Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách 晴耕雨讀

28/09/2026

Ảnh hưởng của Kinh Dịch đối với văn hóa Trung Quốc 《易经》对中华文化的影响 (bài Dương Chấn Ninh 杨振宁 )

Có bản dịch tiếng Việt của bác Nguyễn Hải Hoàng.

Bản gốc tiếng Trung ở bên dưới.

Tháng 9 năm 2026,

Giao Blog


---




This entry was posted on Tháng Ba 1, 2013, in Kho tàng văn hóa. Bookmark the permalink. Bình luận về bài viết này


070922_1

Dương Chấn Ninh

Dương Chấn Ninh hiện là Giáo sư ĐH Thanh Hoa
Bắc Kinh và ĐH Hồng Công.

 Nguyễn Hải Hoành  lược dịch

Trong bài phát biểu ngày 3/9/2004 tại Diễn đàn đỉnh cao văn hóa 2004 tại Bắc Kinh, GS Dương Chấn Ninh (Nobel Vật lý năm 1957), cho rằng Kinh Dịch ảnh hưởng sâu sắc đến cách tư duy trong văn hóa Trung Quốc và đây là một trong các nguyên nhân quan trọng làm cho khoa học cận đại không nảy sinh tại Trung Quốc.

Đề tài bài nói của tôi là Ảnh hưởng của Kinh Dịch đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc; trong mấy chục phút sau đây tôi sẽ bàn về nhiều quan niệm: tinh giản, tỉ loại [1], thiên nhân hợp nhất, liên tưởng, thủ tượng, sự hình thành Hán ngữ và Hán tự, quy nạp. Trong một thời gian ngắn không thể nói rõ nhiều quan niệm như vậy, nên xin chỉ tập trung bàn 3 vấn đề sau: [Hình 1]

1) Kinh Dịch ảnh hưởng tới phương thức tư duy của văn hóa truyền thống Trung Quốc; ảnh hưởng đó là một trong các nguyên nhân quan trọng khiến cho khoa học cận đại không thể nảy sinh tại Trung Quốc.

2) Kinh Dịch là một trong các nguyên nhân làm cho Hán ngữ trở thành ngôn ngữ đơn âm.

3) Kinh Dịch ảnh hưởng tới quan niệm thẩm mỹ của văn hóa Trung Quốc.

DCN11

Hình 1. Chữ ở chính tâm vòng tròn:  “Dịch”

Các chữ ở trên vòng tròn, theo chiều kim đồng hồ, từ vị trí chính giữa trên: “Tinh giản”,  “Thiên nhân hợp nhất”, “Liên tưởng”,  “Hán ngữ”, “Hán tự”, “Quy nạp”, “Thủ tượng”, “Tỉ loại”

Tôi làm công tác nghiên cứu vật lý, chưa từng nghiên cứu sử học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, mỹ học, triết học; nhưng gần đây tôi bắt đầu quan tâm tới nguồn gốc hình thành văn hóa Trung Quốc. Bởi vậy, nhân dịp này tôi xin mạnh dạn trình bày một số suy nghĩ của mình.

Mọi người đều biết Kinh Dịch là một văn bản rất cổ của Trung Quốc, nghe nói từ triều đại nhà Hạ đã có bản Kinh Dịch sớm nhất, gọi là Liên Sơn. Đời nhà Thương có sưu tập bảo quản nhưng đều thất truyền. Kinh Dịch mà chúng ta hiện nay được thấy là Chu Dịch thời Tây Chu. Cho nên thời gian thai nghén Kinh Dịch ít nhất trải qua hơn 1000 năm. Tôi nghĩ mọi người có thể đồng ý với kết luận đó.

64 quẻ của Kinh Dịch bắt đầu bằng quẻ Càn và quẻ Khôn. Nếu hỏi Kinh Dịch hình thành như thế nào, tôi cho rằng mọi người có thể chấp nhận cách nói như sau: Trung Quốc phát triển bói toán sớm nhất, vì muốn hiểu bói toàn một cách có hệ thống nên đã phát triển quái phù [ký hiệu của quẻ]. Tất cả 64 quẻ đều có quái phù. Càn là 6 vạch nét liền. Khôn là 6 vạch nét đứt. Sau khi có quái phù còn phải có tên gọi [quái danh] và chữ [tự] cho mỗi quẻ. Tên quẻ có âm [âm thanh]; có âm vẫn chưa đủ, bèn có một chữ [tự]. Có lẽ thứ tự trước sau quá trình phát triển này là như vậy. Vì tôi không nghiên cứu khảo cổ học nên tôi nghĩ rằng rất có thể cái thứ tự ấy ít nhiều có phần đúng.

