Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách 晴耕雨讀

28/07/2026

Về nhân vật Trần Cẩm độc đáo ở huyện Mộ Hoa (sau này là Mộ Đức) tỉnh Quảng Ngãi

Nhân vật Trần Cẩm, theo khảo sát nhanh của tôi tại Quảng Ngãi từ nhiều năm nay, thì thật thú vị. Chính sử của nhà Nguyễn hay cả chính sử nhà Lê cũng hầu như bỏ quên mất ông. Một nhân vật bị quên trong chính sử của các bên, cũng không phải là hiếm ! Nó có tính lịch sử thực sự của nhân vật đó !

Trần Cẩm đã được chú ý từ đầu thế kỉ 20. Mộ phần và nhà thờ của ông tại huyện Mộ Đức (xưa là huyện Mộ Hoa) tỉnh Quảng Ngãi đã được xếp hạng di tích từ lâu.

Tới đầu thế kỉ 21, ông được chú ý thêm.

Trong một hội thảo được tổ chức vào năm 2005, sau đó là kỉ yếu hội thảo được ấn hành năm 2006, học giả Nguyễn Đăng Vũ đã đưa thông tin chính thức về nhân vật Trần Cẩm ở huyện Mộ Đức . Xem đoạn sách chụp dưới đây.

Bài viết đã công bố năm 2006 của học giả Nguyễn Đăng Vũ

Sau này, vẫn về nhân vật Trần Cẩm này, anh tiếp tục công bố tư liệu.

Mở entry này đã sưu tầm các công bố tư liệu của Nguyễn Đăng Vũ (và một số người nữa) về nhân vật Trần Cẩm.

Cũng thu thập các bài phản biện.

Tư liệu được đưa về từ từ.

Tháng 7 năm 2026,

Giao Blog



---


2024

Sắc phong ở Quảng Ngãi, trăm năm vẫn vẹn nguyên màu giấy

VIÊN NGUYỄN  -  Thứ sáu, 09/02/2024 13:45 (GMT+7)

Quảng Ngãi - Trải qua hàng trăm năm, các dòng tộc, chùa, đình làng… ở Quảng Ngãi vẫn còn gìn giữ hàng trăm sắc phong có giá trị của các triều đại.

Sắc phong ở Quảng Ngãi, trăm năm vẫn vẹn nguyên màu giấy
Sắc phong của Trấn Quốc Công Bùi Tá Hán được con cháu gìn giữ tại đền thờ ông. Ảnh: Ngọc Viên

Niềm tự hào của gia tộc

Những nơi thờ tự như đền Bùi Tá Hán ở phường Quảng Phú, TP Quảng Ngãi hiện còn lưu giữ 23 sắc phong; đình làng Thi Phổ ở xã Đức Tân, Mộ Đức, lưu giữ 24 sắc phong. Ngoài ra, nhiều ngôi chùa, nhà thờ họ, các đền miếu ở Quảng Ngãi còn gìn giữ nhiều sắc phong quý.

Tiến sĩ Bùi Phụ Anh - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Kế toán, cháu đời thứ 14 của Trấn Quốc Công Bùi Tá Hán chia sẻ: 23 sắc phong của cụ Bùi Tá Hán đều được gìn giữ tại đền thờ ông.

Bên cạnh đó, gia phả từ đời cụ Bùi Tá Hán đến đời thứ 17 được viết lại rất công phu, nhằm để con cháu biết tường tận nguồn gốc tổ tiên, qua đó khơi dậy niềm tự hào, giáo dục truyền thống.

Sắc phong ở Quảng Ngãi có hai loại: Sắc phong thần linh và sắc phong nhân vật. Trong hàng trăm bản sắc phong, thì sắc phong ban cho Trấn Quốc Công Bùi Tá Hán là nhiều nhất. Tại đền thờ Bùi Tá Hán có 9 sắc phong cho ông từ thời Vua Cảnh Thịnh đến vua Khải Định. Trong đó, bản sắc phong thời Cảnh Thịnh là một trong hai bản sắc phong cổ nhất tìm thấy ở tỉnh Quảng Ngãi.

Các bản sắc phong được trụ trì, đồ đệ trong chùa Hoa Sơn coi giữ, trân quý. Ảnh: Đăng Sương
Các bản sắc phong được trụ trì, đồ đệ trong chùa Hoa Sơn coi giữ, trân quý. Ảnh: Đăng Sương

Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ - nguyên Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) tỉnh Quảng Ngãi cho biết: Qua nhiều đợt khảo sát trong vài năm trở lại đây, Quảng Ngãi chỉ còn hơn trăm đạo sắc phong, không ít trong số đó không còn nguyên vẹn. Dù vậy, vẫn còn nhiều bản sắc phong quý được lưu giữ như 7 sắc phong thần và 14 thị tỉ của các chúa Nguyễn cho Trần Cẩm và các ông họ Trần ở đây.

Tại nhà thờ họ Trần ở huyện Mộ Đức, có sáu người được phong thần, đây là điều rất hiếm có trong lịch sử các dòng họ ở Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung.

Ngôi chùa lưu giữ 18 đạo sắc phong quý

Cũng theo Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, sắc phong là một loại hình văn bản đặc biệt và cũng là những bảo vật thiêng liêng, nên có giá trị lớn trong đời sống văn hóa, tinh thần ở các làng xã, hoặc có khi cho cả vùng miền, quốc gia, dân tộc. Các loại sắc phong cho các thiên thần, nhiên thần, thủy thần... dù ở triều đại nào cũng luôn luôn xứng đáng được trân trọng, bởi chúng chứa đựng nhiều giá trị thể hiện đúng nguyên lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Nằm ở hữu ngạn sông Trà Khúc, chùa Hoa Sơn ở xã Nghĩa Phú, TP Quảng Ngãi hiện lưu giữ 18 đạo sắc phong của các vua nhà Nguyễn. Đây là những sắc phong do dân làng gửi nhà chùa lưu giữ và thờ phụng, được nhà chùa gìn giữ và lưu lại gần như nguyên vẹn đến ngày nay.

