông nhỏ dẫn vào 1 chiếc ao đáy phủ rêu xanh 4 mùa, chiếc ao đó của ông Trần Rường (nguyên Bí thư huyện ủy huyện Vĩnh Bảo, bố chồng cô Hiền đã nói ở trên). Chữ “Rường” là phát âm ngọng phụ âm “d” rất phổ biến của cư dân Vĩnh Bảo, như vậy Ao Dương, có phải là cách nói bí hiểm của Cụ Trạng Trình? Tất cả những địa danh này đều trên địa phận huyện Vĩnh Bảo. Vì vậy giả thuyết đưa ra là người ta đã cải táng phần mộ hung táng ở khu vực cửa Ba Ra, xuôi theo sông này và chôn mộ cát táng tại Ao Dương. Nếu xét riêng về khái niệm “Ao”, thì chi tiết này tăng tính hợp lý, bởi nếu táng ở đồng thì sẽ có khái niệm là “Đầm” ; Theo đó “Ao” là khái niệm nội tiếp trong/hoặc ven làng – khu quần cư của người dân. Tất nhiên có thể là “Hồ”, song theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia chú thích từ Brown, A.L (1987) thì ao là nơi mà ánh sáng có thể soi qua tầng nước xuống tận đáy và hồ là nơi mà ánh sáng không soi tới đáy được. Nói cách khác hồ có độ sâu cao hơn và điều này cho thấy chiếc Ao Dương nhỏ và nông tại khu vực khai quật là chiếc ao đích thực.

Mới đây, ngày 7.10.2016, Viện Nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người, sau gần 2 năm nghiên cứu đã tiếp tục gửi công văn Số: 98/ VTNCN, gửi UBND thành phố Hải Phòng, trong đó có viết: “Từ tháng 4 năm 2014, sau khi gia đình bà Hiền và bà con trong xã tìm thấy trong sân gạch nhà bà Hiền một ngôi mộ có nhiều đặc điểm lạ, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu. Viện đã mời các nhà Hán Nôm, khảo cố học tham gia nghiên cứu, phân tích niên đại quách gỗ, mời những người có khả năng đặc biệt khảo sát và cung cấp thông tin. Viện đã có công văn gửi uỷ ban Nhân dân xã Cộng Hiền đề nghị có biện pháp bảo vệ ngôi mộ cổ…” và đề nghị thành phố Hải Phòng vào cuộc. Nội dung công văn cho thấy sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học về ngôi mộ cổ này.

 3. Mảnh vườn quần tụ hàng chục ngôi mộ cổ

Trong quá trình khai quật, người dân đồng thời phát hiện cùng một lúc nhiều ngôi mộ, chúng tập trung dường như có ý thức từ trước vào một khu vực. Trong số 18 ngôi mộ thì có tới hàng chục ngôi mộ được Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người cho rằng đó là những ngôi mộ cổ.

Hoa văn thời Mạc và 9 chiếc cúc áo Vua?
 Trong tập hợp các ngôi mộ nói trên, đáng chú ý là ngay cạnh tấm quách vừa nói còn có 1 tấm quách khác tương tự và 01 chiếc tiểu gốm. Những người khai quật trong đó Bác sĩ Thường cho biết, khi lật các tấm thiên và phần nắp đậy chiếc tiểu gốm, họ có cảm giác như cả 2 đều phủ lớp gì đó óng ánh phủ lên”.  Sau khi làm thủ tục rửa xương ở tám quách gỗ thứ 2 này, người dân thu được 09 chiếc cúc màu vàng. Cúc được gia công hình nụ chè, rỗng nhẹ, bề mặt có nét kẻ hoa văn tinh xảo. Thạc sỹ Phan Đăng Thuận hiện công tác tại Viện Bảo tàng lịch sử, một thành viên của Mạc tộc Việt Nam, khi xem những chiếc cúc vàng hình nụ chè từ nhà thơ Nguyễn Thụy Kha (người giữ 1 chiếc) cho biết, chỉ có Vua là người duy nhất được mặc áo cúc vàng với số lượng 9 chiếc (Cửu đỉnh) biểu tượng của ngôi cao nhất. Số 9 được sùng bái, tôn thờ và gần như trở thành một triết thuyết cho các triều đại ở Trung Quốc và Việt Nam có lẽ là từ sự ảnh hưởng của Kinh dịch, dựa trên thuật luận số. Nó tượng trưng cho Trời, ngày sinh của Trời là ngày 9 tháng Giêng, hoàng đế lại là chân mệnh thiên tử, con trời nên số 9 được ghép cho ngôi vị của vua là vì thế. Tất cả các đồ dùng trong cung đình cùng dùng số 9 để đặt tên như cửu long bôi (9 cốc rồng), cửu đào hồ (ấm 9 quả đào), cửu long trụ (cột 9 rồng)…

..Hiện những chiếc cúc vẫn được lưu giữ, chỉ có 01 chiếc theo tâm linh, người dân đã bỏ lại trong cỗ tiểu mới và chôn cất cùng với phần xương.

Còn chiếc tiểu gốm, xung quanh có nhiều loại hoa văn, trong đó có hoa văn hình con nghê. Kiến trúc sư Lê Kiên khẳng định: tôi đã tra cứu những hoa văn trên chiếc tiểu gốm và so sánh nó với một số hình hoa văn khác trong các hình chụp hoa văn cổ và các hoa văn khác ở các công trình kiến trúc hiện còn tại Việt Nam thời kỳ cuối triều Mạc, thì thấy có sự tương đồng rõ nét. Mặt tiểu được đậy bởi 03 viên gạch có 3 màu khác nhau: xanh, đỏ, nâu ; trên mặt những viên gạch này có những chữ Nho. Tuy nhiên hiện nay chưa đọc được, vì lý do tâm linh người dân đem chôn lại và xây mộ ngay trên địa điểm khai quật.

Từ hiện vật này cho thấy rõ ràng không phải đây là những ngôi mộ thường dân. Nhiều khả năng là mộ vua Mạc hoặc bậc tôn quý triều Mạc. Nhưng tại sao những ngôi mộ này được táng giản đơn như vậy? Nó không bề thế như mộ các vua Triều Lê khi được khai quật gần đây?

Vì sao mộ Vua lại an táng tại đây?
Giải đáp diều này không phải là khó. Khi nghiên cứu lịch sử, chúng ta đều thống nhất hoàn cảnh Vương triều Mạc giai đoạn cuối vô cùng gian nan. Triều Mạc, theo quan niệm của các vương triều thời đó bị coi là Ngụy triều, nên giai đoạn lịch sử từ 1533-1677, chiến tranh Lê,Trịnh và Mạc nổ ra liên miên. Cuối những năm 60 của thế kỷ 16, nhà Mạc suy yếu và bị tấn công mọi phía; năm 1593 vua Mạc Mậu Hợp bị giết, Vương triều phải chạy lên Cao Bằng cát cứ. Mặt khác theo quan niệm duy tâm, để triệt hạ tuyệt đối dòng giống của một thế lực nào đó, người Việt có tục đào bới bùa yểm lăng mộ. Bên cạnh đó là truy tìm tận diệt dòng họ, điều này dễ kiểm nghiệm bằng vụ thảm án Trạng nguyên Trần Tất Văn (1428-1527), đỗ khoa Bính Tuất, thời Thống Nguyên năm thứ 5, năm 1526, đời Lê Cung Hoàng, bị thế lực Lê - Trịnh tru di tam tộc. Và sau này, chính Trạng Trình cũng phải cho con cháu đổi họ mai danh đi khắp nơi tránh hậu họa.  

