Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách

28/11/2016

Sau lên tiếng của Đông La, thì Phạm Ngọc Dương muốn tăng mức cược lên cả triệu đô

Đọc tít của entry này thì có thể chưa rõ, cần đọc nguyên bài vừa lên của Phạm Ngọc Dương. Để trả lời bác Đông La và nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài (xem ở đây).

Chép nguyên từ Fb PND về.



---



"
Phạm Ngọc Dươngさんが写真12件を追加しました。
3時間前

Mấy hôm nay mải ngao du sơn thủy, không quan tâm đến ngoại cảm. Thế nhưng, nay vào đọc inbox, thấy bạn bè gửi cho mấy đường link chuyện Nguyễn Ngọc Hoài hỉ hả chia sẻ bài viết của thằng Đông La (Nguyễn Văn Hùng), mà thấy buồn cười. Đây là một tay mê muội ngoại cảm. Từng lên tiếng chửi bới chị Thu Uyên như thằng hàng tôm hàng cá, đếch cần biết đến lý luận gì cả. Hắn chửi cả cựu chiến binh Trần Đình Huân, trưởng ban liên lạc Mặt trận 31, người đại ghét bọn ngoại cảm rởm, lừa bịp như Nguyễn Ngọc Hoài. Thằng Đông La tự xưng nhà văn này vốn mê ngoại cảm, nên bị hoang tưởng, thần kinh không bình thường. Xin khẳng định rằng, hầu hết đám đệ tử điếu đóm, ăn theo, hoặc a dua với Hoài, kể cả nhà văn, nhà thơ, bác sĩ, cũng đều là dạng hoang tưởng. Một số là thiếu hiểu biết về lĩnh vực này, cứ lơ mơ nghe kể rồi tin.
Liếc qua FB Cựu chiến binh Trần Đình Huân, thấy vô số bài viết vạch mặt đám thần kinh hoang tưởng, trong đó có Nguyễn Ngọc Hoài. Hàng ngàn cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ bị bọn hoang tưởng này lừa vào chửi rủa, thế mà Hoài không im cái miệng vào, ẩn thân đi, còn nhơn nhơn tự đắc. Có dăm ba thằng thần kinh tung hô mà cứ tưởng mình đúng. Xem lại FB mình, thấy cả trăm, ngàn người chửi rủa. Bài báo cả vạn lượt chia sẻ chửi rủa Hoài. Thật ngu dốt và hoang tưởng, ảo tưởng về bản thân. Hoài vốn kín tiếng, nhưng giờ bệnh đã phát, nên không chữa được nữa.
Chú Trần Đình Huân có nhắn nhủ mình: Nếu nhà báo cần trợ giúp gì từ phía mặt trận 31 trong việc lột mặt nạ quân ấy bằng các phương diện: hồ sơ gốc, hồ sơ quy tập, lịch sử an táng hay kết quả giám định, thông tin hài cốt hay thực địa để thực hiện việc này thì cứ cho bên chúng tôi biết nhé! Mà sao chỉ đánh cược có 100 triệu. Có đến cả triệu USD tôi cũng làm ngay. Bời chúng tôi đã hội đủ các mánh khóe của chúng và cuối cùng đều được kiểm chứng bằng hồ sơ gốc, hồ sơ quy tập và trình tự ADN. Có lưỡi dài đến mấy đều câm họng, quỳ gối mà thôi.
Tiện đây, chia sẻ bài viết của chú Trần Đình Huân (tôi xin lược bớt một số đoạn. Ai muốn đọc đầy đủ thì vào FB của chú Huân), để mọi người hiểu thêm về ngoại cảm và đặc biệt là Nguyễn Ngọc Hoài, kẻ đang ảo tưởng về bản thân, cố đấm ăn xôi kêu lên mấy tiếng như kẻ rất kém hiểu biết:
CĂN NGUYÊN CỦA QUỐC NẠN NGOẠI CẢM Ở VIỆT NAM
Theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhân dân ta luôn được nuôi dưỡng, được che chở, được an ủi bằng một đức tin cao cả, đức tin tối thượng đã trở thành Tín ngưỡng mang tính nhân dân. Đức tin ấy đã được lưu truyền qua hàng ngàn đời nay trong đời sống tâm linh của người Việt. Việt Nam vốn là một đất nước mà ở đó đời sống tâm linh của người dân là sự tổng hòa, sự pha quyện, đồng hành giữa ba tôn giáo lớn (Tam giáo đồng nguyên) đó là Phật giáo, Nho giáo và Tín ngưỡng dân gian. Sau này có thêm Thiến chúa giáo và một số giáo phái khác du nhập từ bên ngời, cùng đồng hành trong đời sống của người Việt ta.
Điểm lại những thời kỳ thịnh vượng nhất của đất nước với những thăng trầm của lịch sử dân tộc đều gắn liền với thịnh suy của đức tin tôn giáo. Bời đó chính là nguồn sống tinh thần và chuẩn mực đạo đức xã hội. Điển hình là những giai đoạn từ thế kỷ thư XI đến nay. Qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn rồi thời Pháp thuộc đều gắn liền với hưng vượng của đức tin và các chuẩn mực của giáo lý.
Sự tồn tại và vai trò của tín ngưỡng được gắn liền với đời sống thường nhật của nhân dân từ những đơn vị hành chính nhỏ nhất là làng, ấp. Trong mỗi làng Việt cổ đều có sự hiện diện ít nhất một ngôi miếu, một ngôi đình và một ngôi chùa. Ba “ngôi” ấy luôn trường tồn từ ngàn đời cùng dân Việt.
Ngay cả khi Thực dân Pháp đô hộ đất nước ta trong hơn 80 năm, để thuận lợi cho việc cai trị, bên cạnh việc truyền bá Thiên chúa giáo, họ vẫn tôn trọng những tín ngưỡng của người dân bản địa. Cả ba “ngôi” ấy vẫn tồn tại từ trong văn hóa làng xã.
Thế rồi, đến thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc mà đỉnh cao là độc lập, tự do vào năm 1945. Khi ấy cả đức tin và niềm tin của dân ta như có thêm hơi thở mới, sức sống mới gần như là tuyệt đối, dường như là bất diệt. Khi ấy, con đường mà đất nước được lựa chọn là đi theo con đường chung của cả một cộng đồng quốc tế với hàng tỷ công dân, với bao nhiêu ước vọng tốt đẹp, với một mô hình xã hội hoàn hảo hơn bao giờ hết với một mô hình xã hội mà ở đó người dân “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Khi ấy, mục tiêu tối thượng là con đường “tiến thẳng lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa”. Khi ấy, tư tưởng, lý luận chủ nghĩa Mác – Lê nin được chọn làm đức tin tối thượng và cả dân tộc đã được hướng đạo với một lòng tin duy nhất ấy. Khi ấy, tất cả các tín ngưỡng khác đã tồn tại từ ngàn đời đều bị tẩy chay, chối bỏ, loại bỏ, cự tuyệt khỏi đời sống nhân dân để nhường chỗ cho một đức tin mới. Cũng chính vào thời điểm ấy, cả ba ngôi là Đình, Chùa và miếu trong từng làng ấp đã bị loại ra khỏi đời sống tâm linh của nhân dân và buộc phải chìm dần vào quyên lãng bằng những điều cấm kỵ, bằng những giáo huấn cho con đường mới, đức tin mới.
Bắt đầu từ những năm đầu của thập kỷ 50 của thế kỷ trước, lý tưởng mới, lý luận triết học mới theo con đường Xã hội chủ ngĩa với lý luận chủ nghĩa Mác – Lê nin đã được coi là nên tảng, là tất yếu, là duy nhất, là độc tôn và là “kim chỉ nam cho mọi hành động”. Trong những năm tháng ấy, không ít gia đình dân Việt Nam đã dỡ bỏ cả bàn thờ gia tiên để thay vào đó bằng các hình ảnh thiêng liêng của các vị lãnh tụ. Khi ấy, đền, chùa, miếu mạo đã trở thành điều kiêng kỵ, là tội lỗi và đã được sử dụng làm kho, làm trại chăn nuôi hoặc thành nơi hoang phế, ít người lai vãng. Thời kỳ ấy, bất kỳ ai theo các tín ngưỡng này đều được coi là tôi phạm nguy hiểm với tội danh “mê tín dị đoan”, tội “chống phá” và là “phản động”.
