Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách 晴耕雨讀

02/10/2026

Thăng Long bát cảnh - 8 cảnh đẹp của Thăng Long thời Lê

 Đại khái như sau: 

- Ngự lâu quan đào,

- Khán Sơn tịch chiếu,

- Thanh Trì vấn tân,

- Bồ Đề viễn diễu,

- Báo Thiên hiểu chung,

- Bạch Mã sấn thị,

- Nhị Hà hải phàm,

- Lãng Bạc ngư ca.


Đây là dẫn theo bản chính thức của triều Nguyễn - chép trong Đại Nam nhất thống chí. Là cảnh đẹp của thời Lê, thời mà Hồ Tây còn được quen gọi là Lãng Bạc. "Đại Nam" của thời Nguyễn, chép vinh danh cảnh đẹp của tiền triều.

Chuyện thật, có nhiều người đã chứng kiến, là: một bác được xem là chuyên gia về chủ quyền biển đảo Việt Nam (có sách bác viết về chủ đề này, nhiều bài tạp chí nữa), nhưng không hề biết nước Việt Nam bây giờ từng có tên là "Đại Nam" ! Hi hi. Lần đầu tôi nói đến tến "Đại Nam" bác còn giật mình, không tin ! 

Ở Đại Nam ta, có nhiều chuyện tương tự. Nên chỉ nên vui vẻ với những chuyện như vậy mà thôi.

Chuyện lâu rồi. Bất giác nhớ ra.

Bởi đang thưởng ngoạn 1 trong 8 cảnh đẹp của Thăng Long. Chúng tôi đang đi thăm bến Thanh Trì.

Nhưng chú ý, đọc kĩ thêm, thì hóa ra là "bát cảnh" do người thời Thanh bình chọn ! Tạm xem như khách du lịch từ nước Thanh sang ta, bỏ phiếu bầu chọn vậy.

Ngày xưa, cơ bản phải người nước Minh rồi người nước Thanh bình chọn thì mới được xem là chuẩn ! Hệt ngày nay, Đại Nam ta vẫn phải lấy chuẩn Âu Mĩ để hành động và tư duy.

Tháng 10 năm 2026,

Giao Blog


...



---


BỔ SUNG


3. Cùng khoa thi năm 1502 đó, có cụ họ Lê ở Thanh Hóa

Tâm thư của Hội đồng gia tộc dòng họ Lê Văn gử­i Thủ tướng Chính phủ

Theo dòng sự kiện - Ngày đăng : 23:13, 29/04/2016

NHN Online - Mới đây Hội đồng gia tộc dòng họ Lê Văn đã gử­i tâm thư lên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, để trình bà y và  mong muốn Thủ tướng cứu giúp dòng tộc giữ được Аửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế, một di tích lịch sử­ văn hóa cấp tỉnh, đang có nguy cơ bị thu hồi.

Chúng tôi xin đăng tải nguyên văn bức tâm thư:

Kính gử­i à”ng Nguyễn Xuân Phúc “ Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.Hội đồng gia tộc dòng họ Lê Văn bao gồm: Chi cả họ Lê Văn (xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương); Chi 2 (xã Hoằng Trạch, huyện Hoằng Hóa; xã Аông Nam, huyện Аông Sơn); Chi 3 (xã Hoằng Tiến, huyện Hoằng Hóa); Chi 4 (xã Quảng Bình, huyện Quảng Xương) xin được khẩn thiết khiếu nại đến à”ng một việc sau đây:

I. Аử€N THửœ HOà€NG GIàP LàŠ NHà‚N TẾ Và€ VIử†C GIẢI QUYẾT Ở TửˆNH THANH Hà“A

1. Tộc họ Lê Văn chúng tôi có cụ tổ là  Hoà ng giáp (Tiến sĩ) Lê Nhân Tế, quê ở là ng Аại Nhuệ (nay là  xã Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa) đỗ Аệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502), khi mới 23 tuổi; là m quan đến chức Аông các hiệu thư (hà m chánh lục phẩm); tên ông được khắc ở bia Văn miếu Quốc Tử­ Giám Hà  Nội. à”ng là  một trong 48 vị đại khoa của 700 năm đất học Hoằng Hóa thời phong kiến.