Từ thực tế lịch sử đó có thể thấy, Trạng Trình bằng tài tiên tri của mình đã đoán định được việc này, với lòng trung quân, Cụ có thể di dời mộ của các bậc quân vương về đây trước khi Cụ tạ thế, và vị vua này phải ở ngôi trước Mạc Mậu Hợp. Đây chính là cách bảo lưu di hài bí mật để không bị khai quật. Trên thực tế, xem lại các sách và thư tịch cổ sau thời Mạc, không hề có sách nào viết về tình tiết các vua nhà Mạc bị đào bới lăng mộ. Cũng cần lưu ý thêm rằng, đất phát tích nhà Mạc là ở huyện Kiến Thụy và Kinh đô (Dương Kinh) gần gũi với Vĩnh Bảo, giao thông thủy bộ đều thuận tiện, xa Thăng Long; Nên khả năng tổ chức di dời mộ của các Vua về vùng đất này là hoàn toàn có căn cứ.

Chúng ta có thể lý giải thêm được việc mộ vua táng tại địa điểm này được ngoài nguyên nhân  đã nói trên, thì đây có thể là vùng đất đặc biệt (Một huyệt đất tâm linh, chúng tôi không đề cập ở đây). Nhưng theo Giáo sư Lê Chí Quế, chuyên gia đầu ngành về văn học dân gian chia sẻ thì hiện tượng mộ kết là do người chết được chôn trong vùng “đất dưỡng thi”, loại đất có những thành phần đặc biệt khiến các loại vi khuẩn, đều không sống nổi, gây “kết phát”. Đây là hiện tượng đã được người dân kể lại khi khai quật đã trình bày ở trên. Việc tìm ra những huyệt đất như vậy hoàn toàn không khó với một người được Chu Xán (Triều Thanh - TQ) bái phục ”An Nam lý học hữu Trình Tuyền”.

Bên trong các tấm quách gỗ và tiểu gốm vẫn còn xương, nhiều người cho rằng với gần nửa thiên niên kỷ mà xương vẫn còn là điều nghi vấn. Tuy vậy, điều nghi vấn này không khó lý giải. Trước hết như đã phân tích khu mộ táng nằm trong vùng đất “dưỡng thi”, nó được bảo quản bởi kỹ thuật bí truyền đi kèm và xương là vật thể khá bền vững về cấu trúc nên không dễ bị phân hủy. Trên thực tế, theo phóng sự “Đi tìm trang phục Việt” do Hãng phim Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh sản xuất 2009 và cuốn  “Trang phục triều Lê Trịnh” của Trịnh Quang Vũ, nhà nghiên cứu Văn hóa – Lịch Sử đã dẫn lời ông Phạm Trung Hiếu, GĐ Bảo tàng Hưng Yên cho biết khi khai quật Lăng Đại tư đồ Nguyễn Bá Khanh (triều Lê Trịnh) , mất từ cuối thế kỷ 17 nhưng, toàn bộ y phục của ông vẫn còn có thể mặc được, trong đó có nhiều bộ bằng chất liệu tơ tằm. Hoặc trường hợp xác Vua Lê Dụ Tông cũng vậy… đó là minh chứng so sánh cho trường hợp cụ thể các ngôi mộ ở đây.

4. Con đường chứng minh vẫn mở rộng
Những hiện vật đã xuất hiện sau khai quật đã và đang được các nhà khoa học chứng minh tính văn hóa cần lưu giữ; nhưng việc khám phá chưa khép lại bởi rất nhiều cơ hội đang mở ra, đang đòi hỏi các cơ quan chức năng thành phố vào cuộc.

Khi thực tế tại khu vực mà người dân nơi đây bắt đầu quen gọi là “Ao Dương” này chúng ta thấy nhiều điều kỳ bí. Điển hình là các vong được bố trí  nhiệm vụ như một cơ cấu bộ máy quản lý: Cụ Đồ với vai trò tổng chỉ huy, Cụ Hoàng (Nhân vật nữ) vai trò quản lý hành chính; Cụ Tý (Nhân vật nữ), chuyên trách tìm mộ liệt sỹ, Cụ Nho đỏ, chuyên xác định những người có tâm có tài, Cụ vác đao chuyên trách nhiệm vụ an ninh, Liệt sỹ Cận, chuyên phụ trách chiếc xe ô tô đi tìm mộ liệt sỹ… và đương nhiên Cụ Trạng Trình, nhân vật trung tâm của khu vực này đang chờ đợi một chức năng lớn lao để gánh vác. Nếu chỉ thuần lòng tin vào tâm linh thì mọi việc khá giản đơn, thậm chí sáng rõ; tuy nhiên nhìn dưới góc độ khoa học thì còn rất nhiều điều phải chứng minh.

   Mặc dầu vậy, con đường chứng minh ở đây hoàn toàn không phải rơi vào ngõ cụt như hiện tượng ở một số địa điểm khác. Theo đó, hiện còn nhiều việc nhìn thấy có thể làm và việc đàu tiên là cần mở tiếp đáy tấm quách. Như đã phân tích trong phần 1 của phóng sự này, đấy tấm quách với kết cấu 2 lớp bất bình thường có thể cất dấu “Tấm minh tinh” thông tin về thân phận chủ nhân của nó. Đồng thời có thể dùng các kỹ thuật khảo cổ với công nghệ hiện đại cho các chữ Nho trên thành quách nổi lại  hoặc có thể đọc được. Hai việc này kết hợp với xác định chính xác niên đại của những chiếc cúc vàng hiện đang thu giữ, đối chứng với văn hóa y phục tôn thất của các triều đại, từ đây có thể tìm ra chủ nhân chiếc quách thứ 2. Cũng tương tự, khai quật tiếp chiếc tiểu gốm nghiên cứu hoa văn, xem xét cấu tạo 3 viên gạch có 3 màu và các chữ Nho (mà người khai quật đã nhìn thấy sau đó chôn lại ngay) ta có thể đọc được tên nhân vật thứ 3…

Khu vực Ao Dương không phải là khu vực quá rộng, căn cứ trên việc bố trí các ngôi mộ cổ cùng quần tụ, giúp chúng ta đặt ra câu hỏi: Vậy khu vực này còn tàng ẩn những gì? Để giải đáp nó có thể cần một bước làm mạnh dạn là khai quật toàn bộ khu vực. Đây có thể là việc làm khó vì liên quan đến đất thổ cư của một số hộ gia đình; Nhưng trong những ngày điều tra, khi chứng kiến cảnh ông Trần Giòn sẵn sàng hiến cả 1 gian nhà để mở  rộng thêm đường cho xe ô tô có thể vào khu vực này; Nhân dân thôn Hà Dương (quê vợ cả Cụ Trạng Trình), tự nguyện quyên góp và bán 14 mẫu ruộng gần khu vực Ao Dương để tích đất, sẵn sàng làm một khu nhà dưỡng lão cho các cụ cao tuổi tại Vĩnh Bảo theo “mơ ước của Cụ Trạng”… thì có thể thấy vướng mắc này không mấy khó khăn.

Thiếu tướng PGS.TS. Ngô Tiến Quý Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Tiềm năng con người trong công văn số 91- VTNCN, gửi UBND thành phố Hải Phòng ngày 07 tháng 10 năm 2016, đã nêu vấn đề tổ chức cho các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu sâu và mở rộng (Chiếc tiểu có hoa văn bằng gốm, quách gỗ và 9 chiếc cúc vàng) bởi đây là sự kiện mà Viện đánh giá là rất trọng đại.  Như vậy, những hiện vật khai quật tại Ao Dương rõ ràng đã trở thành vấn đề văn hóa. Để đi đến sáng rõ mọi vấn đề theo cách nhìn khoa học, căn cứ trên thực tế phát lộ tại đây, các nhà quản lý chính quyên và văn hóa, các nhà khoa học của các cơ quan chức năng, nên làm những cuộc khảo nghiệm mang tính quy mô, bởi Trạng Trình là một nhân vật văn hóa lớn tầm cỡ quốc gia, quốc tế. Hơn nữa, những thế kỷ qua và thời gian gần đây có khá nhiều những đồn đoán, thậm chí có những công trình được xây dựng và tự xác định là mộ phần của Cụ Trạng, rồi thời gian lại tự phủ nhận, gây hoang mang và đổ vỡ niềm mong đợi của người dân Hải Phòng và toàn quốc. Mặt khác có thể chính nơi này còn phát lộ những bí ẩn khác (ngoài Vương triều Mạc) liên quan đến những quá khứ không xa cực kỳ quan trọng mà trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chưa được được phép công bố.
                                                            Phóng sự điều tra của Nguyễn Đình Minh

http://www.nguyendinhminh.net/index.php/bao-chi/the-gioi-huyen-bi/1084-ngoi-m-tr-ng-trinh-nguy-n-b-nh-khiem-va-ton-t-c-nha-m-c-he-m-d-tin-c-y-t-nh-ng-can-c-khoa-h-c


---

BỔ SUNG


.