Vào những năm tháng ấy, toàn dân ta cùng với cả một cả hệ thống chính trị cùng một nửa nhân loại và đã đặt toàn bộ niềm tin và đức tin vào con đường đã chọn, làm tất cả, tập trung toàn bộ trí lực cho con đường ấy. Khi ấy lòng tin sắt đá vào chế độ xã hội tốt đẹp đã trở nên bất khả xâm phạm, đã trở thành Đức tin thay thế hoàn toàn cho đức tin vào các tín ngưỡng trước đó. Thời đó, có đủ lý luận để coi đó là đức tin hoàn hảo nhất, độc tôn nhất và là duy nhất. Có thể nói đây là thời kỳ khủng hoảng thừa của lòng tin.
Thế rồi niềm tin ấy, đức tin ấy đã bắt đầu lung lay trước sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu diễn ra vào cuối thập niên 80 – đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Tiếp theo đó là hàng loạt các nước thành viên của hệ thống tại các lục địa Phi, Mỹ La tinh và châu Á đồng loạt tan rã. Sự kiện này được coi là chấn động lớn nhất trong nền chính trị thế giới nửa cuối thế kỷ XX. Đây là thảm họa địa chính trị tồi tệ nhất thế kỷ này. Chỉ trong vòng ba năm từ 1989 đến 1992, toàn bộ các nước XHCN ở Đông Âu, Liên Xô và Mông Cổ đã sụp đổ. Các đảng nắm quyền bị giải thể, ngừng hoạt động hoặc phải đổi tên gọi. Hàng triệu đảng viên rời bỏ hàng ngũ và lý tưởng của mình. Nhiều thành quả đạt được trong thời gian dài xây dựng CNXH ở các nước này bị xóa bỏ. Hàng loạt các quốc gia trong hệ thống XHCN trên thế giới rơi vào khủng hoảng trầm trọng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Các đảng xã hội chủ nghĩa và công nhân tại các nước Tây Âu đi vào thoái trào. Quá trình “phi marxit hóa” lan rộng. Xu hướng chuyển dịch quan điểm chính trị từ tả sang hữu diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới. Đây chính là thời kỳ khủng hoảng lớn nhất về lòng tin trầm trọng nhất trong lịch sử. Khủng hoảng thiếu.
Đây chính là thời kỳ mà một nửa nhân loại rơi vào trạng thái chới với, hoang mang tột độ, bất an, mất phướng hướng. Không chỉ nhân dân mà cả hệ thống chính trị đều trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Có thể nói đó là thời kỳ hoảng loạn của mọi đức tin cho toàn bộ các quốc gia thành viên mà Việt Nam không phải là một ngoại lệ.
Chính lúc này, các thế chế chính trị trên các quốc gia này và phần lớn nhân dân quay lại với đức tin đã lãng quyên trước đó. Đã nhanh chóng xóa bỏ những điều cấm kị. Khi ấy, chủ chương này là lựa trọn duy nhất cho đức tin. Việt Nam ta đã kịp thời ban hành những chính sách cởi mở hơn về tín ngưỡng. Khi ấy, lòng dân dù vẫn đang chới với trước những thay đổi quá nhanh, nhưng cũng đã phần nào tìm được chỗ dựa, phần nào cũng tạm yên lòng trước biến cố lịch sử này.