Chúng ta biết rằng niên đại thai nghén Kinh Dịch cũng là niên đại Hán ngữ, Hán tự bắt đầu hình thành, là niên đại thai nghén nền văn hóa Trung Hoa. Những quẻ này là “Tượng”; trong Chu Dịch có nói như thế. “Tượng” là quan niệm đã cô đọng, là cái “Tượng” dùng quái phù, tên quẻ để phân loại sự biến thiên của trời, đất, người.

Có thể nói đoạn trình bày ở trên dùng ngôn ngữ ngày nay để thuật lại chuyện rốt cuộc tinh thần của Kinh Dịch là gì: cô đọng hóa, phân loại hóa, trừu tượng hóa, tinh giản hóa, ký hiệu [phù hiệu] hóa … là tinh thần của Kinh Dịch. Tôi cho rằng tinh thần ấy xuyên suốt đến từng xó xỉnh trong nền văn hóa truyền thống Trung Quốc mấy nghìn năm.

Chẳng hạn có cực nhiều thí dụ về tinh giản phân loại. Ngày nay ta đều biết trong lý luận Trung Y có một điểm quan trọng là chia bệnh tật và y dược thành các loại âm dương, nóng lạnh, trong ngoài; dùng quan niệm phân loại này làm tiền đề lớn để phát triển lý luận Trung Y. Đó là thứ truyền lại từ truyền thống của Kinh Dịch. Ta có thể nêu ra rất nhiều thí dụ như vậy.

Nguyên nhân làm cho khoa học cận đại không nảy sinh ở Trung Quốc

Vì sao khoa học cận đại không nảy sinh tại Trung Quốc ? Vấn đề này đã có rất nhiều người bàn thảo. Quy nạp lại, đại để có 5 lẽ sau.

Thứ nhất, truyền thống của Trung Quốc là nhập thế chứ không phải xuất thế. Nói cách khác là tương đối chú trọng thực tế, không chú trọng lý luận trừu tượng.

Thứ hai, [Trung Quốc áp dụng] chế độ khoa cử.

Thứ ba, [văn hóa truyền thống Trung Quốc] có quan niệm cho rằng kỹ thuật không quan trọng, cho rằng đó chỉ là “Kỳ kỹ dâm sảo” [sản phẩm kỳ dị mà tinh xảo].

Thứ tư, [văn hóa] truyền thống Trung Quốc không có phương pháp tư duy kiểu suy diễn.

Thứ năm, có quan niệm Thiên nhân hợp nhất.

Tôi cho rằng điểm thứ 4 và 5 có quan hệ khăng khít với Kinh Dịch.

Trước hết nói về điểm thứ tư.

Phương pháp tư duy của khoa học cận đại có đồ thị như sau về hai loại phương pháp tư duy kiểu suy diễn và kiểu quy nạp. [Hình 2]

Quy nạp và suy diễn [tiếng Anh là Inductive method và Deductive method] đều là phương pháp tư duy không thể thiếu trong khoa học cận đại. Để trình bày rõ điểm này, ta hãy xem xét lịch sử xây dựng phương trình Maxwell do Maxwell (1831-1879) sáng lập.

DCN2

Hình 2. Hình bên trái, từ trên xuống:  “Quy luật tự nhiên”;  chữ trong khung: “Quy nạp”. Hình bên phải, từ trên xuống:  “Quy luật tự nhiên”;  chữ trong khung: “Suy diễn”

Dòng chữ ở dưới: Hai phương pháp tìm kiếm quy luật tự nhiên của khoa học cận đại. Phương pháp quy nạp được biểu diễn bằng đường nét đứt thể hiện sự khó khăn của phương pháp này. Phương pháp suy diễn được biểu diễn bằng nét liền, thể hiện sự dễ dàng của phương pháp này

Maxwell là nhà vật lý vĩ đại nhất thế kỷ XIX. Vào giữa thế kỷ ấy, ông viết ba bài báo đặt nền móng kết cấu chính xác cho sóng điện từ, qua đó làm thay đổi lịch sử nhân loại. Các phát minh sau này được phát triển trong thế kỷ XX như vô tuyến điện, truyền hình, thông tin mạng v.v… tất cả đều dựa trên cơ sở phương trình Maxwell. Vậy ông làm như thế nào để có được kết quả có tính chất đánh dấu thời đại như thế?

Trong bài báo thứ nhất, Maxwell đã sử dụng phép quy nạp; trong đó có một đoạn như sau :

“Chúng ta cần nhận thức được việc các nhánh của vật lý học rất giống nhau; tức là nói trong vật lý học có các nhánh khác nhau nhưng kết cấu của chúng lại có thể chứng minh lẫn cho nhau.”

Ông dùng quan niệm đó để nghiên cứu ra cách viết phương trình điện từ học, lấy một số phương trình cơ học chất lỏng làm bản gốc. Phương pháp nghiên cứu này tuân theo tinh thần của phép quy nạp.