5. Năm 2012

Thực hư việc tìm được mộ Trạng Trình

Dư luận đang "xôn xao" về việc Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm được phần mộ của danh nhân...

Thời gian gần đây, dư luận đang “xôn xao” về việc Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm được phần mộ của danh nhân văn hoá Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại khu vực cánh đồng Mả Lẻ (thôn Tiền Am, Lý Học, Vĩnh Bảo, Hải Phòng).

Tháng 6/2012, Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Tp Hải Phòng) gửi đơn đề nghị UBND xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Tp. Hải Phòng trình bày về việc: Sau nhiều năm tìm kiếm với sự giúp đỡ của một số nhà ngoại cảm, con cháu trong dòng họ đã tìm và xác định được phần mộ của cụ tổ (Danh nhân văn hoá Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) là một gò đất nhỏ tại cánh đồng Mả Lẻ, thuộc Đội 8, thôn Tiền Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Tp. Hải Phòng.

Đầu tháng 7/2012, Hội đồng Nguyễn  tộc ngành Út đã gửi đơn đến UBND xã Lý Học để xin phép và thông báo cụ thể về thời gian, địa điểm tiến hành lễ động thổ, khởi công xây dựng, tôn tạo phần mộ theo ước nguyện của cụ tổ. Ngày 6/7/2012, UBND xã Lý Học ban hành Công văn số 16 với nội dung: Đồng ý cho Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út được nhận và xây dựng phần mộ, đắp đường đi tại khu vực đất hoang hóa của địa phương ở khu vực mộ như trong đơn đề nghị và được tổ chức lễ phần mộ…


v
Lăng mộ mà Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út cho rằng là mộ cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Sáng 24/7/2012 (ngày 6/6 năm Nhâm Thìn), Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tổ chức lễ động thổ, khởi công xây dựng khu lăng mộ cụ tổ. Trước khi tổ chức buổi lễ, Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi UBND xã Lý Học một số văn bản có nội dung: đề nghị được hỗ trợ về an ninh trật tự trước và trong buổi lễ; báo cáo chi tiết về phương án, cách thức, quy mô xây dựng phần mộ.
Sau lễ khởi công, Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục gửi nhiều văn bản đề nghị UBND xã Lý Học xem xét, tạo điều kiện được xây dựng phần mộ, đường vào phần mộ theo quy cách, kích thước đã nêu trong các văn bản. Khi xây dựng xong, Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út sẽ báo cáo xin phép các cấp thẩm quyền được quy hoạch, lập dự án hoàn chỉnh khu di tích này. Đến tháng 8/2012, Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi đơn lên UBND huyện Vĩnh Bảo. Sau khi nghiên cứu nội dung đơn, căn cứ vào “quy định của pháp luật”, UBND huyện Vĩnh Bảo đã chuyển đơn của về UBND xã Lý Học xem xét giải quyết…

Đầu tháng 9/2012, UBND xã Lý Học đã có Công văn số 01 trả lời với nội dung: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là danh nhân văn hoá của dân tộc, việc tìm được mộ của cụ là ước nguyện không những của dòng họ Nguyễn mà còn là ước nguyện của toàn thể cán bộ nhân dân xã Lý Học cũng như toàn thành phố. Đến thời điểm hiện tại, UBND xã Lý Học chưa nhận được văn bản chỉ đạo của cấp có thẩm quyền nên không có quyền quyết định việc lập quy hoạch xây dựng khu di tích lăng mộ Trạng Trình…

Sự kiện tìm được mộ cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo nên một sự kiện tâm linh gây bất ổn về an ninh trật tự, ảnh hưởng đến tình hình chính trị tại địa phương và cuộc sống, sinh hoạt của nhân dân.

Trao đổi với phóng viên, ông Ngô Đăng Lợi, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho biết: Việc Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói đã tìm được mộ của Cụ Tổ là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (tại khu vực nêu trên) bằng phương pháp ngoại cảm là chưa có căn cứ khoa học.

Trước đây, ông Lợi đã cùng lãnh đạo UBND thành phố; Thượng toạ Thích Quảng Tùng, Phó Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hải Phòng và một số nhà ngoại cảm nổi tiếng như Phan Thị Bích Hằng, Đỗ Bá Hiệp phối hợp với con cháu trong dòng tộc Trạng Trình đã dùng phương pháp tâm linh để mời Trạng Trình về tha thiết xin được biết phần mộ của cụ ở đâu nhưng đều bị cụ bác “Mộ ta táng, ta không cần cho các ngươi biết, các ngươi lại bày vẽ tốn tiền dân. Tiền sửa sang mộ ta để dành mở các lớp học cho các cháu ở trong xã, sau này khoảng vài chục năm sẽ có cháu bằng ta hoặc vượt hơn ta. Không được đụng đến mộ”.
Ngày xưa, các bậc thánh nhân, tiên tri có một nguyên tắc là không bao giờ cho biết phần mộ thật của mình ở đâu vì sợ thời thế thay đổi. Hiện nay, việc tìm mộ bằng phương pháp ngoại cảm không được Nhà nước thừa nhận.

Về việc UBND xã Lý Học, UBND huyện Vĩnh Bảo có một số văn bản phúc đáp lại Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với nội dung như nêu trên, ông Lợi cho biết: Hiện nay, di tích lịch sử văn hoá đã được luật pháp quy định cụ thể, không ai được xâm phạm. Sự việc đáng tiếc xảy ra vừa qua là do cán bộ không nắm rõ luật dẫn đến việc tuỳ tiện làm vượt thẩm quyền, trách nhiệm của mình gây hậu quả nặng nề.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một danh nhân văn hoá của Quốc gia nên Tp. Hải Phòng cần nhanh chóng vào cuộc xác minh, làm rõ và xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch để có biện pháp xử lý vụ việc trên theo quy định. Việc quản lý, xây dựng di tích lịch sử phải dựa vào luật pháp, tránh các trường hợp tương tự xảy ra như ở: chùa Trăm Gian; thành nhà Mạc ở Tuyên Quang; thành cổ ở Sơn Tây…


(Theo Công lý)
http://kienthuc.net.vn/song-4-mau/thuc-hu-viec-tim-duoc-mo-trang-trinh-161699.html





4. Minh Triết Nguyễn Khắc Mai và ngoại cảm (vẫn bài của Nguyễn Đình Minh. Ông Minh gọi ông Mai là Giáo sư là với ý tôn trọng).