Nhưng do bị đứt gãy, bị gián đoạn, bị quyên lãng và hơn bốn thập kỷ không thực hành, không truyền bá, không đào tạo, nên khi ấy đã mất đi tính chính thống, đã mất đi những tư duy trong sáng, không còn đầy đủ những tri thức đúng đắn, nguyên bản và tư duy triết học về bản chất của Đức tin vào các tín ngưỡng chính thống.
Cũng tại chính thời điểm này, một bộ phận không nhỏ dân chúng, nhiều cán bộ trong các hàng ngũ lãnh đạo đã tìm lại cho mình một hướng đi tư duy mới, một chỗ dựa tinh thần mới trên những gì còn xót lại của những tín ngưỡng đã tồn tại hàng ngàn năm trước đây. Nhưng cũng từ chính trong hoàn cảnh rối ren, mập mờ, trắng đen lẫn lộn này, không ít thành phần đã thay đổi quá đà, ngỡ ngàng, choáng váng trước những thay đổi chóng vánh đên bất ngờ ấy. Khi ấy, những tư duy trở nên rối loạn, tín ngưỡng trở nên mù mờ, nhưng lại được hồi sinh một cách nhanh chóng nhằm thích ứng với hoàn cảnh mới và nhu cầu chính đáng của đời sống tâm linh và tín ngưỡng của nhân dân. Chính lúc này, có một bộ phận cán bộ, trí thức và không ít các đối tượng lợi dụng hoàn cảnh bất ổn, rối ren để cầu danh, trục lợi và cũng là để tìm chỗ dựa cho lòng tin cho chính bản thân họ.
Xuất phát từ những bất an của lòng tin với những tham vọng phi tôn giáo của bộ phận này đã hướng lòng tin theo hướng có lợi cho họ, có lợi cho việc che đậy các việc làm không trong sáng của chính họ. Vậy là từ chính một bộ phận ấy, lòng tin đã bị làm sai lệch, một bộ phận không nhỏ đã đi trệch quỹ đạo, đã đánh tráo khái niệm, đã lợi dung ngay cả khoa học để phục vụ cho mục đích này. Thời kỳ mà ở đó Thần, Thánh, Ma, Quỷ được coi là đấng toàn năng.
Đây chính là thời kỳ của hỗn loạn của các hoạt động tâm linh. Con người không còn lòng tin ngay cả vào chính bản thân mình. Họ đã tìm đến với các thế lực “siêu nhiên, với các giá trị siêu thực như Thánh, Thần, ma quỷ, với linh hồn, với gia tiên mà đã bị bỏ quên gần hơn bốn thập kỷ.
Cũng thời điểm này, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã cho phép thành lập Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, rồi tiếp đó xuất hiện bộ môn “Cận tâm lý” của Tiến sỹ, thiếu tướng quân đội Nguyễn Chu Phác và cũng từ chính năm 1990 bắt đầu xuất hiện những nghiên cứu, những đề tài, những hội thảo “khoa học”, những chuyện linh hồn, ma quỷ, thần thánh được gấp gáp thiết kế, được thêu dệt, được hư cấu, được phóng tác, được xây dựng theo những kịch bản cùng những kỹ năng thổi phồng sự thật, ngụy tạo kết quả, lợi dụng hoàn cảnh, tận dụng bối cảnh để khai thác sâu hơn theo hướng mà họ đặt ra. Cũng chính từ thời điểm này, những giai thoại về khả năng ngoại cảm, khả năng “thấu thị”, khả nói nói chuyện với người âm, thậm chí cả khả năng chụp ảnh linh hồn dưới định dạnh ảnh JPG bằng điện thoại di động, rồi áp vong tìm mộ vv và vv.
Khi ấy, hầu hết các báo, đài lớn nhỏ đều rầm rộ đưa tin, ca tụng, tung hô nhà ngoại cảm huyền thoại. Từ đó, với đủ các thủ đoạn thêu dệt lợi dụng ảnh hưởng của các bộ cao cấp, các nhân vật chính yếu để tung hô khả năng siêu thực của cái gọi là ngoại cảm giống như một huyền thoại mới, một đức tin mới, một hướng đi mới để đạt được mục đích mới, đen tối này. Và cũng chính vì thế mà các cơ quan chủ quản cũng đã bị làm cho trở thành mê hoặc, không ít các nhà khoa học tầm cỡ, các lãnh đạo cao cấp bị lợi dụng và bị lừa.