Không phụ niềm tin của người làng, các sư chùa Hoa Sơn đã luân phiên nhau gìn giữ trọn vẹn 18 đạo sắc phong suốt mấy trăm năm. Các sắc phong được nâng niu, lưu giữ trong hộp gỗ sơn son, nên dù đã qua mấy trăm năm, hầu hết sắc phong này đều vẹn nguyên màu giấy.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, sắc phong ở chùa Hoa Sơn chủ yếu là những sắc phong của triều Nguyễn ban cho nhân dân địa phương phụng thờ người có công trạng với đất nước. Đặc biệt là các công thần khai mở vùng đất phía Nam của Tổ quốc, như: “Quang Chiếu Vương” (Mai Đình Dõng) - người được Chúa Nguyễn Hoàng giao nhiệm vụ trấn giữ vùng đất Quảng Nam xưa (từ đèo Hải Vân đến Phú Yên) vào cuối thế kỷ XVI; Lương Văn Chánh - người có công khai mở vùng đất Phú Yên vào năm 1611.

https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/sac-phong-o-quang-ngai-tram-nam-van-ven-nguyen-mau-giay-1302830.ldo


...

2021


Chủ Nhật, ngày 12/09/2021 - 06:04

Ở dọc dài Nam Trung bộ đến nay còn lưu giữ hàng nghìn sắc phong ban chức tước, lẫn sắc phong thần, chủ yếu là sắc phong thời Nguyễn. May thay, trong quá trình điền dã, chúng tôi đã tìm thấy một sắc phong thời Lê ban cho Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Trần Cẩm, quản lãnh một sở thuộc vệ Hoài Nhơn xưa. Đến nay sắc phong đã được 424 năm tuổi.

1. “Địa Thi Trần tộc tiền hiền” là một tập phổ liệu do tộc họ Trần ở Mộ Đức xuất bản năm 1994. Tập phổ liệu được xây dựng dựa vào phả hệ của tộc họ Trần làng Địa Thi xưa (nay là các xã Đức Thạnh, Đức Minh, Đức Tân, một phần xã Đức Chánh, thuộc huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi), được viết vào thế kỷ thứ XVIII, còn lưu tại nhà thờ thủy tổ họ Trần (thôn Phước Thạnh, xã Đức Thạnh). Theo tập phổ liệu này, Trần Cẩm sinh năm 1545 tại Thanh Oai, Hà Đông, con của ông Quản đội Trần Như Khóa, một võ quan triều Lê Trung Hưng.

Tại nhà thờ họ Trần, chúng tôi thấy còn các sắc, các bản thị cách đây trên dưới 400 năm, ban cho Trần Cẩm gồm: Sớm nhất là bản thị vào năm Quang Hưng thứ 19 (1596) ban cho ông giữ chức ký lục phủ Quảng Nghĩa, tước Quảng Nham tử; tiếp theo là sắc phong năm Quang Hưng thứ 20 (1597) ban cho Trần Cẩm nhận nhiệm vụ ở vệ Hoài Nhơn; bản thị vào năm Hoằng Định thư 8 (1608) ban cho ông giữ chức Cai phủ Tham tướng phủ Quảng Ngãi, tước Quảng Nham hầu; bản thị vào năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625), ban cho Quảng Nham hầu Trần Cẩm thăng chức Chánh khám lý phủ Quảng Nghĩa - là chức quan và tước phong cuối cùng của Trần Cẩm.




Sắc ban cho Trần Cẩm quản lãnh Hoành Ngạc Trung sở vệ Hoài Nhơn vào năm Quang Hưng thứ 20 (1597).

Năm 1630, Trần Cẩm “được nghỉ việc nước”, theo phổ liệu đã dẫn, và đến năm 1640 mất, thọ 95 tuổi. Vào năm Khải Định thứ 10 (1925), Trần Cẩm được phong tặng thần hiệu là Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù chi thần. Hiện mộ ông còn tọa lạc tại cù lao Bàu Súng, xã Đức Chánh. Di tích Mộ và đền thờ Trần Cẩm được xếp hạng là di tích cấp quốc gia năm 1996.

2. Đây là bản sắc còn nguyên vẹn, dầu đã trải qua 424 năm với bao biến động, chiến tranh, thiên tai, từ năm Quang Hưng thứ 20 (1597). Khảo sát nét chữ, ấn triện, chúng tôi thấy không khác với những nét chữ của một số ít bản sắc được các nhà nghiên cứu tìm thấy và công bố, như bản sắc ban vua Lê phong cho ông Trần Đức Hòa tước Cống Quận công ngày 12 tháng 6 năm Quang Hưng thứ 8 (1584) và sắc ban ông Lương Văn Chánh, tước Phù Nghĩa hầu ngày 5 tháng 12 năm Quang Hưng thứ 19 (1596), đã được giới thiệu trọng sách “Lương Văn Chánh - thân thế và sự nghiệp”, NXB Từ điển bách khoa, năm 2010, cùng nhiều bản thị được ban vào thời Lê Trung hưng mà chúng tôi tìm thấy ở nhiều nơi.

Về chức tước, bản sắc cho biết rõ, là Trần Cẩm được ban chức là Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, tước Quảng Nham bá, là tùy tướng của Thái úy Trường Quốc công Trịnh Tùng. Vì Trần Cẩm có công trong việc vận chuyển binh lương nên được thăng chức, và được giao nhiệm vụ quản lãnh Hoành Ngạc trung sở, vệ Hoài Nhơn.