Trạng Trình nói về sự kiện xảy ra năm 2014

 Bài ghi lại "Cuộc gặp" của Đoàn Minh triết Việt Nam vơi Cụ Trạng qua nhà ngoại cảm tại Đền Trình Quốc Công vào cuối năm 2013

Tôi định viết mẩu kể ngắn này từ ngay sau khi cùng nhóm các nhà minh triết Việt tham dự “cuộc gặp” với Trạng Trình tại đền thờ của Người vào sau dịp Lễ tưởng niệm 428 năm ngày mất của Cụ (21/11/2013); nhưng vì nhiều lý do mà chưa  viết.
Tuy nhiên, khi xem các quan điểm về Sấm Trạng Trình, có những người cho rằng: các sự kiện diễn ra rồi sau đó mới “gán” vào Sấm chứ chưa chắc đã có Sấm Trạng, nên tôi viết bài này với mục đích kể rõ những điều nghe nhìn thấy từ thời điểm chứng kiến tận mắt, để chiêm nghiệm sự kiện sẽ xảy ra sau đó như thế nào, tránh các quan diểm cho là “gán” như đã nêu ở trên.  Người viết hoàn toàn trung thực tường thuật lại sự kiện chứ không có ý tuyên truyền bất cứ điều gì.
Do quen biết GS Nguyễn Khắc Mai từ trước, và là con dân Vĩnh Bảo, nên tôi nhận việc hỗ trợ Đoàn việc đi lại và xin phép làm Lễ tại Đền thờ của Cụ. Y hẹn, khoảng 10h Đoàn đến chỗ tôi và chúng tôi cùng nhau hành trình xuống Đền. Ngày hôm đó, như sự linh ứng kỳ lạ, Đền thờ vốn rất đông đúc nhưng lúc đoàn xuông thì tuyệt nhiên không có bóng khách.
Theo chỉ đạo của GS Mai, đoàn hành lễ ngay. Các thủ tục hành lễ rất phức tạp, tuy nhiên chưa chứng kiến bao giờ nên nó rất thu hút tôi. Đoàn có 2 cô hầu bóng, 2 nhà ngoại cảm, 2 thư ký chuyên viết các ký tự gì đó và chữ Hán; còn lại 10 người là các nhà khoa học (có 5 tiến sĩ). Sau hàng chục lần khấn vẽ bùa và đốt bùa… thì một đồng cô lên tiếng: “Cụ đã sẵn sàng tiếp”. GS Nguyễn Khắc Mai đặt một chồng sách dày lên bàn thờ (Đến giờ tôi vẫn không biết đó là sách gì, vì cả đoàn dù rất quý tôi nhưng yêu cầu không tiết lộ nếu đoán biết); sau khi vái lạy, GS thưa rằng:
Chúng con viết xong một bộ sách sử này, xin Người cho biết sự chính xác, các quan điểm nêu ra có đúng và chúng con dự định in vào đầu năm 2014 có hợp lẽ?
Qua lời của Đồng cô Trạng Trình phán rằng: Bộ sách viết từ thời các Vua Hùng (và nhấn mạnh ý nghĩa dòng giống con cháu Tiên rồng) đến thời bây  giờ,  là chính xác. Tuy nhiên có một số nội dung nếu công bố ở thời điểm đầu năm 2014 thì sẽ nổ ra chiến tranh đổ máu (nó như một quả bom – lời Đồng cô giải thích thêm).
Rất nhiều tiếng thở dài nổi lên, tôi đoán đó là các thành viên tham gia làm bộ sách này, vì theo ý Cụ rõ ràng là không nên xuất bản tập sách.
GS Mai hỏi: vậy theo Người, khi nào chúng con mới phát hành bộ sách này?
Qua lời Đồng cô, Cụ Trạng nói: sau năm 2014 tự nhiên các vấn đề các con viết trong sách sẽ tự rõ ra cả lúc ấy chỉ cần công bố.
GS Mai hỏi tiếp: vậy tại sao lại là sau năm 2014?
Cụ Trạng nói: Năm 2014 ở Việt Nam sẽ có chính biến, nhưng không có đổ máu lớn, sau đó mọi việc sẽ sáng tỏ dần, các con phải kiên nhẫn chờ.
GS Mai tiếp tục: Thưa Cụ, trong bài thơ “Cự ngao đới sơn” Cụ có viết ”Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay/  Muôn năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình”; xin Cụ dạy cho chúng con biết phải giữ như thế nào?
Cụ Trạng nói: Phải giữ biển Đông,  năm 2014, sẽ có người đứng lên và chính họ sẽ hướng dẫn các con phải làm như thế nào.
Hôm đó, đoàn của tôi đi cùng với đoàn GS Mai có nhà ngoại cảm trẻNguyễn Văn Tùng. Tôi hỏi:Tùng có nhìn thấy Cụ Trạng không? Tùng rất run và đáp, có, Cụ rất tươi tắn và đang cười, nhưng em rất sợ Cụ. Bây giờ Cụ đang vẫy em vào.
Đúng lúc ấy, Đồng cô lên tiếng: ở đây có nhiều người Vĩnh Bảo sao các con không hỏi gì? Sau đó Tùng vào điện lạy Cụ…
Và phần sau câu chuyện này có nhiều nội dung khác nữa, nhưng không liên quan đến tình hình thời sự Việt Nam.
Tôi muốn chép lại các nội dung trên bởi trang Wb của tôi có nhiều coment gửi về hỏi ý nghĩa của câu sấm: “Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng/ Cha con dòng họ thày tăng đi đời”. Đây là đoạn viết gần cuối của bản “Sấm Trạng Trình”. Về câu Sấm tôi không dám đoán bừa; Nhưng chợt nhớ câu chuyện này và chép lại  để cùng các bạn suy ngẫm. Có điều 1 nội dung quan trọng tôi được nghe đã xảy ra chính xác: năm 2014 tại Việt Nam có biến.

http://www.nguyendinhminh.net/index.php/bao-chi/the-gioi-huyen-bi/723-cuo-c-ga-p-tra-ng-tri-nh-cu-a-nhu-ng-nha-minh-trie-t-vie-t-nam-ve-su-kie-n-xa-y-ra-nam-2014






3. Bài của VTC năm 2014


Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Lời tiên tri kinh ngạc trong phần mộ



(VTC News) - Thầy Tàu quá kinh hãi, răm rắp làm theo mọi việc Trạng đã chỉ bảo, và tự xấu hổ nhận mình chỉ đáng là học trò bậc thánh nhân này.


Kỳ 2: Những huyền tích về mộ phần của Trạng Trình 
Nhà sử học Ngô Đăng Lợi (Hải Phòng) vốn là người rất quan tâm tới những sự kiện lịch sử, những danh nhân tiêu biểu của đất nước. Vào thời gian ông còn dạy học, có lần qua đất Vĩnh Bảo, thấy đền thờ Trạng Trình xập xệ, cũ kỹ, không ai trông giữ, phía trước trâu bò nhởn nhơ gặm cỏ, ông cất tiếng thở dài.

Năm 1985, ông Lợi cùng một số nhà sử học bắt đầu nghiên cứu thân thế và sự nghiệp, cũng như vai trò lịch sử của Trạng Trình. Suốt quá trình 6 năm (1985-1991), với những tư liệu thu thập được, ông Lợi cùng các nhà khoa hoc đã khẳng định Trạng Trình là một nhân vật toàn diện, một danh nhân văn hóa tiêu biểu của đất nước.

Nhà sử học Ngô Đăng Lợi luôn mong mỏi tìm thấy phần mộ của Trạng 

Năm 1991, tên tuổi, danh tiếng, tài năng kiệt xuất của Trạng Trình được sống lại. Lễ kỷ niệm 500 năm ngày sinh của ông được Nhà nước tổ chức long trọng tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đó cũng là thời điểm bắt đầu cuộc hành trình tìm mộ 'nhà tiên tri số một' Việt Nam, dù rằng lúc ấy, những tài liệu ghi chép về Trạng còn cực kỳ mơ hồ.

Trước đó, nhà sử học Ngô Đăng Lợi tham mưu, đề xuất với Ủy ban MTTQ TP. Hải Phòng thành lập Hội Từ thiện Hải Phòng trên cơ sở lưu giữ và phát huy truyền thống tương thân, tương ái, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau... Ý tưởng của ông được lãnh đạo và ủy ban MTTQ thành phố ủng hộ. Năm 1991, Hội Từ thiện chính thức ra đời, và ông có mời thêm một số người về làm cố vấn cho hội, trong đó có cụ cố thanh đồng Lã Thị Vân (thường gọi là cụ Chấn Hưng), một người nổi tiếng ở Hải Phòng lúc đó.

Sau ngày ra mắt Hội, ông Lợi dẫn cả đoàn từ thiện về thăm đền Trạng ở Vĩnh Bảo, tiện thể mang ít quần áo về phân phát cho những người nghèo ở đó. Với kiến thức phong thủy của mình, cụ Chấn Hưng nhận ra mảnh đất Trung Am là vùng đất có khí thiêng, nhất là chỗ hồ bán nguyệt trước cửa đền Trạng, có thế đất nghiêng thủy ánh, có nghĩa là cái hồ nằm nghiêng để hứng ánh mặt trăng, mặt trời chiếu vào. Rồi cụ Chấn Hưng khẳng định: "Thế đất bên phải có hình lá cờ, bên trái có hình thanh kiếm, không ngạc nhiên khi mảnh đất này đã sinh ra một bậc thánh nhân".