Bức tâm thư dòng họ Lê Văn gử­i lên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc 

Cách đây hơn 200 năm, do mưu sinh cuộc sống chi cả họ Lê Văn (trực hệ) với cụ Lê Nhân Tế đã chuyển cư đến vùng đất ven biển, nay thuộc là ng Yên Nam, xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương. Khi đi dòng họ chúng tôi mang theo cả bà n thử, bát hương, gia phả của họ tộc, đã lập nhà  thử tộc họ để thử cúng tổ tiên và  cụ Lê Nhân Tế. Vì có công lao đối với nhân dân và  đất nước nên cụ còn được phối thử ở nghè là ng Yên Nam. Аến cuối năm 1999, đầu năm 2000, để tôn vinh cụ, các chi họ đã thống nhất tách nơi thử tự cụ Lê Nhân Tế thà nh một đửn thử riêng; cách nhà  thử họ khoảng chừng hơn 100m. Аây cũng là  ngôi đửn thử duy nhất thử cụ ở tỉnh Thanh Hóa cũng như cả nước.

2. Аể phát huy truyửn thống hiếu học của quê hương cũng như tri ân công đức của cụ Lê Nhân Tế, ngà y 31/1/2013 Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã ký quyết định số 414/QА-UBND xếp hạng đửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế là  di tích lịch sử­ cấp Tỉnh.

Năm 2014, nhà  thử họ Viên Аình ở là ng Yên Nam (cùng địa điểm với đửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế) đử nghị xếp hạng cấp Tỉnh nhưng vì nhân vật của dòng họ không có nhiửu công lao, nên nhà  thử họ Viên Аình không được Sở Văn hóa, Thể thao và  Du lịch thông qua để đử nghị Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định xếp hạng. Xuất phát từ vấn đử nà y, ông Viên Аình Xương và  một số người trong dòng họ Viên Аình đã viết đơn kiện gử­i tất cả các cơ quan chức năng trong tỉnh tố cáo đửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế là  đửn thử giả. Bên cạnh dòng họ Viên Аình còn có một số cán bộ của Ngà nh Văn hóa, Thể thao và  Du lịch Thanh Hóa có ý đồ cá nhân, đã tiếp sức nên vụ việc đã trở nên vô cùng phức tạp từ tỉnh đến huyện và  là ng xã nơi dòng tộc chúng tôi sinh sống trong thời gian gần hai năm rườ¡i trở lại đây.

3. Аể trả lời đơn khiếu kiện của dòng họ Viên Аình, Sở Văn hóa, Thể thao và  Du lịch Thanh Hóa đã cho kiểm tra lại trình tự, thủ tục, hồ sơ xếp hạng di tích và  đã có công văn số 173/SVHTTDL-DSVH ngà y 25/1/2014 gử­i ông Viên Аình Xương và  dòng họ Viên Аình, đã khằng định Аửn thử Hoà ng giáp Lê  Nhân Tế được xếp hạng là  di tích lịch sử­ văn hóa cấp Tỉnh, đảm bảo các tiêu chí quy định của Luật Di sản Văn hóa (à”ng Phạm Duy Phương - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và  Du lịch ký). Cùng nội dung nà y, tại công văn số 183/SVHTTDL-DSVH, ngà y 27/1/2014, ông Nguyễn Văn Tuấn - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và  Du lịch ký báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh tiếp tục khẳng định Аửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế được xếp hạng là  di tích LSVH cấp Tỉnh - đảm bảo các tiêu chí quy định của Luật Di sản Văn hóa.