Mấy năm sau, trong bài báo thứ ba, ông vận dụng phương pháp suy diễn vào phương trình điện từ (được lập nên bằng phương pháp quy nạp), đi tới kết luận : các phương trình đó thể hiện điện từ có thể truyền đi dưới hình thức sóng với tốc độ sóng phù hợp tốc độ ánh sáng lúc ấy đã biết, cho nên “ánh sáng tức là sóng điện từ”. Đây là một suy luận đánh dấu thời đại, nó đã thúc đẩy sự phát triển KHKT thế kỷ XX và phương thức sinh hoạt của loài người ngày nay.

Câu chuyện trên thể hiện rõ phương pháp quy nạp và suy diễn đồng thời là phương pháp tư duy cơ bản của khoa học cận đại.

Một đặc sắc lớn của văn hóa truyền thống Trung Hoa là có phương pháp quy nạp nhưng không có phương pháp suy diễn. Trong đó đâu là nguồn gốc của phương pháp quy nạp ?
“Dịch giả tượng dã”, “Thánh nhân lập tượng dĩ tận ý”, “Thủ tượng bỉ loại”, “Quan vật thủ tượng”.

Những câu này đều quán xuyến tinh thần của Kinh Dịch, đều là phép quy nạp, là phương pháp hướng lên trên tìm cái “Tượng” toàn bộ.

Thế nhưng văn hóa Trung Hoa không phát triển ra phép suy diễn. Làm sao ta có thể chứng minh khiếm khuyết ấy ? Mời quý vị xem một số câu nói của Từ Quang Khải (1562-1633), một vị đại thần cuối thời nhà Minh, cũng là một đại học giả. Mọi người đều biết ông là người đầu tiên hợp tác với Matteo Ricci [2] phiên dịch bản gốc tác phẩm hình học của Euclide; hai người đã dịch được 6 chương đầu tiên. Hiện nay trong nước còn giữ được mấy bản dịch gốc của họ. Tôi có lần đến Thư viện Bắc Kinh mượn đọc bản gốc đó.

Hình học Euclide là một cống hiến lớn trong lịch sử loài người, đầu tiên quy luật hóa phép suy diễn, có ảnh hưởng rất lớn, không thể tính toán được. Sau này Newton viết Principia Mathematica [Nguyên lý toán học của khoa học tự nhiên]. Nếu đọc cuốn sách ấy thì bạn sẽ thấy phương pháp viết của Newton hoàn toàn theo phương pháp trong bản gốc Hình học Euclide, tức là từ các tiên đề, định lý đi tới chứng minh v.v…Cuốn sách ấy sao chép hình thức phép suy diễn của Euclide. Điều không may là Từ Quang Khải dịch sách hình học Euclide tuy sớm (hồi đó Newton chưa ra đời) nhưng trong gần 300 năm sau khi dịch, sách này chưa gây được ảnh hưởng nên có tại Trung Quốc.

Sau khi dịch sách nói trên, Từ Quang Khải hiểu được một đặc điểm của phép suy diễn là “Dục tiền hậu cánh trí bất khả đắc [Không được thay đổi thứ tự trước sau].”

Tức là không được đảo lộn thứ tự các suy luận. Điều này khác với truyền thống của Trung Quốc. Truyền thống Trung Quốc không chú ý logic, không chú ý thứ tự thuyết lý, đòi hỏi người đọc tự mình hiểu ra kết luận cuối cùng. Từ Quang Khải còn có mấy câu rất nổi tiếng như sau:

Tự chí hối, thực chí minh [có vẻ tối tăm, thực ra là sáng sủa],

Tự chí phồn, thực chí giản [có vẻ phức tạp, thực ra đơn giản],

Tự chí nan, thực chí dịch [có vẻ khó, thực ra dễ].

Đây cũng là đặc điểm của phương pháp suy diễn. Sau khi hiểu được tinh thần của phương pháp suy diễn thì sẽ hiểu được suy diễn thực ra dễ hơn quy nạp. Xin xem hình vẽ 2. 

Dưới đây xin nói về điểm thứ 5, tức quan niệm “Thiên nhân hợp nhất”

“Thiên nhân nhất vật”, “Lý nhất phân thù”, “Nội ngoại nhất lý” bắt nguồn từ chỗ mỗi một quẻ trong Kinh Dịch đều bao hàm đạo trời, đạo đất, và đạo người (nhân đạo), quy luật của trời và quy luật của người là một.

Chúng ta đều biết Vương Dương Minh khi tìm hiểu cây tre [nguyên văn : cách trúc tử ?] muốn dùng cái “Lý” [lý lẽ] trong đời người để tìm kiếm cái “Lý” trong giới tự nhiên. Dĩ nhiên làm như thế không thể nào sáng tạo được khoa học cận đại. Một đặc điểm của khoa học cận đại là phải thoát ra khỏi quan niệm Thiên nhân hợp nhất, phải thừa nhận đời người có quy luật của đời người, có các hiện tượng phức tạp của đời người; thiên nhiên có quy luật của thiên nhiên, có các hiện tượng phức tạp của thiên nhiên. Trời và người là hai chuyện khác nhau, không thể hợp làm một.