Ao bán nguyệt trước đền Trạng Trình 

Thắp hương trong đền Trạng Trình xong, ngồi nói chuyện với những người trong dòng họ Nguyễn, ông Lợi cùng đoàn từ thiện được nghe những câu chuyện lưu truyền trong những phút cuối đời của Trạng. Theo đó, vào lúc lâm chung, Trạng Trình có gọi người con cả vào và viết lên lòng bàn tay 4 chữ “Táng tại Ao Dương”. 

Khi Trạng mất, gia đình và học trò theo di huấn mang thi thể xuống thuyền đưa đi chôn cất tại địa điểm mà Trạng đã căn dặn. Ngày hôm sau tại Trung Am có tổ chức lễ viếng Trạng linh đình và quan tài giả được khiêng đi chôn cất công khai. Theo các cụ, ngôi mộ thật, bị mưa nắng bào mòn rồi xóa sạch dấu tích.

Truyền thuyết ứng với câu đồng dao cổ mà trẻ con làng Trung Am thời xưa hay hát truyền, mà bản thân nhà sử học Ngô Đăng Lợi cùng mọi người thỉnh thoảng vẫn được nghe: “Ba Rá nhìn sang/ Ba Đồng ngoảnh lại/ Táng tại Ao Dương”.

Nhà sử học Ngô Đăng Lợi cùng các chuyên gia đã tiến hành khảo sát toàn bộ con sông Hàn, thì đúng là phần phía nam có một đoạn sông mang tên Ba Rá thuộc địa phận tỉnh Thái Bình, phía đông có đoạn sông mang tên Ba Đồng trên địa phận Hải Phòng.

Có thể suy ra, nếu đúng như câu đồng dao, thì phần mộ của Trạng Trình sẽ nằm trong khoảng đất đâu đó gần 2 đoạn sông có tên Ba Rá và Ba Đồng. Điều đó cho thấy sự lựa chọn gần như bí mật tuyệt đối của Trạng khi chọn vị trí đặt huyệt mộ của mình. Khi tiến hành chôn cất, có thể là vào thời điểm mùa khô nước cạn. Và khi nước mạnh lên, dòng chảy sẽ dễ dàng xóa sạch mọi dấu tích mà không để lộ. Nhất là vào thời của Trạng, dân cư lúc ấy còn rất thưa thớt.

Tuy nhiên, địa danh Ao Dương được nhắc đến, cho đến giờ vẫn còn gây tranh luận vì những ý nghĩa khác nhau của nó.

Nhà sử học Ngô Đăng Lợi

Có một huyền tích vẫn được lưu truyền ở Vĩnh Bảo và càng khẳng định thêm về những khả năng tiên đoán về tương lai của Trạng Trình. Đó là sau ngày Trạng mất khoảng nửa thế kỷ, một thầy địa lý có tiếng của Trung Quốc vì kính nể tiếng tăm đã lặn lội sang thăm và viếng mộ. Thầy Tàu ngạc nhiên khi nhìn thấy rõ ràng ngôi mộ được đặt vào huyệt đất rất tốt, nhưng huyệt phát ở đằng chân mà mộ lại đặt ngược, ông ta cho rằng Trạng Trình là “thánh nhân mắt mù”, người hữu danh vô thực.

Nghe thấy thế, ông trưởng tộc vội vàng ra mời thầy về rồi khẩn khoản nhờ thầy địa lý đặt lại mộ cho, vì trước khi mất Trạng đã dặn dò con cháu mai sau sẽ xảy ra sự việc này. Nghe thế, thầy Tàu bảo chỉ cần đào huyệt mộ lên rồi xoay lại là được. Nhưng đào được một lúc thì mọi người phát hiện có 1 tấm bia được chôn cùng, khắc bài thơ: "Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu/ Ngũ thập niên hậu mạch quy túc/ Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri?/ Hà vị thánh-nhân vô nhĩ mục?". Nghĩa là:"Ngày nay mạch lộn xuống chân/ Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu/ Biết gì những kẻ sinh sau?/ Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ?”.

Đến lượt ông thầy Tàu cùng mọi người mới ngã ngửa. Rõ ràng, Trạng đã biết trước mọi việc và dặn dò con cháu chôn theo tấm bia đã được bọc kỹ, không ai hiểu bia ghi điều gì. Và 50 năm sau nếu có ai đến thăm mộ mà nói: “Thánh nhân mắt mù” thì phải mời họ về nhà rồi nhờ họ đổi lại hướng của ngôi mộ.

Thầy Tàu quá kinh hãi, răm rắp làm theo mọi việc Trạng đã chỉ bảo, và tự xấu hổ nhận mình chỉ đáng là học trò bậc thánh nhân này.

Những câu chuyện mà nhà sử học Ngô Đăng Lợi đã sưu tầm được về phần mộ của Trạng Trình, có thể thấy phần lớn là do truyền khẩu, hoặc tin đồn, rất ít có sử sách ghi chép lại, do đó rất khó có thể làm căn cứ chính xác. Chỉ có Trạng và những người tham gia mai táng theo đúng di huấn của Trạng mới biết chính xác nhất phần mộ đang ở đâu. Tuy nhiên, tất cả đã trở thành người thiên cổ.


Còn tiếp...

Minh Khang – Minh Hải
(Ghi theo lời kể của nhà sử học Ngô Đăng Lợi)

http://www.vtc.vn/trang-trinh-nguyen-binh-khiem-loi-tien-tri-kinh-ngac-trong-phan-mo-d160003.html

(Kiến Thức) - Thầy Tàu quá kinh hãi, răm rắp làm theo mọi việc Trạng đã chỉ bảo, và tự xấu hổ nhận mình chỉ đáng là học trò bậc thánh nhân này.