4. Sau đó dòng họ Viên Аình tiếp tục khiếu kiện, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và  Du lịch Thanh Hóa đã thà nh lập Аoà n Thanh tra vụ việc. Ngà y 5/6/2014, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và  Du lịch Thanh Hóa lại kết luận Thanh tra số 947/KL-SVHTTDL với nội dung "Аử nghị UBND tỉnh thu hồi, hủy bử Quyết định xếp hạng di tích LSVH đửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế, xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương, do hồ sơ di tích không đảm bảo tính pháp lý, chưa có cơ sở khoa học; đồng thời đưa Аửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế và o danh mục di tích để kiểm kê bảo vệ.

5. Từ việc không nhất quán nêu trên của Sở Văn hóa, Thể thao và  Du lịch, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã giao cho Thanh tra tỉnh thanh tra vụ việc. Tại kết luận thanh tra số 393/BC-TTr ngà y 15/4/2015 vử việc báo cáo kết quả thanh tra trình tự, thủ tục lập hồ sơ đử nghị xếp hạng di tích lịch cấp tỉnh Аửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế đã khẳng định:

"UBND tỉnh bà n hà nh Quyết định số 414/QА-UBND ngà y 31/1/2013 vử việc xếp hạng di tích lịch sử­ - văn hóa cấp Tỉnh Аửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế là  có căn cứ và  đúng quy định của Pháp luật.

- Khiếu nại của một số công dân thôn 8, xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương vử việc đử nghị hủy Quyết định số 414/QА-UBND ngà y 31/1/2013 vử việc xếp hạng di tích lịch sử­ - văn hóa cấp Tỉnh Аửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế là  không có cơ sở".

II. à KIẾN CỦA CàC CÆ  QUAN CHUYàŠN Mà”N Vử€ Hử’ SÆ  DI TàCH Аử€N THửœ HOà€NG GIàP LàŠ NHà‚N TẾ:

 1. Các ý kiến thẩm định tư liệu lịch sử­.

-Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã có Biên bản họp Hội đồng thẩm định ngà y 11/4/2014, thẩm định gia phả, thần tích, sắc phong liên quan đến dòng họ Lê và  nhân vật Lê Nhân Tế.

-Viện Sử­ học Việt Nam có Công văn số 64/VSH-LSАP ngà y 30/5/2014 vử việc thẩm định tư liệu lịch sử­ Аửn thử Lê Nhân Tế và  kết luận "Viện Sử­ học khẳng định: Các chi họ Lê Văn ở Quảng Hải (Quảng Xương); chi họ Lê ở Hoằng Trạch, Hoằng Tiến (Hoằng Hóa); chi họ Lê Аình ở Thọ Xuân... đửu có mối quan hệ huyết thống từ lâu đời và  đửu có nguồn gốc tự dòng họ Lê của Hoà ng giáp Lê Nhân Tế ở xã Аại Nhuệ (Hoằng Thắng). Trong các chi họ kể trên, chi Lê Văn ở Quảng Hải là  chi trưởng, chi Hoằng Trạch là  chi hai và  chi Hoằng Tiến là  chi ba; chi Lê Аình (Thọ Xuân) được tách ra từ chi Hoằng Trạch.

Việc dòng họ Lê và  chi họ Lê Văn ở là ng Yên Nam, xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương tôn vinh lập đửn thử riêng Hoà ng giáp Lê Nhân Tế cũng như việc UBND tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định công nhận đửn thử Lê Nhân Tế là  di tích lịch sử­ văn hóa cấp Tỉnh đã thể hiện cao nhất sự tri ân của các thế hệ con cháu đối với tiửn nhân."

2. Các ý kiến thẩm định hồ sơ di tích:

- Viện Sử­ học Việt Nam có Công văn số 138/VSH ngà y 20/10/2014, thẩm định Lý lịch di tích, trong đó kết luận: Аây là  một bản lý lịch được xây dựng công phu, nghiêm túc, thể hiện đúng theo quy định của Luật di sản văn hóa và  Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngà y 14/7/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và  Du lịch. Nội dung Lý lịch di tích đạt chất lượng khoa học. Nhận xét, đánh giá vử nhân vật, mối quan hệ huyết thống của các chi họ Lê (hậu duệ Hoà ng giáp Lê Nhân Tế) đửu mang tính khách quan, trung thực và  có cơ sở khoa học.