Bấy giờ Hoài Nhơn là một phủ thuộc đạo Thừa tuyên Quảng Nam (cùng với phủ Thăng Hoa - nay là Quảng Nam, phủ Tư Nghĩa - nay là Quảng Ngãi). Phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn, là vùng đất tương đương với tỉnh Bình Định hiện nay, được vua Lê Thánh Tông thu phục từ năm 1471 - tức đến nay tròn 550 năm.

Trong phần “Quan chức chí” sách Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú cho biết: Ở các xứ thừa tuyên có các Đô ty, đứng đầu Đô ty là Tổng binh và Phó tổng binh, coi việc binh chính; đứng đầu Thừa ty có chức Thừa chánh sứ, Thừa phó sứ, coi việc hộ tịch, tiền, thóc, kiện tụng; đứng đầu Hiến ty có chức Hiến sát sứ, Hiến sát phó sứ, coi việc xét hỏi, kiểm soát, khảo khóa, tuần hành (gọi là Tam ty).

Như vậy, Đô ty Quảng Nam cai quản 3 vệ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn, có nhiệm vụ chính là cai quản binh lính, đứng đầu là quan Tổng binh (như Bùi Tá Hán, Nguyễn Bá Quýnh). Trong mục “Binh chế chí” trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú cho biết thêm: Vào năm Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông có quy định, dưới Đô ty có 5 vệ, mỗi vệ 5 sở, mỗi sở 20 đội, mỗi đội có 20 người. Sử liệu cũng cho biết, các phép tuyển binh thời Lê Trung Hưng (1533- 1788), cơ bản vẫn giữ như thời vua Lê Thánh Tông. Như vậy, Trần Cẩm quản lãnh sở Hoành Ngạc Trung, tức quản lãnh một sở có 5 đội với khoảng 400 quân lính.

 3. Theo bản thị được ban cho Trần Cẩm vào ngày 4 tháng 8 năm Quang Hưng thứ 19 (1596), còn lưu ở nhà thờ họ Trần ở Đức Thạnh (Mộ Đức), lúc này Trần Cẩm chỉ có phẩm tước là Quảng Nham tử và được thăng chức từ Ký lục phủ Quảng Nghĩa, lên làm Tham tướng Cai phủ Quảng Nghĩa, đặt dưới trướng của Trấn thủ dinh Luân Quận công Tống Phúc. Đến ngày 6 tháng 10 năm Quang Hưng thứ 20 (1597), tức hơn một năm sau, Trần Cẩm được bổ nhiệm quản lãnh sở Hoành Ngạc Trung vệ Hoài Nhơn và được thăng chức là Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, với phẩm trật là Quảng Nham bá.

Trần Cẩm vốn là Cai phủ tham tướng phủ Quảng Nghĩa, tước Quảng Nham hầu, vì có năng lực, tòng quân đã lâu, lập được nhiều công lao nên được giao giữ chức Phó Đề lãnh phủ Quảng Nghĩa. Lần theo các bản thị, có thể suy đoán, Trần Cẩm quản lãnh sở Hoành Ngạc Trung ở vệ Hoài Nhơn không lâu, vì đến năm 1608 đã được bổ nhiệm làm Phó Đề lãnh phủ Quảng Nghĩa, và cũng đã được thăng từ tước “bá” lên tước “hầu” (Quảng Nham hầu). Nhưng trước khi làm Phó Đề lãnh thì Trần Cẩm đã được bổ nhiệm làm Tham tướng Cai phủ Quảng Nghĩa. Tiếc là chúng tôi không thấy còn bản thị nào “điều động” Trần Cẩm từ vệ Hoài Nhơn về trấn nhậm lại tại phủ Quảng Ngãi trong khoảng thời gian gần 10 năm (từ 1597 đến 1608).

Có thể nói nhân vật Trần Cẩm là một nhân vật lớn có mức độ liên quan sâu đậm đến vùng đất Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay, vì vậy nên được quan tâm, cùng nghiên cứu sâu hơn.

TS. NGUYỄN ĐĂNG VŨ

https://baogialai.com.vn/dac-tien-phu-quoc-thuong-tuong-quan-tran-cam-va-sac-phong-424-nam-post398558.html


...


---


Phản biện của cây bút Brain W


1.