Kỳ 2: Những huyền tích về mộ phần của Trạng Trình
Nhà sử học Ngô Đăng Lợi (Hải Phòng) vốn là người rất quan tâm tới những sự kiện lịch sử, những danh nhân tiêu biểu của đất nước. Vào thời gian ông còn dạy học, có lần qua đất Vĩnh Bảo, thấy đền thờ Trạng Trình xập xệ, cũ kỹ, không ai trông giữ, phía trước trâu bò nhởn nhơ gặm cỏ, ông cất tiếng thở dài.
Năm 1985, ông Lợi cùng một số nhà sử học bắt đầu nghiên cứu thân thế và sự nghiệp, cũng như vai trò lịch sử của Trạng Trình. Suốt quá trình 6 năm (1985-1991), với những tư liệu thu thập được, ông Lợi cùng các nhà khoa hoc đã khẳng định Trạng Trình là một nhân vật toàn diện, một danh nhân văn hóa tiêu biểu của đất nước.
Nhà sử học Ngô Đăng Lợi luôn mong mỏi tìm thấy phần mộ của Trạng.
Năm 1991, tên tuổi, danh tiếng, tài năng kiệt xuất của Trạng Trình được sống lại. Lễ kỷ niệm 500 năm ngày sinh của ông được Nhà nước tổ chức long trọng tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đó cũng là thời điểm bắt đầu cuộc hành trình tìm mộ 'nhà tiên tri số một' Việt Nam, dù rằng lúc ấy, những tài liệu ghi chép về Trạng còn cực kỳ mơ hồ.
Trước đó, nhà sử học Ngô Đăng Lợi tham mưu, đề xuất với Ủy ban MTTQ TP. Hải Phòng thành lập Hội Từ thiện Hải Phòng trên cơ sở lưu giữ và phát huy truyền thống tương thân, tương ái, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau... Ý tưởng của ông được lãnh đạo và ủy ban MTTQ thành phố ủng hộ. Năm 1991, Hội Từ thiện chính thức ra đời, và ông có mời thêm một số người về làm cố vấn cho hội, trong đó có cụ cố thanh đồng Lã Thị Vân (thường gọi là cụ Chấn Hưng), một người nổi tiếng ở Hải Phòng lúc đó.
Sau ngày ra mắt Hội, ông Lợi dẫn cả đoàn từ thiện về thăm đền Trạng ở Vĩnh Bảo, tiện thể mang ít quần áo về phân phát cho những người nghèo ở đó. Với kiến thức phong thủy của mình, cụ Chấn Hưng nhận ra mảnh đất Trung Am là vùng đất có khí thiêng, nhất là chỗ hồ bán nguyệt trước cửa đền Trạng, có thế đất nghiêng thủy ánh, có nghĩa là cái hồ nằm nghiêng để hứng ánh mặt trăng, mặt trời chiếu vào. Rồi cụ Chấn Hưng khẳng định: "Thế đất bên phải có hình lá cờ, bên trái có hình thanh kiếm, không ngạc nhiên khi mảnh đất này đã sinh ra một bậc thánh nhân".
Ao bán nguyệt trước đền Trạng Trình.
Thắp hương trong đền Trạng Trình xong, ngồi nói chuyện với những người trong dòng họ Nguyễn, ông Lợi cùng đoàn từ thiện được nghe những câu chuyện lưu truyền trong những phút cuối đời của Trạng. Theo đó, vào lúc lâm chung, Trạng Trình có gọi người con cả vào và viết lên lòng bàn tay 4 chữ “Táng tại Ao Dương”.
Khi Trạng mất, gia đình và học trò theo di huấn mang thi thể xuống thuyền đưa đi chôn cất tại địa điểm mà Trạng đã căn dặn. Ngày hôm sau tại Trung Am có tổ chức lễ viếng Trạng linh đình và quan tài giả được khiêng đi chôn cất công khai. Theo các cụ, ngôi mộ thật, bị mưa nắng bào mòn rồi xóa sạch dấu tích.
Truyền thuyết ứng với câu đồng dao cổ mà trẻ con làng Trung Am thời xưa hay hát truyền, mà bản thân nhà sử học Ngô Đăng Lợi cùng mọi người thỉnh thoảng vẫn được nghe: “Ba Rá nhìn sang/ Ba Đồng ngoảnh lại/ Táng tại Ao Dương”.
Nhà sử học Ngô Đăng Lợi cùng các chuyên gia đã tiến hành khảo sát toàn bộ con sông Hàn, thì đúng là phần phía nam có một đoạn sông mang tên Ba Rá thuộc địa phận tỉnh Thái Bình, phía đông có đoạn sông mang tên Ba Đồng trên địa phận Hải Phòng.
Có thể suy ra, nếu đúng như câu đồng dao, thì phần mộ của Trạng Trình sẽ nằm trong khoảng đất đâu đó gần 2 đoạn sông có tên Ba Rá và Ba Đồng. Điều đó cho thấy sự lựa chọn gần như bí mật tuyệt đối của Trạng khi chọn vị trí đặt huyệt mộ của mình. Khi tiến hành chôn cất, có thể là vào thời điểm mùa khô nước cạn. Và khi nước mạnh lên, dòng chảy sẽ dễ dàng xóa sạch mọi dấu tích mà không để lộ. Nhất là vào thời của Trạng, dân cư lúc ấy còn rất thưa thớt.
Tuy nhiên, địa danh Ao Dương được nhắc đến, cho đến giờ vẫn còn gây tranh luận vì những ý nghĩa khác nhau của nó.
Có một huyền tích vẫn được lưu truyền ở Vĩnh Bảo và càng khẳng định thêm về những khả năng tiên đoán về tương lai của Trạng Trình. Đó là sau ngày Trạng mất khoảng nửa thế kỷ, một thầy địa lý có tiếng của Trung Quốc vì kính nể tiếng tăm đã lặn lội sang thăm và viếng mộ. Thầy Tàu ngạc nhiên khi nhìn thấy rõ ràng ngôi mộ được đặt vào huyệt đất rất tốt, nhưng huyệt phát ở đằng chân mà mộ lại đặt ngược, ông ta cho rằng Trạng Trình là “thánh nhân mắt mù”, người hữu danh vô thực.
Nghe thấy thế, ông trưởng tộc vội vàng ra mời thầy về rồi khẩn khoản nhờ thầy địa lý đặt lại mộ cho, vì trước khi mất Trạng đã dặn dò con cháu mai sau sẽ xảy ra sự việc này. Nghe thế, thầy Tàu bảo chỉ cần đào huyệt mộ lên rồi xoay lại là được. Nhưng đào được một lúc thì mọi người phát hiện có 1 tấm bia được chôn cùng, khắc bài thơ: "Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu/ Ngũ thập niên hậu mạch quy túc/ Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri?/ Hà vị thánh-nhân vô nhĩ mục?". Nghĩa là:"Ngày nay mạch lộn xuống chân/ Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu/ Biết gì những kẻ sinh sau?/ Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ?”.
Đến lượt ông thầy Tàu cùng mọi người mới ngã ngửa. Rõ ràng, Trạng đã biết trước mọi việc và dặn dò con cháu chôn theo tấm bia đã được bọc kỹ, không ai hiểu bia ghi điều gì. Và 50 năm sau nếu có ai đến thăm mộ mà nói: “Thánh nhân mắt mù” thì phải mời họ về nhà rồi nhờ họ đổi lại hướng của ngôi mộ.
Thầy Tàu quá kinh hãi, răm rắp làm theo mọi việc Trạng đã chỉ bảo, và tự xấu hổ nhận mình chỉ đáng là học trò bậc thánh nhân này.
Những câu chuyện mà nhà sử học Ngô Đăng Lợi đã sưu tầm được về phần mộ của Trạng Trình, có thể thấy phần lớn là do truyền khẩu, hoặc tin đồn, rất ít có sử sách ghi chép lại, do đó rất khó có thể làm căn cứ chính xác. Chỉ có Trạng và những người tham gia mai táng theo đúng di huấn của Trạng mới biết chính xác nhất phần mộ đang ở đâu. Tuy nhiên, tất cả đã trở thành người thiên cổ.
Còn tiếp...
http://kienthuc.net.vn/tham-cung/huyen-tich-ve-mo-phan-trang-trinh-nguyen-binh-khiem-353245.html

Câu chuyện sự thật mộ Trạng Trình nằm tại đâu, đòi hỏi phải kết hợp giữa khoa học thực tế, tham khảo thêm truyền thuyết dân gian. 