Tất nhiên tôi nói như thế sẽ làm cho rất nhiều người, nhất là những người nghiên cứu triết học Trung Quốc, cảm thấy tôi công kích triết học truyền thống Trung Quốc ghê gớm quá. Tôi hoàn toàn không có ý công kích. Nội hàm của Thiên nhân hợp nhất quyết không phải chỉ là “nội ngoại nhất lý” mà còn có “Thiên nhân hài hòa” quan trọng hơn. Thiên nhân hài hòa có ảnh hưởng cực lớn tới truyền thống Trung Quốc. Vả lại khi nói về hiện trạng thế giới ngày nay, chúng ta có thể hỏi, vứt bỏThiên nhân hợp nhất mà hoàn toàn dùng các biện pháp của phương Tây để phát triển thế giới phải chăng sẽ có hiện tượngThiên nhân đối lập? Đây là một đề tài vô cùng quan trọng, nhưng nó không nằm trong phạm vi tôi có thể thảo luận hôm nay.

Nguồn gốc của Hán ngữ, Hán tự 

Các ngôn ngữ nguyên thủy và ngôn ngữ chín muồi trên thế giới đều là ngôn ngữ đa âm [nguyên văn: phức âm]; rất hiếm có ngôn ngữ đơn âm. Tôi không nắm được bất kỳ một ngôn ngữ chín muồi nào khác là ngôn ngữ đơn âm như Hán ngữ. Gần đây các nhà khảo cổ phát hiện 16 nghìn năm trước, người dân Giang Tây đã thu thập lúa dại để làm lương thực chính. Cho nên hơn 10 nghìn năm trước đã hình thành văn hóa Trung Hoa. Ta có thể tin rằng hồi ấy họ đã có ngôn ngữ. Ta cũng có lý do có thể giả thiết những ngôn ngữ mà tổ tiên ta sử dụng hồi ấy là ngôn ngữ đa âm. Thế thì vì sao sau này lại biến ra thành Hán ngữ đơn âm?

Từ Hán ngữ đa âm biến thành Hán ngữ đơn âm nhất định phải trải qua một quá trình rất dài, hơn nữa nhất định phải có lý lẽ của nó, vì đây là một chuyện rất độc đáo.

ôi có một giả thiết mạnh dạn như sau : sự biến đổi đó chịu ảnh hưởng của Kinh Dịch. Tên quẻ [quái danh] là đơn âm. Càn, Khôn, …. đều đơn âm cả. Đó là những từ tầng lớp thống trị sử dụng, có tính chất thần bí, có ảnh hưởng lớn, đọc lên có sức mạnh. Lâu ngày nó sẽ hình thành một giá trị quan coi trọng ký hiệu [phù hiệu] đơn âm, về sau ảnh hưởng tới toàn bộ sự phát triển Hán ngữ. 

Hôm nay tại đây có sự hiện diện của các chuyên gia ngôn ngữ; ý kiến của tôi là rất mạnh dạn, hy vọng sẽ không bị các nhà ngôn ngữ học đập cho tơi bời. Chúng ta xem : Nguyên, Hưởng, Lợi, Trinh, Cát, Hung, Âm, Dương, Nhật, Nguyệt, Thiên, Địa – những chữ đơn âm này có thanh có sắc, có sức nặng, nói ra có tác động, dĩ nhiên có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của toàn bộ ngôn ngữ văn tự. Cho nên vừa rồi tôi nói tôi đoán là Hán ngữ, Hán tự sở dĩ biến thành ngôn ngữ văn tự đơn âm là có quan hệ khăng khít với Kinh Dịch.

Quan niệm thẩm mỹ của văn hóa Trung Hoa 

Tinh thần cô đọng hóa, phân loại hóa, trừu tượng hóa, tinh giản hóa, ký hiệu hóa của Kinh Dịch có ảnh hưởng cực kỳ sâu rộng đối với văn hóa Trung Hoa. Dưới đây tôi xin bàn qua về ảnh hưởng của Kinh Dịch đối với Hán ngữ, văn phạm Hán ngữ, văn học, nghệ thuật, thư pháp.

Từ Word trong tiếng Anh thường được dịch là “chữ” (tự). Dịch như thế không thỏa đáng. Nên dịch là “từ”, cấu tạo bởi một hoặc vài chữ. Thí dụ “hiện đại”, “sở dĩ” đều là từ có 2 chữ. Từ có thể cấu tạo bởi một, hai hoặc nhiều chữ, nhưng tuyệt đại đa số là 1 hoặc 2 chữ, ít từ có 3 chữ trở lên. Phần lớn từ có 3 chữ hoặc trên 3 chữ là phức từ, hoặc là từ dịch âm. Thí dụ “ngoại tổ phụ [ông ngoại]”, “Động Đình hồ” là phức từ; “Thành Cát Tư Hãn” là từ dịch âm.