(Khảo sát từ tờ Thị năm Quang Hưng 19 (1596) và đạo sắc phong năm Quang Hưng 20 (1597) hiện đang lưu hành trên mạng)
****
I. DẪN NHẬP VẤN ĐỀ
Từ việc thầy Lê Minh Khiêm dẫn lại và công bố nội dung một tờ Thị đề niên hiệu Quang Hưng thứ 19 (1596) liên quan đến nhân vật Trần Cẩm tại Quảng Ngãi, tôi đã tiến hành đọc kỹ văn bản này và đối chiếu với các sử liệu chính thống hiện còn. Qua quá trình khảo sát, tôi nhận thấy rằng cả tờ Thị năm 1596 lẫn đạo sắc phong năm Quang Hưng thứ 20 (1597) dành cho Trần Cẩm – hiện đang được lưu hành rộng rãi trên mạng – đều bộc lộ nhiều vấn đề nghiêm trọng về phương diện sử học và văn bản học.
Điều đáng lưu ý là cho đến nay, dường như các văn bản này chưa được khảo định một cách hệ thống bằng các phương pháp văn bản học, đặc biệt thông qua việc đối chiếu quan chế, niên đại, nhân sự và bối cảnh lịch sử cụ thể. Từ thực trạng đó, theo tôi, cần phải đặt ra hai câu hỏi mang tính quyết định:
(1) Liệu các tài liệu này đã từng được thẩm định một cách nghiêm túc bởi các cơ quan chuyên môn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hoặc bởi Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Quảng Ngãi, trước khi được sử dụng làm căn cứ khoa học hay chưa?
(2) Trong trường hợp các cứ liệu nói trên bị xác định là giả mạo, và nếu chúng thực sự là những cứ liệu đầu tay quan trọng từng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam sử dụng để xác lập nhân vật lịch sử Trần Cẩm và công nhận mộ và nhà thờ Trần Cẩm tại Quảng Ngãi là di tích quốc gia, thì Bộ có tiến hành thẩm định lại toàn bộ các cứ liệu này hay không, và nếu cần thiết, có xem xét việc rút lại quyết định công nhận di tích quốc gia nói trên hay không?
Việc không làm rõ, hoặc không xử lý đến cùng hệ quả của những sai lệch tư liệu như vậy, sẽ không chỉ làm suy giảm chuẩn mực khoa học trong nghiên cứu lịch sử, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, tính nghiêm túc và trách nhiệm của hệ thống quản lý di sản văn hóa ở cấp quốc gia Việt Nam. Thực tế cho thấy, từ chính hai cứ liệu này đã và đang nảy sinh ra những diễn giải sai lệch, chẳng hạn như việc suy đoán vô căn cứ sự hiện hữu của phủ Quảng Ngãi từ năm 1596, hoặc ngụy tạo khả năng một viên quan chỉ ở bậc Chánh Tam Phẩm lại có thể được triều đình ban danh hiệu Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, đi ngược lại hoàn toàn với lịch sử và những quy định quan chế đã được ghi chép rõ ràng trong sử sách Việt Nam.
****
II. NỘI DUNG TỜ THỊ NĂM 1596
Theo bản dịch do thầy Lê Minh Khiêm công bố, nội dung tờ Thị năm Quang Hưng 19 (1596) là như sau: “Thị cho – Kí lục phủ Quảng Ngãi là Quảng Nghiêm tử Trần Cẩm có công đốc thúc thu thuế, nên thăng cho chức Tham tướng, Cai phủ của bổn phủ. Hãy đốc thúc các huyện, cai tổng xã và các xã phụ khách hộ theo binh dân các xứ trong dinh Trấn thủ của Luân quận công Tống Phúc Thuần cùng nhau thực hiện nhiệm vụ của dinh. Nếu sinh sự quấy nhiễu nhân dân, đã có phép quân. Nay thị! Ngày mồng 4 tháng 8 năm Quang Hưng thứ 19.”
Chính từ việc tiếp cận trực tiếp nội dung văn bản này và tiến hành đối chiếu với các thư tịch lịch sử chính thống, tôi không khỏi băn khoăn về một vấn đề phương pháp luận căn bản: liệu tác giả TS. Nguyễn Đăng Vũ – người đã công bố và phổ biến rộng rãi thờ Thị năm 1596 và bản sắc phong năm 1597 liên quan đến Trần Cẩm trên không gian mạng – cũng như các cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam hoặc Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Quảng Ngãi, đã từng thực hiện hoặc công bố một nghiên cứu khảo định mang tính văn bản học đối với các văn bản này hay chưa ?
Việc đặt câu hỏi này là cần thiết, bởi lẽ qua đối chiếu sơ bộ với các sử liệu hiện còn, nội dung tờ Thị năm 1596 đã bộc lộ nhiều điểm bất thường về quan chế, chức danh, nhân sự và bối cảnh lịch sử, đủ để yêu cầu một quá trình khảo định nghiêm ngặt trước khi các văn bản này được sử dụng như những cứ liệu lịch sử đáng tin cậy. Dưới đây là 5 tồn nghi cơ bản mà tôi nêu ra về nội dung tờ Thị năm 1596, sau khi đã đối chiếu với sử liệu.
****
III. TỒN NGHI THỨ NHẤT: CHỨC KÝ LỤC VÀ CHỨC NĂNG BỊ GÁN SAI