Kỳ 3 (kỳ cuối): Những tranh cãi xung quanh việc tìm mộ Trạng Trình
Sau những chuyến đi thu thập tài liệu liên quan đến việc tìm mộ phần của Trạng Trình, nhà sử học Ngô Đăng Lợi (Hải Phòng) được biết, con cháu của dòng họ Nguyễn ở Trung Am về sau đã tản mát khắp các tỉnh miền Bắc. Vào thời Hậu Lê, người con cả của Trạng là Hàn Giang cư sĩ đã đưa cả gia quyến vào sinh sống ở vùng đất Hoa Lư, Ninh Bình. Hiện tại vẫn còn những dòng dõi đời sau thờ phụng.
Với mong muốn tìm lại gia phả gốc, và hy vọng có những tài liệu, ghi chép cụ thể về địa điểm chôn cất Trạng Trình, ông Lợi lập đoàn tìm kiếm và đến đất Hoa Lư. Tuy nhiên, kết quả tìm được chỉ là một bản gia phả của dòng họ được ghi bằng chữ quốc ngữ, kèm theo một ít sách cổ về thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm vẫn còn lưu giữ.
Khi nhà sử học Ngô Đăng Lợi phát hiện gia phả đó là bản quốc ngữ mà ông đã từng sưu tầm được trong những chuyến đi ở Vĩnh Bảo, ông ngỏ ý muốn tìm bản gốc chữ Hán để đối chiếu, thì những con cháu đời sau của Hàn Giang cư sĩ đều lắc đầu bảo không có.
Về sau, có một cụ già râu tóc bạc phơ của dòng họ mới nhớ ra là từ đời ông của cụ, có mấy người anh em trong dòng họ lại chia làm 2 hướng, một sang đất Gia Viễn (Ninh Bình), một lên đất Thanh Ba (Phú Thọ) sinh sống, rất có thể bản gốc đã được họ mang theo.
 Những tài liệu cổ về Trạng Trình mà nhà sử học Ngô Đăng Lợi tìm thấy. 
Thêm mấy chuyến đi vất vả nữa, nhà sử học Ngô Đăng Lợi đã sưu tầm thêm rất nhiều tài liệu, kể cả bản gia phả chữ Hán. Nhưng tất cả những tài liệu ấy chỉ là những ghi chép về thân thế, sự nghiệp, cũng như các tác phẩm thơ Hán, Nôm của Trạng Trình, tuyệt không có bất cứ một bản thảo nào nói về việc chôn cất cũng như chỉ dẫn địa điểm của mộ Trạng.
Không còn cách nào khác, ông Lợi cùng đoàn tìm kiếm chỉ còn biết căn cứ theo những tài liệu ít ỏi có được, cũng như là theo một số câu chuyện truyền miệng trong dân gian.
Tuy nhiên, trải qua hàng trăm năm, cảnh vật nhiều chỗ đã thay đổi hoặc bào mòn theo thời gian. Với lại những địa danh chôn cất Trạng Trình được lưu truyền, chưa ai có thể xác minh được chính xác độ chân thực của nó. Cho nên suốt mấy năm trời ròng rã khảo sát ở mảnh đất Vĩnh Bảo, nhà sử học Ngô Đăng Lợi vẫn chưa có được những kết quả như mong muốn.
Một số lần, đoàn tìm kiếm có tiến hành mời một số nhà ngoại cảm về phối hợp, tất cả đều khẳng định rằng mộ của Trạng được chôn cất tại quê nhà Vĩnh Bảo. Người chỉ chỗ này, người chỉ chỗ khác, phần lớn những ý kiến của họ đều có những điểm tương đồng với những huyền tích về cuộc đời của Trạng Trình, nhưng không một ai có thể tìm thấy.
Giữa năm 2012, dư luận lại xôn xao về việc Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm được phần mộ Trạng tại khu vực cánh đồng Mả Lẻ (thôn Tiền Am, Lý Học, Vĩnh Bảo, Hải Phòng).
Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út (xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng) gửi đơn đề nghị UBND xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, trình bày: Sau nhiều năm tìm kiếm với sự giúp đỡ của một số nhà ngoại cảm, con cháu trong dòng họ đã tìm và xác định được phần mộ của cụ tổ là một gò đất nhỏ tại cánh đồng Mả Lẻ, thuộc Đội 8, thôn Tiền Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo. Xin phép và thông báo cụ thể về thời gian, địa điểm tiến hành lễ động thổ, khởi công xây dựng, tôn tạo phần mộ theo ước nguyện của Trạng Trình.
Khu đất được cho là tìm thấy mộ của Trạng Trình gây xôn xao dư luận năm 2012.
Có mặt tại hiện trường, nhà sử học Ngô Đăng Lợi nhìn thấy đó là một ngôi mộ đã có từ lâu đời, cạnh đó là cái lăng cũ, chưa xác định được nguồn gốc cũng như tung tích của ngôi mộ. Ở thời điểm đó, không ai có thể dám chắc như đinh đóng cột rằng đó là phần mộ của Trạng. Với lại việc tìm kiếm chỉ thông qua ngoại cảm, không có cơ sở khoa học chắc chắn.
Việc tìm phần mộ của Danh nhân để xây dựng, tôn tạo là ước nguyện của đông đảo cán bộ và nhân dân trong huyện; thể hiện lòng ngưỡng mộ, biết ơn đối với công lao của Trạng Trình cho đất nước và quê hương. Nhưng nếu cứ chỉ bừa một chỗ, xét về tâm linh sao tránh khỏi tội, và xét về mặt quản lý nhà nước lĩnh vực văn hóa rõ ràng là phạm pháp vì đã tự “sáng tạo” một di tích không có thật. Nhà sử học Ngô Đăng Lợi cùng các chuyên gia đã không đồng tình với quan điểm đã tìm thấy mộ Trạng Trình.
Nhà sử học Ngô Đăng Lợi còn lưu ý thêm, các bậc thánh nhân xưa thường có một nguyên tắc không bao giờ cho biết phần mộ thật của mình. Hơn nữa, việc tìm mộ bằng phương pháp ngoại cảm không được Nhà nước thừa nhận. Giả thiết, nếu khu gò trên có mộ phần của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thật thì việc lập dự án quy hoạch hoàn chỉnh khu di tích vẫn phải do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành.
Chính từ nguyên tắc đó, Chủ tịch xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo đã chính thức có văn bản phúc đáp lại Hội đồng Nguyễn tộc, ngành Út, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Việc xây dựng trên khu đất chưa có cơ sở khoa học khẳng định đã bị dừng lại.
 Nhà sử học Ngô Đăng Lợi cho biết, ông vẫn sẽ tiếp tục công việc tìm kiếm mộ Trạng Trình . 
Và câu chuyện sự thật mộ Trạng nằm tại đâu, đòi hỏi phải kết hợp giữa khoa học thực tế, tham khảo thêm truyền thuyết dân gian (truyền thuyết vốn có trục là sự thật lịch sử). Từ năm 2012 đến nay, nhà sử học Ngô Đăng Lợi vẫn tiếp tục công việc tìm kiếm. Ông cho biết, ông làm việc này bằng chính cái tâm của mình, không vì bất cứ điều gì cả, với mong muốn duy nhất là Trạng Trình được vinh danh, con cháu dòng dõi của Trạng được thờ phụng, và trả lời được câu hỏi đã gây nhức nhối cho bản thân ông cũng như những chuyên gia trong đoàn tìm kiếm.
Và dù nếu trường hợp không thể tìm thấy, thì ông vẫn cảm thấy thanh thản với những công sức mình đã bỏ ra từ trước tới nay. Với ông Lợi, vai trò và những đóng góp to lớn, những sứ mệnh lịch sử của Trạng Trình đối với đất nước, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm phải xứng tầm là một danh nhân văn hóa của thế giới.
Sắp tới, nhà sử học Ngô Đăng Lợi sẽ tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung và phối hợp lập hồ sơ về danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm, đệ trình lên Ủy ban Unessco để được thế giới công nhận.
http://kienthuc.net.vn/tham-cung/mo-trang-trinh-nguyen-binh-khiem-thuc-su-o-dau-353524.html



2. Một bài cũ của bác Điện Bà Tây Ninh, đã đưa lên mạng năm 2013



VỀ THĂM CỤ TRẠNG TRÌNH - NGUYỄN BỈNH KHIÊM . BÀI 1.

Thứ Năm, ngày 30 tháng 5 năm 2013
Tags: 
https://dienbatnblog.blogspot.com/2013/05/ve-tham-cu-trang-trinh-nguyen-binh.html




1. Tháng 9 năm 2016, cũng của Nguyễn Đình Minh

Mộ Trạng Trình, những tình tiết mới phát lộ

Ngày 7/4/2014 (8/3 năm Bính Tuất), người dân ở thôn Hạ Đồng xã Cộng Hiền (Vĩnh Bảo) theo chỉ dẫn của cô Bùi Thị Hiền đã đào được ở ngay chính trong vườn nhà cô nhiều ngôi mộ cổ. Trong số ấy có một ngôi đã được “Viện nghiên cứu và ứng dụng  tiềm năng con người” xác định “đây là những ngôi mộ cổ và  người nằm trong ngôi mộ cổ có thể là  bậc danh nhân”, nhưng rất tiếc 2 năm đã trôi qua mọi sự vẫn rơi vào im lặng?