Thế kỷ XIX Trung Quốc bắt đầu phiên dịch tên các nguyên tố, khi ấy cũng chỉ dùng một chữ, như “Dưỡng [oxygen]”, “Lưu [sulphur]”, “Lôi [radium]”; những từ này trong tiếng Anh đều là từ đa âm, khi người Trung Quốc dịch đều biến thành một từ đơn âm. 

Vì sao lại hà tiện [từ ngữ] thế? Tôi cho rằng thời đại hình thành văn hóa Trung Hoa, thời đại hình thành Hán ngữ đã chịu ảnh hưởng từ tên gọi các quẻ trong Kinh Dịch, từ Kinh Dịch phát triển ra quan niệm ở tầng sâu cho rằng tinh giản là đẹp, cô đọng là đẹp. Quan niệm thẩm mỹ đó đã ảnh hưởng tới sự hình thành từ.

Tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có văn phạm [văn pháp] tầng sâu như nhau, sau đấy các ngữ hệ khác nhau tự phát triển trên cơ sở văn phạm tầng sâu đó. Đây là một phát hiện lớn của Chomsky. So sánh các ngôn ngữ khác nhau sẽ thấy mỗi loại ngôn ngữ đều có danh từ, động từ, tính từ [adjjective], giới từ [adverb] v.v…Nhưng Hán ngữ có một đặc điểm lớn là rất ít dùng giới từ. Thí dụ không nói “Bố của tôi” mà nói “Bố tôi”; không nói “chạy một cách chầm chậm” mà nói “chạy chậm”, bỏ bớt giới từ. Cho nên người phương Tây nói Trung văn là văn tự kiểu điện báo telex, nhất là cổ văn. Những áng cổ văn hay đúng là văn học cực đẹp. Một trong các nguyên nhân đẹp là cổ văn không tuân theo phương thức phát triển văn phạm thông thường và cố gắng dùng ít từ nhất để diễn đạt nhiều ý nhất. Quan niệm thẩm mỹ này là sự tiếp nối của tinh thần cô đọng hóa, tinh giản hóa trong Kinh Dịch.

DCN3

Hình 3. Chữ trong vòng trên : « Phong »’ chữ trong vòng dưới: bên trái là “Phong”, bên phải là “Vân”

Trong bất cứ nền văn học nào trên thế giới, liên tưởng đều có vai trò quan trọng, mà trong văn học Hán văn thì nó có vị trí đặc biệt quan trọng, bởi lẽ các từ trong Hán văn thường thường cấu tạo bởi một số chữ đơn âm, thường hay được hình thành căn cứ theo liên tưởng. Thí dụ từ “phong khí”, “phong vân”, “phong lưu”, “phong cảnh”, “phong quan”, “phong vũ” đều là các từ hình thành từ sự liên tưởng. Có thể dùng hình vẽ sau để biểu thị từ “phong vân” (Hình 3)

Kết cấu của từ này càng tiến một bước thúc đẩy văn học Hán văn diễn biến trở thành văn học liên tưởng, “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” [3], “Tần thời minh nguyệt Hán thời quan” [4] đều là sự liên tưởng đã thăng hoa.

Ý cảnh được hội họa truyền thống Trung Hoa theo đuổi thì hoàn toàn khác với hội họa truyền thống phương Tây, là hình vẽ “quan vật thủ tượng [xem vật lấy hình]” chứ không phải hình vẽ chụp hình; là hình vẽ tinh thần chứ không phải hình vẽ giống nhau; là hình vẽ thiên nhân hợp nhất chứ không phải hình vẽ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên. Tôi cho rằng tinh thần tư duy ấy bắt nguồn từ Kinh Dịch.

Còn nói về ảnh hưởng của Kinh Dịch đối với thư pháp [thư họa] thì càng rõ hơn. Thư pháp có vai trò cực kỳ quan trọng trong văn hóa Trung Hoa truyền thống, các nền văn hóa khác không có thư pháp.

Nhưng rõ ràng thư pháp có mối quan hệ trực tiếp với tinh thần cô đọng hóa, ký hiệu hóa, trừu tượng hóa của Kinh Dịch. Ông Hùng Bỉnh Minh bạn tôi, một nhà thư pháp, nhà điêu khắc, nhà văn, nhà bình luận văn học có viết trong sách “Hệ thống lý luận thư pháp Trung Quốc” rằng cốt lõi của văn hóa Trung Quốc là triết học, cốt lõi của cốt lõi văn hóa Trung Quốc là thư pháp. Sở dĩ tôi hoàn toàn đồng ý câu ấy của ông là do thư pháp đã cụ thể hóa, hiện thực hóa tinh thần của Kinh Dịch.