Hàng trăm, hàng ngàn câu chuyện được trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người thêu dệt, giàn dựng, phát tán dưới đủ mọi phương tiện. Một sự tùy tiện quảng bá, tuyên truyền, tổ chức đủ mọi hình thức hội thảo, họp báo, thông cáo báo chí... để rồi xã hội lầm tưởng và thừa nhận cái khả năng “siêu thực”ấy. Để rồi từ cái trung tâm oan nghiệt ấy đã sản xuất ra hàng loạt thứ mập mờ chứng nhận khả năng ngoại cảm, và cũng từ đây, hàng loạt các “nhà ngoại cảm” xuất xưởng. Chúng cứ thản nhiên tung hoành, can thiệp vào các phần công việc mà chỉ cần các đối tượng này muốn tham gia. Một sự lừa dối có tổ chức. Bằng vỏ bọc khoa học, nghiên cứu với đủ loại học hàm, học vị và địa vị xã hội, các đối tượng này tìm mọi thủ đoạn lừa trên, dối dưới, lòe bịp nhân dân và thân nhân liệt sỹ.
Chúng lấy đó làm “bùa” hành liệt sỹ và thân nhân liệt sỹ, chúng lấy đó làm thẻ hành nghề. Không chỉ vậy, chúng còn phô tô công chứng, nhân bản, phân phát, bán lại, trao đổi khắp nơi như mua bán giấy phép hành nghề. Từ đây đã nảy nở hàng ngàn “nhà ngoại cảm” trên khắp xóm làng đất Việt. Cả một đội ngũ giáo sư, tiến sỹ tập trung “nghiên cứu”, “kiểm tra”, “khảo sát” và cho ra đời hàng loạt nhà ngoại cảm. Khắp nơi xuất hiện đủ loại Đồng cốt, tâm linh, tâm đức, ngoại cảm. Từ kẻ chợ cho đến những tên đánh xe bò, cô y tá, người bán cá, kẻ buôn bán động vật quý hiếm như Vũ Thị Hòa, kẻ nửa trai nửa gái như “cậu Hồng”, rồi kẻ có tiền án tiền sự, rồi còn biết bao kẻ chưa học hết lớp 5 trường làng bỗng dưng thành nhà ngoại cảm. Để rồi những Cô, những “Cậu”, những “Thánh”, những “Mẫu” xuất hiện từ khắp các hang cùng ngõ hẻm, từ khắp các làng xã mọc lên như Đỉa sau mưa tháng tư. Hàng trăm trung tâm áp vong tìm mộ, hàng ngàn “nhà ngoại cảm” cứ thả sức diễn trò trên nỗi đau của thân nhân liệt sỹ. Chúng cùng nhau, liên kết với nhau bòn rút tiền của, sức lực, lòng tin của hàng vạn gia đình thân nhân liệt sỹ. Chúng thản nhiên làm mộ giả để lòe bịp thân nhân liệt sỹ. Đau đớn nhất, chúng đã “hướng dẫn” cho thân nhân liệt sỹ đi bốc hài cốt lung tung, trên khắp các nghĩa trang theo những chỉ dẫn tùy tiện, không hiểu biết, không có cơ sở và không có bất kỳ độ chính xác nào. Để rồi hàng vạn hài cốt bị di chuyển, xáo trộn khắp nơi. Hàng vạn gia đình thân nhân liệt sỹ đã phải mang hài cốt người khác, xương súc vật, đất đen, tổ mối về thờ. Nạn bốc trộm mộ xảy ra trên khắp các nghĩa trang, sự tôn nghiêm bị hoen ố. Hài cốt liệt sỹ vốn đã được quy định là "tài sản quốc gia" cũng đã bị liên tục xâm hại từ hơn 25 năm qua. Trớ trêu thay, đau đớn thay, từ trâu, Bò, Chó, Lợn cũng hóa thành liệt sỹ, và để rồi có cả những “liệt sỹ” còn sống về ngồi bên chính ngôi mộ mang tên mình do ngoại cảm đã chỉ cho gia đình thân nhân bốc về. Chưa khi nào Đức tin và lòng tin của nhân dân bị xâm hại nặng nề hơn lúc này.
Lỗi không hẳn thuộc về các nhà nhà lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước đã ký các văn bản như những quyết định khen thưởng. Bởi đích thị đây là lỗi từ các cơ quan tham mưu, từ cấp dưới trình lên, từ các Cục, Vụ, Viện, từ các Ban, ngành cấp dưới từ các cơ quan liên quan và ngay cả không liên quan cũng đã tổng hợp, đã báo cáo, tổng kết rồi trình các văn bản, hồ sơ đề nghị lên trên theo trình từ các cấp quản lý. Cấp trên chỉ việc ký và bàn hành quyết định.
Thế nhưng, về mặt pháp lý, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về người ký văn bản, cho dù người đó là ai đi nữa.