Tấm quách nghìn năm tuổi
Theo ông Trần Ròn, người ở sát ngôi mộ cổ kể lại:vào 13h ngày 7/4/2014( tức 8/3 năm Bính Tuất), đúng khitrời mưa to, sấm chớp, cô Hiền đã chỉ cho chúng tôi đào phần đất ngay cạnh bờ ao thuộc vườn nhà cô. Đây là vị trí mà năm 2006 chính cô Hiền đã bị sét đánh, nhưng may mắn đã qua khỏi.
Sau nhiều giờ đào bới, người dân đã bất ngờ tìm thấy một khu có rất nhiều mộ. Theo Ông Trần Bình nhớ lại: Lúc ấy chúng tôi đã nản lòng thì bất ngờ chạm vào tấm quách bằng gỗ sơn đỏ au. Khi đo thấy chiều dài là 1m26, chiêù rộng 33 cm  chiều cao là 30cm, bị sâp phần thân sau, tấm thiên bị nứt đôi, các tấm khác nguyên dạng. Phần xương  bên trong quách là chiếc đầu lâu vẫn còn nguyên vẹn, một chiếc xương đùi còn dài cùng nhiều xương đã vụn rữa.
Người dân đã chuyển phần xương trong quách sang chiếc tiểu mới chuyển sang táng tại nghĩa trang của thôn, còn Tấm quách được mang ra con sông ngay đó để rửa, họ bất ngờ thấy trên tấm quách có viết rất nhiều chữ Nho. Vợ ông Trần Ròn cho biết “lúc đầu bà nhìn thấy rất rõ nhiều chữ Nho ghi ở nhiều chỗ trên diện tích xung quanh tấm quách, nhưng vì không ai biết đọc, nên tấm quách được mang về dựng tại góc vườn.
Vào khoảng tháng 5/2014, kiến truc sư Lê Trung Kiên và Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha (là người Vĩnh Bảo, đang công tác tại Hà Nội) nghe tin con cháu ở quê báo đã về xem. Anh Lê Trung Kiên đã dùng điện thoại chụp lại các mặt quách có chữ Nho, nét chữ không còn rõ nữa. Nhà thư pháp Hải Phòng, Lê Thiên Lý đọc được một số chữ nhưng không xác định chuẩn nội dung văn bản khắc trên đó. Sau nhiều công sức tra cứu, phân tích, dịch… cùng các nhà Hán Nôm, bản dịch đã được hoàn thành và có ý nghĩa rất sáng sủa, dễ hiểu.  Nhà văn Nguyễn Thụy Kha đã chuyển toàn bộ tấm quách về Hà Nội lưu giữ. Hiện nay, tấm quách đang quàn tại một căn phòng nhỏ tại 59 Trường Thi Hà Nội.
Từ đây, bằng các hoạt động tự nguyện, nhiều trí thức người Vĩnh Bảo đã vào cuộc. Họ đã mời các nhà khoa học tại “Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người” và nhiều nhà khoa học khác tới xem xét và nghiên cứu tấm quách. Tiến sỹ Nguyễn Lân Cường thực hiện việc gửi mẫu gỗ của tấm quách cho “Trung tâm hạt nhân TP HCM” phân tích niên đại C-14, theo phương pháp phóng xạ các bon theo “Mẫu số 02-kC 2014”. Kết quả cho biết tuổi thọ của gỗ pho tượng tính từ lúc trồng cây tới nay là 1700 năm ( sai số khoảng 75 năm).  Theo tiến sỹ khảo cổ học Lê Văn Phụng thì gỗ được xác định là gỗ ngọc am, một loại gỗ rất quý, chỉ có các bậc vương giả quyền quý mới được sử dụng. Còn về kích thước 1,26 m x 0,30 m x 0,33 m là quy cách làm quách thuộc về triều nhà Mạc. Viện nghiên cứu và ứng dụng  tiềm năng con người, sau kết quả giám định đã ra công văn gửi UBND xã Cộng Hiền trong đó đánh giá “đây là những ngôi mộ cổ và  người nằm trong ngôi mộ cổ có thể là  bậc danh nhân. Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người sẽ tiếp tục mời các nhà Hán nôm nghiên cứu các chữ viết trên mặt gỗ, nếu đúng đây là ngôi mộ của danh nhân thì đây là tài sản  vô giá của quốc gia và địa phương.”

Văn bản bí ẩn và 9 chiếc cúc vàng
Trong quá trình khai quật, người dân còn tìm thấy nhiều ngôi mộ khác, đáng chú ý có 02 ngôi mộ dùng tiểu gốm rất lộng lẫy. Theo nhà khảo cổ Lê Văn Phụng thì hoa văn và hình  rồng thuộc thời nhà Mạc. Trong 1 chiếc tiểu tìm thấy 9 cái cúc áo bằng vàng thể hiện đây là vị vua chúa vì theo quy định thời Mạc chỉ có áo Vua mới được đính 9 cúc vàng. Hiện tại, 08 chiếc anh Lê Trung Kiên lưu giữ, 01 chiếc khi sang tiểu mới người dân tuân theo tâm linh đã để lại 1 chiếc vào trong tiểu.
Tuy nhiên vấn đề hiện nay mà dư luận quan tâm là bài thơ khắc trên tấm quách, nội dung của nó đã được dịch thuật, mặc dù ẩn dấu những thiên cơ huyền bí, nhưng bề nổi lại rất dễ nhận ra; Tổng số bài có 6 câu và 24 chữ, nhiều câu nói về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhà giáo Hoàng Phan nêu quan điểm, để thuận cách tư duy hiện đại nên hiểu văn bản theo hàm ngôn của nó và ông giải thích nghĩa như sau:  Vốn trước vẫn gọi là Đạt (Nguyễn Bỉnh Khiêm có tênkhai sinhNguyễn VănĐạt)/ Đời sau vẫn truyền Trạng Trình/ Tâm như mặt trời giữa trưa /Tìm ra tên của vị vua sángHai tấm gỗ  (tấm thiên địa) chồng lên nhau có cất dấu tên vị chủ nhân tấm quách này/ sống trong nước Nam rộng lớn.
           Nếu gạt bỏ các yếu tổ mang tính truyền thuyết hoặc tâm linh thì những hiện vật thu lại được từ các ngôi mộ cổ ở Xã Cộng Hiền là có thật, nó đã được các trí thức và các nhà khoa học bước đầu khám phá có kết quả và đã có nhiều kết luận khoa học. Do đó, bản thân những hiện vật này đã là văn hóa cần được bảo tồn như vốn quý của thành phố nói chung và huyện Vĩnh Bảo nói riêng.
Thiết nghĩ, các cấp lãnh đạo huyện Vĩnh Bảo và thành phố Hải Phòng nên có các quyết định quản lý chỉ đạo các cơ quan văn hóa, an ninh đến địa điểm xảy ra sự kiện điều tra nghiên cứu tổng hợp tình hình. Đồng thời tiến hành biện pháp thu giữ các hiện vật (tấm quách, 9 chiếc cúc vàng) về lưu giữ tại địa phương; bởi đây là di vật văn hóa cổ chắc chắn đã được xác định bởi các phương pháp khoa học. Từ đây, tổ chức tiếp tục nghiên cứu  giải mã những giá trị mà di vật này mang lại./.
Nguyễn Đình Minh
Bài đã đăng trên nhiều tờ báo tại Hải Phòng và trung ương

Chú thích:
Bài thơ trên tấm quách đã được chép lại và dịch bằng văn bản in. (Trên đầu tấm quách ghi ba chữ NGUYỄN BÌNH KHIÊM - Chữ đệm là BÌNH chứ không phải BỈNH).
這  讀  必  達
Giá     độc       tất            đạt
狀  呈  叫  風
Trạng  trình    khiếu  phong
心  以  日  正
Tâm      dĩ      nhật      chính
尋  字  光  龍
Tầm       tự     quang    long
重  木  主  宗
Trùng    mộc    chủ       tông
中  生  南  巨
Trung   sinh    nam        cự
(Lê Thiên Lý-nhà thư pháp
Hải Phòng đọc và viết lại)
--------------------------

http://www.nguyendinhminh.net/index.php/bao-chi/the-gioi-huyen-bi/1070-m-tr-ng-trinh-nh-ng-tinh-ti-t-m-i-phat-l

.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.