 

Ghi chú của người dịch:                                                                               

[1] Gọi đầy đủ là “Thủ tượng tỉ loại”: một phương pháp tư duy vận dụng các khái niệm trực quan có cảm tính, hình tượng và ký hiệu để diễn tả ý nghĩa trừu tượng của thế giới được nghiên cứu, thông qua phương thức loại suy, tượng trưng. Còn gọi là phương pháp tư duy “ý tượng”. Có lẽ chỉ có ở TQ.

[2] Matteo Ricci (1552-1610), người Ý, nhà truyền đạo Thiên Chúa; 1582 đến TQ, quen nhiều học giả TQ; có công giới thiệu khoa học tự nhiên phương Tây cho TQ.

[3] Là câu đầu tiên trong bài thơ 4 câu Thanh Bình Điệu của Lý Bạch, nhằm tả vẻ đẹp của Dương Quý Phi, ý nói: Nhìn mây mà nghĩ tới xiêm y của Dương; nhìn hoa mà nghĩ tới dung mạo của Dương. Trần Trọng San dịch là : Mặt tưởng là hoa, áo ngỡ mây. 

[4] Là câu đầu tiên trong 4 câu bài thơ thất ngôn tuyệt cú Xuất Tái (chu sai) của nhà thơ Vương Xương Linh đời Đường, ý nói : Nhìn trăng sáng mà nghĩ tới nơi biên ải (Vẫn là trăng sáng thời nhà Tần, vẫn là biên ải thời nhà Hán, nhưng quan san đã thay đổi, thời Tần Hán đã qua rồi. Câu tiếp sau là: tướng sĩ viễn chinh tới nay vẫn chưa trở về. Bài thơ nói lên sự tàn khốc của chiến tranh và ước vọng hòa bình).

  杨振宁:《易经》对中华文化的影响


https://nghiencuulichsu.com/2013/03/01/anh-huong-cua-kinh-dich-doi-voi-van-hoa-trung-quoc/