Hiện nay, với sự kiểm chứng của khoa học hiện đại, của công nghệ tiến tiến của công nghệ sinh học, đối diện với hồ sơ gốc của liệt sỹ đã bộc lộ nguyên hình sự tùy tiện, lừa bịp của cái gọi là ngoại cảm và các đề tài nghiên cứu về khả năng này. Chúng tôi đã hội tụ đủ bằng chứng và cứ liệu kiểm chứng tính "chính xác", tính "trung thực" kết quả của tất cả các nhà ngoại cảm và các "nghiên cứu", "thực nghiệm", triển khai thực hành về đề tài này. Tất cả đều là ngụy tạo, đều là giả dối, bịp bợm. Hậu quả nặng nề của quốc nạn này làm tổn hại nghiêm trọng lòng tin của nhân dân. Làm đảo lộn, kiệt quệ đời sống của hàng triệu gia đình thân nhân liệt sỹ, xâm phạm hàng chục vạn hài cốt liệt sỹ trên hàng ngàn nghĩa trang liệt sỹ.
Vậy mà quốc nạn này vẫn chưa được dẹp bỏ, các nghiên cứu, các trung tâm áp vong và các “nhà ngoại cảm” vẫn lén lút áp vong tìm mộ, vẫn thao túng lòng tin của thân nhân liệt sỹ. Các hội thảo, thông cáo báo chí, họp báo về các nội dung này vẫn thản nhiên diễn ra.
Các cuốn sách của những kẻ hoang tưởng này vẫn được tung hô, in ấn, phát hành tùy tiện.
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, với cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Quốc hội đã nói với báo giới rằng: “Tôi rất ân hận vì khi còn làm bộ trưởng Bộ LĐ-TB-XH, tôi đã ký vào bằng khen cho những nhà ngoại cảm. Sau khi có tấm giấy đó, họ về phóng to để thành lập trung tâm tìm mộ liệt sĩ. Chưa dừng ở đó, một số nhà ngoại cảm còn nói bừa là đã gặp gỡ, thân mật với tôi để trao đổi những vấn đề liên quan đến việc tìm mộ liệt sĩ nhưng kỳ thực tôi chưa bao giờ biết mặt mũi, gặp gỡ họ lần nào cả…”.
Thứ trưởng bộ Quốc phòng, Thượng tướng Lê Hữu Đức khẳng định “Bộ Quốc phòng tìm hài cốt không bao giờ nhờ tới các nhà ngoại cảm mà căn cứ vào hồ sơ lý lịch quân nhân lưu tại đơn vị, sơ đồ mộ chí....” Bộ quốc phòng đã thông báo rằng “chỉ có bộ quốc phòng mới được làm công tác quy tập hài cốt liệt sỹ”.
Theo Đại tướng Phùng Quang Thanh “Bộ Quốc phòng không dựa vào nhà ngoại cảm tìm hài cốt liệt sĩ. Hiện có người lợi dụng ngoại cảm làm giả hài cốt trục lợi, đó là người vi phạm pháp luật. Về tâm linh chúng ta không thể chấp nhận được, phải có biện pháp xử lý hình sự những người đó”.
Theo Bộ trưởng bộ LĐTBXH Phạm Thị Hải Chuyền “Chúng tôi nghĩ phải tuyên truyền tốt hơn nữa để thân nhân các liệt sĩ cảnh giác và khi phát hiện phải xử lý thật nghiêm bất kể họ là ai. Quan điểm của chúng tôi phải sớm làm ra và xử lý nghiêm.” vv và vv.
Chừng đó chưa đủ để ngăn chặn quốc nạn nguy hiểm như thế này, chưa đủ để dăn đe tiến tới loại bỏ loại tội phạm nguy hiểm này ra khỏi đời sống nhân dân và thân nhân liệt sỹ, của nhân dân.
Nhân dân cần một lệnh cấm tuyệt đối các đối tượng này trong tất cả các công việc liên quan đến liệt sỹ, hài cốt liệt sỹ và thân nhân liệt sỹ. Nhà nước cần xóa sổ toàn bộ các trung tâm áp vong tìm mộ. Các đối tượng này phải được loại bỏ, phải được cấm hành nghề. Cần phải có những văn bản pháp quy được ban hành.
Trưởng ban liên lạc toàn quốc thân nhân liệt sỹ mặt trận 31.
Trần Đình Huân

"
https://www.facebook.com/duongvtc/posts/1173840799376086

1 nhận xét:

  1. ĐỌC một số bài viết của ÔNG HUÂN,ÔNG DƯƠNG.Nếu như không có bài của nhà viết blog ĐÔNG LA bênh vực bọn ngoại cảm thóa mạ ông DƯƠNG thì người đọc cũng chờ kết quả của cuộc thăch đấu, nhưng nay ông HÙNG,tức ĐÔNG LA xuất hiện thì nói thật với các ông chúng tôi chả lạ gì cái kiểu viết của ông LA chuyên moi móc nói sấu người hơn ông ta nhiều khi,không biết thân phân mình còn động vào cả những ông trong NGÔI ĐỀN THIÊNG HỘI NHÀ VĂN cả đời họ làm nghề tải đạo,mong các ông không nên chấp ông ta mới là người quân tử .XIN ƠN GIAO BLOG.

    Trả lờiXóa

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.