Theo Lịch triều hiến chương loại chí, chức Ký Lục không phải là một chức vụ hành chính thu thuế địa phương, mà là chức vụ được thiết lập gắn liền với các cuộc viễn chinh quân sự. Sách chép rõ: “Ký Lục - [Lê] Thánh Tông, trong đời Hồng Đức, đi đánh giặc miền Tây mới đặt chức ký lục các doanh (bấy giờ sai quan văn là Nguyễn Như Uyên, Nguyễn Căng làm ký lục các doanh), phàm các chức tướng quân siêng năng hay lười biếng, dũng cảm hay nhút nhát, đều ghi rõ để tâu lên. Từ đấy, khi nào có sai tướng ra quân đều đặt chức ấy. Đầu thời Trung hưng, việc quân bận rộn, lại đặt chức ký lục ở ngự doanh (bấy giờ dùng Phùng Khắc Khoan làm chức ấy). Đời Quang Hưng dẹp xong nhà Mạc mới bãi chức ấy. Về sau, khi có việc viễn chinh to tát cũng theo lệ cũ mà đặt chức ký lục.” (Nguồn: Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí tập 1 chương Quan Chức Chí trang 567)
Đối chiếu đoạn trích trên với nội dung tờ Thị năm 1596 đoạn “có công đốc thúc thu thuế”, có thể thấy một mâu thuẫn trực tiếp về chức năng. Ký Lục không có nhiệm vụ đốc thúc thu thuế, cũng không phải là chức vụ tồn tại thường xuyên tại các phủ địa phương. Hơn nữa, chức này đã bị bãi bỏ từ năm Quang Hưng 16 (1593), trong khi tờ Thị lại đề niên hiệu Quang Hưng 19 (1596).
Và theo Đại Nam thực lục, trong giai đoạn 1593–1600, khu vực Thuận Quảng không xảy ra nội loạn hay ngoại xâm, khiến cho sự tồn tại của một viên Ký Lục như võ quan Trần Cẩm tại Quảng Ngãi năm 1596 là điều không thể giải thích được.
Vậy sự có mặt của viên võ quan Ký Lục Trần Cẩm tại Quảng Ngãi năm 1596 theo nội dung tờ Thị năm 1596 cần được giải thích ổn thỏa theo lịch sử ra sao ? Dựa vào các tình tiết sử kiện nào để ủng hộ cho sự có mặt này ?
****
IV. TỒN NGHI THỨ HAI: CHỨC DANH “THAM TƯỚNG CAI PHỦ”
Hơn thế nữa, cũng theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, sau cuộc cải cách hành chính thời Hồng Đức trở đi, đứng đầu cơ quan hành chánh Phủ là Tri Phủ - “Thánh Tông, đầu đời Quang Thuận, đổi lộ làm phủ, ban ấn tri phủ. Giữa đời Hồng Đức đặt 13 thừa tuyên, cho trấn thống phủ, phủ thống huyện, định quan chế đặt chức tri phủ vào hàng tòng lục phẩm, [có chức vụ] tra khám xét lại việc kiện tụng ở các huyện. Thời Trung hưng về sau noi theo không đổi.” (Nguồn: Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí tập 1 chương Quan Chức Chí trang 569).
Trong khi đó, tờ Thị năm 1596 lại ghi Trần Cẩm được thăng chức “Tham tướng, Cai phủ”, một chức danh không xuất hiện trong hệ thống quan chế chính thống, vừa mơ hồ về chức năng, vừa bất hợp lý khi một võ quan lại được trao quyền cai quản phủ – vốn là phạm trù hành chính dân sự.
****
V. TỒN NGHI THỨ BA: NHÂN VẬT “LUÂN QUẬN CÔNG TỐNG PHÚC THUẦN”
Nhân vật Tống Phúc Thuần được nêu trong nội dung tờ Thị năm 1596 không xuất hiện trong các sử liệu chính thống hiện còn, vì vậy không thể xác định lai lịch và chức vụ của nhân vật này bằng căn cứ sử học đáng tin cậy. Trong khi đó, Đại Nam liệt truyện chỉ ghi nhận một nhân vật khác là Tống Phước Trị, từng giữ chức Trấn phủ Thuận Hóa, mang tước Luân quận công, hoạt động vào thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Theo Đại Nam Liệt Truyện, “Tống Phước Trị là người Quý huyện Thanh Hóa. Ông làm quan với nhà Lê, tới chức trấn phủ Thuận Hóa, tước Luân quận công. Làm chính sự khoan hòa, Trị được trăm họ yêu mến, gọi là "Bản xứ công". Thái Tổ Hoàng Đế vào trấn Thuận Hóa. Trị dâng ngay sổ sách bản đồ trong cõi, rồi cùng Uy quốc công Nguyễn Ư Kỷ và Thống binh Mạc Cảnh Huống đồng lòng hết sức giúp nhà chúa. Lúc mới khai quốc, Trị thực có công. Về sau Trị ốm chết tại chức.” (xem Đại Nam Liệt Truyện Tập 1 truyện Tống Phước Trị)
Tuy nhiên, sử sách không cho biết rõ Tống Phước Trị giữ chức Trấn phủ Thuận Hóa vào thời điểm nào, cũng như là không ghi nhận việc ông đang đương chức khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm Thuận Hóa năm 1558. Trái lại, việc sử sách không chép việc chúa Tiên tiếp quản Thuận Hóa từ tay một Trấn phủ đương nhiệm cho phép giả định hợp lý rằng Tống Phước Trị nhiều khả năng đã hoạt động trước thời điểm này.
Vấn đề nảy sinh là ở chỗ: nếu Tống Phước Trị đã hoạt động trước hoặc vào khoảng năm 1558, thì vì sao gần bốn mươi năm sau, tức năm 1596, một nhân vật mang tên Tống Phúc Thuần, với cùng tước hiệu Luân Quận Công lại xuất hiện trong tờ Thị với tư cách nắm giữ “dinh Trấn thủ”? Theo sử liệu, vào năm 1596, chức Trấn thủ hai xứ Thuận Hóa – Quảng Nam vẫn do chính chúa Tiên Nguyễn Hoàng đảm nhiệm, và không có bất kỳ ghi chép nào về việc tạm giao quyền trấn nhậm cho người khác trong thời gian ông ở ngoài Bắc.