---

杨振宁:《易经》对中华文化的影响


来源:北京东博文化研究院公众号作者:杨振宁 2018-04-23 11:00

  我的题目是易经对于中华文化的影响,以下几分钟要讨论一些观点,精简、比类、天人合一,联想,取象这么多观念很短时间不能讲得通俗,但是主要讨论三点。
  第一易经影响中华文化的思维方式,所以这个影响是近代科学没有在中国萌芽的重要原因之一,这也是我所以对于易经发生兴趣。
  第二是易经是汉语成为单音语言的原因之一。
  第三是易经影响了中华文化的审美观念。
  我是研究物理学的,没有研究过历史学考古学语言学语音学美学哲学等等。可是对于这样一个复杂的中国文化的成因,我近年来发生了兴趣,所以大胆的今天在这个场合跟大家谈谈我自己的一些想法。易经大家知道是中国非常古老的一个文献,据说是夏朝已经有了最早的易经叫连山,商朝有了比较晚一点的归藏,我们现在所看见的易经是西周时候的周易。所以易经的历史是孕育了前后经过一千多年,我想这个结论是大家可以同意的。
  易经里面64卦开始是乾卦和坤卦。如果问易经怎么形成的,这个说法可以接受,最早中国发展了占卜,因为要对占卜作为系统性了解就发展了卦符,乾坤所有64卦都有卦符,乾就是六个连线坤是六个断线,有了符以后还得有个名字卦名是有音,单有音还不够,后来有一个字,这前后发展的次序我不是研究考古学的,我想这个想法很可能多少是对的。
  可是我们知道的孕育易经的年代也正是汉语汉字开始形成的年代,这个阶段我想是大家都会接受的。这些卦是象,这是周易里面自己讲,是浓缩了的观念,以卦符卦名将天地人的变迁分类,这几句话可以说用今天的语言来描述到底易经做了什么事情,我自己觉得这个讲法是合理的。所以浓缩化、分类化、抽象化、精简化、符号化这些是易经的精神。而我认为这种精神贯穿到几千年以来中国文化里面每一个角落。
  分类精简的例子,今天大家知道中医的理论其中重要一点就是把疾病或者是医药分成阴阳、寒暖、表里,这个分类的观念做一个大前提讨论中医的理论,这就是从易经的精神传统所遗留下来的,像这样的例子我们可以举很多。
  那么现在我们集中讨论近代科学为什么没有在中国萌生。这已经有很多人讨论了,这里面有很多归纳出来的道理,比如在这写下了五个。第一个中国的传统是入世的不出世的,换句话就是比较注重实际的,不注重抽象的理论架构,这是一种可以说通的道理之一。
  第二个科举制度。第三个观念认为技术不重要的,所以这个观点可以用奇技淫巧,这是传统的中国观念对于技术不重要。第四是中国传统里面无推演式的思维方法。第五有天人合一的观念。第四跟第五两点跟易经有密切的关系。
  传统中华文化有底下两个性质,没有发展推演式思想方法采取天人合一的哲学观念,我认为这二者都是受易经的影响。如果我们归纳一下觉得今天的近代科学的思维方法是怎么样?是有两条路,一条路是归纳法、一条路是推演法最终的目的跟方法都是要达到自然规律,归纳的方法达到自然规律可以说从广大的现象要想上升到一个自然的规律这个是一个归纳的步骤,可是近代的自然科学还另外有一个重要的一条腿就是推演的方法,推演的方法是从一个浓缩了的观念把它推演出来现象,近代的科学是把这两个结合起来所发展出来的。
  我现在来举一个例子,归纳跟推演怎么在近代科学里面并用,我现在举一个就是怎么在19世纪中叶推导出了Maxwell方程,Maxwell是电磁理论奠基人,在1865年前后写了三篇文章,这三篇文章给了世界Maxwell方程。第一篇文章里面是用归纳法,他有这样一句话,这是我的翻译,我们必须利用物理学不同分支之间的相似处。他那时候要研究电学跟磁学基本的数学结构,那么那个时候对于这个结构是很不清楚的,他说我们可以用已经知道的物理学别的分支,比如流铁力学在那时候相当发展了,有完善的理论基础,他说我们要用这个做一个例子,也许可以得出来一个结论,电学跟磁学的结构与流铁力学的结构有相似的地方,换句话说他这所用的是趋向比类方法。到了第三篇文章用了推演方法,用了刚才趋向比类的办法写出一些方程式,然后他把这些方程式拿来推演一下得出来一个惊人的结论,他说这样子用趋向比类的方法写出的方程式会发现有电磁波,而且它的速度可以用方程式算出来,算出来以后说了,此速度与已知光速如此相近,我们有理由相信光既是电磁波,因为在那以前电磁跟光是分别的东西,他现在说不是分别的,光就是电磁合起来的结果,这个结论对于世界的影响我想是没法估计的,今天发电机,电话、无线电、电视网络通信激光等等都改变了人类的历史,而所有的这许多都基于Maxwell方程式,我们再讲一下怎么得到这方程式,既用归纳法又用推演法,这样一个重要的事情在近代科学里面,思维方法是结合了两点。
  那么中华文化怎么样呢?我要特别加强讨论的,中华的文化有归纳法,可是没有推演法,中华文化的归纳法来源是什么,如果看易传,易者象也,易象者意想也,就是要立一些卦符要贯彻一些观念,把它趋向比类,所以观物取象这是易经的精神,所以归纳法向上要想求得整体的观念,这个是贯穿在易经的精神里面,可是缺少的是推演的办法。易经的精神分类、精简、抽象化是归纳法的精神。中华文化没有发展出推演法,我们怎么可以证明呢?我想非常好的例子是去看一下徐光启,在明朝末年是一个大学者,他是一个大臣而且是一个大学者,大家知道他是最早把几何合着翻译,只翻译了前六章,后来没有再翻译下去,他们最早翻译的原版,现在在国内还有几本,我曾经在北京图书馆去请他们给我看,他们所藏的几何原本就是徐光启的翻译,这是历史上一个非常重要的事情。
  徐光启翻译前六章以后,在他的文章里面包括序里面就讲了他的感受,几何原本翻译欧几里德的几何学这是人类历史上一个大贡献,可以说第一次把推演法变成规律化,这个影响是不可以倒立计,近代力学开启是牛顿写的……(英语),如果你翻译一下你就发现他写的方法完全是照着欧几里德几何原本方法,是由公理有定理,然后有证明等等。它是照抄欧几里德的推演法的形式,所以我们可以知道,推演法对于近代科学的产生有多大的重要性,事实上有意思的一件事情就是徐光启翻译欧几里德的几何原本的时候,牛顿还没有出生,他比1687年牛顿的早了八十年,可惜这翻译有两百多年没有在中国发生应该有的影响,所以推演法没有在中国的生根。徐光启在翻译了以后他曾经写过几句话,一个是讲几何原本里推演逻辑的方法是欲前后更置之不可得,就是一条一条推论不能次序颠倒,这跟中国传统不一样的,中国传统对于很多事情都讲出来,次序没有关系,要你体会出来最后的结论,徐光启了解到推演法一个特别的精神就是欲前后更置之不可得。比如有这样几句很有名的话,以至晦,实至明,似至繁,实至简,似至难,实至易,如何一个在中学读过几何原本的时候都知道的,看起来非常复杂,但是是非常简单的,这是社会科学跟自然科学很大的分别,社会科学讨论的东西不是一下子连起来的,你要从乱七八糟的东西里抽出精神,整个事情就是一个归纳法在自然科学里面,虽然有归纳法可是也非常重视有一个推演法,这一点我觉得所谓三似三实,徐光启的话已经很明显讲了出来。
  那么下面要讲另外一个可能,就是很多人认为,是中国没有在中华文化里面,是很早就有天人合一的观念,比如天人一物,理一分殊。每一卦都包含天道地道与人道在内,换句话天的规律跟人世的规律是一回事,所以受早年易经思维方法影响,把自然跟人归纳成同一理,所以根本就有这句话,叫内外一理,内者是人世间的事情,外者自然间的事情,要把这两个归纳成一体。我们知道有名的王阳明格竹子,是要用人世间的理追求自然界的理,这样当然格不出近代科学近代科学一个特点就是要摆脱掉天人合一这个观念,承认人世间有人世间的规律,有人世间复杂的现象,自然有自然界的复杂现象,这两个是两回事,不要把它合在一起。当然我讲这句话会使得很多人觉得,尤其是研究中国哲学的人觉得你对于中国的传统哲学攻击太厉害了,我没有这意思,因为天人合一的内涵不止是内外一理,是远超过内外一理。从天人合一产生观念是天人和谐,天人和谐对于中国传统的思维,对于中国的社会的影响,比因为太植根于天人合一,所以没有发展出近代科学的影响还要重要,而且从今天的立场讲起来,我们可以问底下这个问题,太用西方的办法,西方的办法是摈弃了天然合一的观念,是不这样发展下去将要有天人对立的现象,我想这是一个非常重要的题目,不过不是我今天所能够讨论的范围之内。
  我讲第二点,易经是汉语成为单音语言的原因之一。世界上原始语言与成熟语言几乎都是复音的,单音的语言是极少有的。我不是研究语言学的,我至少不晓得有任何一个别的原始的语言或者成熟的语言是像汉语这样单音的。我们知道这是从考古学证据16000年以前在江西的居民已经采集野生稻为主要的粮食。所以在一万多年以前已经开始形成了中华文化。我们应该相信他们已经有语言,而且根据刚才讲的,世界上绝大多数原始的语音,以及成熟的语音都是复音的,所以我们有理由可以假设,古代的我们的祖先,他们所用的语言也是复音的语言,后来怎么变成单音的汉语,假如刚才的假设是对的,从复音的汉语变成单音的汉语这中间一定有一个很长的过程,而且一定有它的道理,因为这不是简单的事情。我有一个大胆的假设是受了卦名的影响,卦名是单音的,因为有一个卦在那要起个名字最简单的用了一个字,所以就乾、坤,这是单音统治者用的,念起来有分量,这就形成了一个价值观,影响到后来整个汉语的发展,在座有语言学的专家,我想我这个讲法很大胆的,希望不被语言家批评的体无完肤。
  我们可以看易经里面字,包括卦名跟底下的卦词,元、亨、利、贞、吉、凶、阴、阳、日、月、天地,这有了易经要把它的意义给它讲出来是用一个有声有色有分量的讲出来,所以就发展了这种字,这种字发展出来了对于整个语言文字都会产生重要的影响,所以我刚才说我猜想汉语、汉字所以变成单音的语言文字与易经有密切的关系。这不但影响了汉字形成,而且促进了汉字今天的发展成为单音的语言。
  第三点讨论易经怎么影响了中华文化的审美观念。易经在这个方面的影响我想是极广的,包括汉语,文法文学艺术、书法等等。比如汉语的形成,汉语里面有字,字平常翻译成英文Word,这不是英文的Word,英文的字翻译中文是一个词,通常是好几个字,比如现代,比如说所以,这些都是两个字或者三个字,可是在西方的语言里面它是一个词,所以我们应该把词和字分开,词有了还有成语,所以汉语、汉字、汉文里面有字词跟成语这次序。汉语本来的词绝大多数一个或者两个字的,如果说外祖父怎样,是一个复杂的观念,是从祖父推演出来的,玉蜀黍不是中国本来的,玉蜀黍这个观念是后来北美洲被西方人发现以后玉蜀黍才传到全世界,洞庭湖是三个字其实是洞庭跟湖,成吉思汗更是意音。我这里面讲的精简的观念贯彻在中国汉语汉字成因里面,所以希望只用一个字或者两个字不大用三个字传统是这样子。我觉得这个可以讲成是一个观念,这个观念是精简为美,精简为美与整个中国的文化有密切的关系,你比如说是中国的诗比西方的诗来得短,为什么呢?如果你在很短几个字里面,比如56个字就可以讲出来很复杂的观念,很复杂的情感,为什么要写更多的呢,所以中国诗比起西洋诗来是短,这个我把它归纳成一个观念,是和中国有精简为美的主体观念。

编辑:赵珂

文章、图片版权归原作者所有,如有侵权请联系删除

https://www.chinakongzi.org/dajiatan/201804/t20180423_175995.htm

---


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.