Hơn nữa, nếu việc thăng chức của Trần Cẩm diễn ra tại Quảng Ngãi, vốn thuộc trấn Quảng Nam, thì cách hiểu duy nhất về “dinh Trấn thủ của Luân quận công Tống Phúc Thuần” được viết trong tờ Thị là Tống Phúc Thuần lúc bấy giờ đang giữ chức Trấn thủ Quảng Nam vào năm 1596 – một giả định không được bất kỳ sử liệu nào xác nhận.
****
VI. TỒN NGHI THỨ TƯ: VẤN ĐỀ KỴ HÚY CHỮ TRẦN (陳)
Như thầy Lê Minh Khiêm đã lưu ý, trong nội dung tờ Thị năm 1596, chữ Trần 陳 trong tên Trần Nghiêm được viết theo dạng kỵ húy, tức biến dạng chữ theo lệ nhà Lê (kỵ húy tên Hoàng hậu của vua Lê Thái Tổ là Trần Thị Ngọc Trần), bằng cách thêm bộ xuyên 川 và đảo thứ tự các bộ phận chữ.
Tuy nhiên, nếu đối chiếu với công trình Chữ Húy Việt Nam Qua Các Triều Đại của GS. Ngô Đức Thọ, thì có thể thấy rõ rằng lệ kiêng húy chữ viết thời Lê Sơ đã được bãi bỏ từ rất sớm. Cụ thể, GS. Ngô Đức Thọ cho biết: năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông đã “định rõ lại lệnh kiêng húy”, và kết quả khảo sát văn bia từ sau thời điểm này cho thấy không còn hiện tượng viết chữ kiêng húy. Đến năm Quang Thiệu 2 (1517), triều Lê Chiêu Tông chỉ nhắc lại điều lệnh năm 1466 và quy định rõ không phải kiêng húy khi viết và in sách (xem Chữ Húy Việt Nam Qua Các Triều Đại, tr. 72).
Như vậy, nếu từ năm 1466 lệ kiêng húy chữ viết thời Lê sơ, trong đó có chữ húy Trần 陳 đã được giải tỏa, và đến 1517 lại được xác nhận lại một lần nữa, thì không có cơ sở lịch sử nào để giải thích việc đến năm 1596, dưới thời Lê Trung Hưng, chữ Trần 陳 vẫn phải được viết theo lệ kỵ húy như trong tờ Thị.
****
VII. TỒN NGHI THỨ NĂM - CÓ HAY KHÔNG CHỨC TƯỚC CỦA CHÚA TIÊN NGUYỄN HOÀNG VẪN LÀ THÁI PHÓ ĐOAN QUẬN CÔNG VÀO NĂM 1596 NHƯ TỜ THỊ NÊU RA ?
Không như nội dung tờ Thị năm 1596, các sử sách như Toàn Thư và Cương Mục đều khẳng định, vào năm 1593, chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã không còn là Thái phó Đoan Quận Công, mà thật ra đã được phong là Thái Úy Đoan Quốc Công.
Theo Toàn Thư - “Quý Tỵ, [Quang Hưng] năm thứ 16 [1593] .. tháng 5 … Thái phó Đoan quận công Nguyễn Hoàng từ Thuận Hoá đích thân đem tướng sĩ, voi ngựa, thuyền ghe về Kinh lạy chào, đem sổ sách về bình lương, tiền, lụa, vàng bạc, châu báu, kho tàng của hai trấn Thuận Hoá và Quảng Nam dâng nộp. Tiết chế Trịnh Tùng dâng biểu tâu cho Hoàng làm Trung quân đô đốc phủ tả đô đốc chương phủ sử thái uý Đoan quốc công, sai tổng đốc tướng sĩ bản dinh và thống lĩnh 300 chiếc thuyền lớn nhỏ của thuỷ quân các xứ Nam đạo đi đánh giặc biển ở các xứ Sơn Nam và Hải Dương.”
Cũng theo Toàn Thư, thì vào tháng 3 năm 1594, có sự kiện triều đình nhà Lê gia phong Minh Khang Thái Vương làm Minh Khang Nhân Trí Vũ Trinh Hùng Lược Thái Vương. Trong sự kiện này “Đặc sai Suy trung dực vận đồng đức công thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Trung đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự thái uý Đoan quốc công thượng trụ quốc Nguyễn Hoàng mang kim sách tiến phong làm Suy trung dực vận hiệp mưu đồng đức phụ quốc kiệt tiết đôn hậu minh nghĩa công thần thượng tướng Minh Khang Nhân Trí Vũ Trinh Hùng Lược Thái Vương. Mong lâu bền mãi mãi, để cho con cháu được vinh hiển lâu dài. Hãy kính theo đó.”
[Các anh chị lưu ý, là trong phần dịch thuật Toàn Thư sự kiện tháng 3 năm 1594, các cán bộ Viện Sử Học đã dịch sai tước “Đoan Quốc Công 端國公” thành ra là “Đoan Quận Công”]
Như vậy, sử sách cho ta biết là vào năm 1593, chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã được triều phong thăng chức tước từ Thái phó Đoan Quận Công lên là Thái úy Đoan Quốc Công.
Việc tờ Thị năm 1596 vẫn ghi “Thái phó Đoan quận công” là một sai lệch nghiêm trọng về tước hiệu, khó có thể xuất hiện trong một văn bản hành chính chính thức.
****
VIII. ĐẠO SẮC PHONG NĂM 1597 LÀ MỘT ĐẠO SẮC PHONG GIẢ MẠO
Các anh chị có thể đọc về đạo sắc phong Trần Cẩm năm 1597 này tại đây >> https://baogialai.com.vn/dac-tien-phu-quoc-thuong-tuong...
Điều dễ dàng nhất cho chúng ta biết đạo sắc phong này là giả mạo, là nằm ở ngay phần nội dung đạo sắc phong năm 1597 cho chúng ta biết Trần Cẩm được ban danh hiệu Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân 特進輔國上將軍 khi nhận nhiệm vụ ở vệ Hoài Nhơn.
Nhưng danh hiệu tản quan Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân vào thời Lê Hồng Đức trở đi, nó chỉ được dành cho hàm Chánh Nhất Phẩm với chức Thái Sư, Thái Úy, và Thái Bảo mà thôi (xem Cương Mục Chính Biên Quyển XXII Tháng 9 phần Lời Chua Quan Chế). Rõ hơn nữa, Cương Mục viết như sau:
——
Lời chua-Quan chế: Theo Hồng Đức thiên nam dư hạ tập thì điển lệ về quan chế đời Hồng Đức như sau:
….
Quan tước về văn giai và võ giai:
(a) Thái sư, Thái úy, Thái bảo đều hàm Chánh Nhất Phẩm. Những người giữ chức quan này về văn giai thì thăng thụ là Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, gia thụ là Đặc Tiến Khai Phủ Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu; về võ giai thì thăng thụ là Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, gia thụ là Khai Quốc Thượng Tướng Quân.
(b) Thái tử thái sư, thái tử thái úy, thái tử thái phó, thái tử thái bảo, Tả đô đốc, Hữu đô đốc đều hàm Tòng Nhất Phẩm. Những người giữ chức quan này, về văn giai thì thăng thụ là Sùng Tiến Tuyên Lộc Đại Phu, gia thụ là Ngân Thanh Tuyên Lộc Đại Phu; về võ giai thì thăng thụ là Sùng Tiến Phụ Quốc Đại Tướng Quân, gia thụ là Sùng Tiến Trấn Quốc Thượng Tướng Quân.
(c) Thiếu sư, Thiếu úy Thiếu phó, Thiếu bảo, Đô điểm kiềm đề đốc, Đô đốc đồng tri, Đề lãnh đều hàm Chánh Nhị Phẩm. Những người giữ chức quan này về văn giai thì sơ thụ là Quang Tiến Đại Phu, thăng thụ là Quang Lượng Đại Phu, gia thụ là Quang Kiêm Đại Phu; về võ giai thì sơ thụ là Chiêu Nghị Tướng Quân, thăng thụ là Chiêu Hùng Tướng Quân, gia thụ là Chiêu Dũng Tướng Quân.
(d) Thái tử thiếu sư, Thái tử thiếu úy, Thái tử thiếu phó, Thái tử thiếu bảo, Thượng thư, Đô đốc, Thiêm sự, Tả hữu điểm kiểm, Tham đốc, Phó đề lĩnh đều hàm Tòng Nhị Phẩm. Những người giữ chức quan này, về văn giai thì sơ thụ là Phụng Trực Đại Phu, thăng thụ là Phụng Công Đại Phu, gia thụ là Phụng Huấn Đại Phu; về võ giai thì sơ thụ là Võ Huân Tướng Quân, thăng thụ là Võ Lược Tướng Quân, gia phụ là Võ Nghị Tướng Quân.
(e) Tông nhân phủ tông nhân lệnh, Lăng chánh, Đô đài ngự sử, Tả hữu thứ tử, Đô chỉ huy sứ, Đô tổng binh sứ, Tuyên uý đại sứ đều hàm Chánh Tam Phẩm. Những người giữ chức quan này, về văn giai thì sơ thụ là Thông Chương Đại Phu, thăng thụ là Thông Lễ Đại Phu, gia thụ là Thông Nghị Đại Phu; về võ giai, sơ thụ là Anh Liệt Tướng Quân, thăng thụ là Anh Túc Tướng Quân, gia thụ là Anh Vĩ Tướng Quân.
——
Nếu mãi đến năm 1608 Trần Cẩm mới được thăng lên chức Phó Đề Lãnh, thuộc hàm Tòng Nhị Phẩm, thì theo quy định quan chế, vào thời điểm này ông chỉ có thể được thăng thụ danh hiệu Võ Lược Tướng Quân, hoàn toàn chưa thể chạm tới danh hiệu Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân vốn chỉ dành cho hàm Chánh Nhất Phẩm. Như vậy thì, bằng cách nào mà hơn mười một năm trước đó, tức năm 1597, khi Trần Cẩm còn giữ chức vụ thấp hơn rất nhiều so với Phó Đề Lãnh năm 1608, ông lại có thể được triều đình ban cho danh hiệu Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân của hàm Chánh Nhất Phẩm?
Hơn nữa, theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào tháng 3 năm 1594, có sự kiện triều đình nhà Lê gia phong Minh Khang Thái Vương làm Minh Khang Nhân Trí Vũ Trinh Hùng Lược Thái Vương. Trong sự kiện này “Đặc sai Suy trung dực vận đồng đức công thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Trung đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự thái uý Đoan quốc công thượng trụ quốc Nguyễn Hoàng mang kim sách tiến phong làm Suy trung dực vận hiệp mưu đồng đức phụ quốc kiệt tiết đôn hậu minh nghĩa công thần thượng tướng Minh Khang Nhân Trí Vũ Trinh Hùng Lược Thái Vương. Mong lâu bền mãi mãi, để cho con cháu được vinh hiển lâu dài. Hãy kính theo đó.”
Có nghĩa là vào năm 1594, chúa Tiên Nguyễn Hoàng đương giữ chức Thái Úy với danh hiệu “Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân”, đúng như những gì Cương Mục chép bên trên phần (a) vậy. Điều này cho thấy, vào thời điểm ấy, danh hiệu Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân chỉ được dành cho các đại thần đứng đầu triều đình hàm Chánh Nhất Phẩm, đúng như quy định quan chế đã được chép trong Cương Mục.
Đặt trong bối cảnh đó, việc một viên quan cấp thấp thuộc hệ thống hành chính hoặc quân sự địa phương cấp vệ như Trần Cẩm – mà chỉ 3 năm sau năm 1594, tức là vào năm 1597 chưa hề đạt tới hàng đại thần – lại được phong tặng danh hiệu tối cao Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân chỉ dành cho các chức Thái sư, Thái úy, Thái bảo, là điều hoàn toàn phi lý về mặt quan chế. Từ đó, có thể đi đến kết luận hợp lý rằng đạo sắc phong đề niên hiệu Quang Hưng thứ 20 (1597) ban cho Trần Cẩm là một đạo sắc phong giả mạo, không thể được xem là tư liệu lịch sử xác thực.
Theo tôi, đạo sắc phong năm 1597 là giả mạo, thì khả năng cao tờ Thị năm 1596 – vốn liên hệ chặt chẽ về nội dung và bối cảnh – cũng là một văn bản giả mạo. Từ đó, không thể loại trừ khả năng rằng nhân vật Trần Cẩm, như được mô tả trong hệ thống văn bản hiện hành, là một nhơn vật ngụy tạo hậu kỳ.
****
IX. KẾT LUẬN - NGUY CƠ MANG TÍNH HỆ THỐNG TRONG VIỆC SỬ DỤNG TƯ LIỆU GIẢ MẠO ĐỂ XÁC LẬP GIÁ TRỊ DI TÍCH
Những gì tôi nêu ra, chúng chỉ mới dựa vào 2 cứ liệu tờ Thị năm 1596 và đạo sắc phong năm 1597 dành cho Trần Cẩm. Tôi không biết là trong tập phổ liệu “Địa Thi Trần tộc tiền hiền” do tộc họ Trần ở Mộ Đức xuất bản năm 1994, hay tại nhà thờ Trần Cẩm tại Quảng Ngãi, còn có bao nhiêu tờ thị, đạo sắc phong dành cho Trần Cẩm, mà không hiểu đã có ai nghiên cứu một cách hệ thống về việc các cứ liệu này có là các cứ liệu xác thực hay là giả mạo không.
Vấn đề được nêu ra trong trường hợp cứ liệu Trần Cẩm không nên được nhìn nhận như một hiện tượng cá biệt. Trái lại, việc xuất hiện các văn bản giả mạo – đặc biệt là các đạo sắc phong được gán niên đại thế kỷ XVI–XVII – có dấu hiệu là một hiện tượng mang tính hệ thống, có khả năng đã và đang diễn ra ở nhiều địa phương khác nhau, trong đó trường hợp Trần Cẩm chỉ là một ví dụ được nhận diện rõ ràng nhờ quá trình đối chiếu sử liệu và quan chế.
Một trường hợp tương tự đã diễn ra là đạo sắc phong năm 1596 dành cho Lương Văn Chánh tại Phú Yên, vốn cũng được lưu truyền và sử dụng như một tư liệu lịch sử xác thực (xem >> http://chimviet.free.fr/.../tranvie.../tvns065_400phuyen.htm). Điểm tương đồng đáng chú ý giữa hai trường hợp này nằm ở việc gán danh hiệu Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân cho những chức vụ hoàn toàn không tương xứng trong hệ thống quan chế thời Lê.
Như đã phân tích, theo Cương Mục, danh hiệu Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân chỉ dành cho các đại thần hàm Chánh Nhất Phẩm như Thái sư, Thái úy, Thái bảo. Trong khi đó, các chức như Tham đốc (trường hợp Lương Văn Chánh) hay Phó Đề Lãnh (trường hợp Trần Cẩm) với hàm Tòng Nhị Phẩm, chỉ có thể được thăng thụ đến mức Võ Lược Tướng Quân, tuyệt đối không thể vượt lên danh hiệu tối cao Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân dành cho hàng đại thần triều đình hàm Chánh Nhất Phẩm. Việc các đạo sắc phong giả mạo đều lặp lại cùng một mô thức sai lệch – “nâng khống” danh hiệu lên mức Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân – cho thấy đây không phải là sai sót ngẫu nhiên, mà rất có thể là một kiểu ngụy tạo có chủ ý, dựa trên sự thiếu kiểm chứng nghiêm ngặt về quan chế trong quá trình tiếp nhận tư liệu.
Từ góc độ đó, trường hợp Trần Cẩm cần được đặt trong một bức tranh rộng hơn: nếu không có một cơ chế thẩm định văn bản học chặt chẽ, việc các tư liệu giả mạo tương tự tiếp tục được sử dụng để xác lập nhân vật lịch sử, xây dựng hồ sơ di tích và tuyên truyền trong cộng đồng là một nguy cơ hoàn toàn có thật. Điều này càng cho thấy tính cấp thiết của việc rà soát lại không chỉ một hồ sơ di tích riêng lẻ, mà cả phương thức tiếp nhận và kiểm chứng tư liệu lịch sử đang được áp dụng trong công tác quản lý di sản hiện nay.
Trong trường hợp các tư liệu này nếu bị xác định là giả mạo, tôi nghĩ chúng ta cần đặt ra tiếp câu hỏi hệ quả: liệu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam có rà soát lại hồ sơ khoa học đã dùng để công nhận nhà thờ và mộ Trần Cẩm là di tích quốc gia hay không, và nếu các cứ liệu lịch sử chủ chốt không còn giá trị, việc rút lại hoặc điều chỉnh quyết định xếp hạng di tích quốc gia cho di tích này có được xem xét hay không. Tôi nghĩ hỏi tức cũng là đã trả lời vậy.
****
Mời các anh chị tham khảo.
Dĩ nhiên tôi có thể sai, nếu có, tôi mời các anh chị cứ lên tiếng để chúng ta cùng học hỏi
Regards,
Brian






https://www.facebook.com/brian.wu.121772/posts/nh%E1%BB%AFng-t%E1%BB%93n-nghi-s%E1%BB%AD-h%E1%BB%8Dc-v%C3%A0-v%C4%83n-b%E1%BA%A3n-h%E1%BB%8Dc-li%C3%AAn-quan-%C4%91%E1%BA%BFn-di-t%C3%ADch-qu%E1%BB%91c-gia-tr%E1%BA%A7n-c%E1%BA%A9m-t%E1%BA%A1i/4074859952764936/

...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.