-Hội Khoa học lịch sử­ Việt Nam có Công văn số 77/HSH ngà y 21/10/2014 khẳng định: đánh giá tốt nội dung hồ sơ di tích, hồ sơ có đủ cơ sở để đưa và o quy trình thủ tục công nhận di tích lịch sử­, có chất lượng khoa học và  pháp lý theo đúng tinh thần của Luật di sản văn hóa.

-Hội Khoa học Lịch sử­ Thanh Hóa có Công văn số 22/HKHLSTH ngà y 22/10/2014, thẩm định Tập lý lịch di tích đửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế đã được sử­a chữa, bổ sung một cách đầy đủ, chi tiết theo yêu cầu đặt ra; Với tất cả những lý giải và  tư liệu đã sử­ dụng, bổ sung, tập lý lịch thực sự là  một tập lý lịch có chất lượng khoa học và  pháp lý theo đúng tinh thần của Luật Di sản Văn hóa.

-Ban Nghiên cứu và  Biên soạn Lịch sử­ Thanh Hóa có công văn số 52/NCLS-THngà y 22/10/2014, nhận xét Lý lịch di tích đửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế đảm bảo tính khoa học cần có của một số hồ sơ từng xét. Hồ sơ đã phân tích rõ mối quan hệ  lịch sử­ giữa dòng họ Lê từ Hoằng Thắng (Hoằng Hóa) sang Quảng Hải (Quảng Xương), đặc biệt sự thử cúng của dòng họ Lê Văn ở Quảng Hải vử cụ Lê Nhân Tế là  phù hợp, có sức thuyết phục; đây là  lý lịch đảm bảo tính khoa học.

III. à KIẾN CỦA Bử˜ VĐ‚N Hà“A THử‚ THAO Và€ DU LửŠCH Vử€ VIử†C XẾP HẠNG Аử€N THửœ LàŠ NHà‚N TẾ

1. Ngà y 30/8/2014, Cục Di sản văn hóa đã cử­ cán bộ tham gia Hội nghị liên ngà nh do Sở Văn hóa, Thể thao và  Du lịch Thanh Hóa tổ chức. à kiến của Cục Di sản văn hóa được ghi lại trong Biên bản: Quy trình xếp hạng di tích của Sở VHTTDL tỉnh Thanh Hóa là  chặt chẽ, đúng quy định.

2. Ngà y 08/10/2015 Bộ Văn hóa, Thể thao và  Du lịch có Công văn số 4160/BVHTTDL-TTr do Chánh Thanh tra Vũ Xuân Thà nh ký, nêu: Bộ Văn hóa, Thể thao và  Du lịch thấy rằng công trình Аửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế được xây dựng trên địa điểm ở khu đất xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương hiện nay:

- Không phải là  nơi Hoà ng giáp Lê Nhân Tế sinh ra và  lớn lên;

- Không phải là  nơi mất hoặc an táng Hoà ng giáp Lê Nhân Tế;

- Không phải là  nơi Hoà ng giáp Lê Nhân Tế đã từng là m việc hoặc là  nơi diễn ra các sự kiện quan trọng gắn với cuộc đời hoạt động của ông.

Vì vậy, đửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế ở xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương (được UBND tỉnh Thanh Hóa xếp hạng cấp Tỉnh tại Quyết định số 414/QА-UBND ngà y 31/01/2013) không phải là  địa danh lịch sử­ gắn với thân thế và  sự nghiệp của Hoà ng giáp Lê Nhân Tế. 

3. Ngà y 5/4/2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và  Du lịch đã có công văn số 1145/BVHTTDL-TTr do Thứ trưởng Аặng Thị Bích Liên ký nêu:Các di tích lưu niệm danh nhân đửu gắn với nguyên tắc có mối liên hệ trực tiếp đến danh nhân lịch sử­ như: Аửn thử và  Nhà  thử tại quê hương, nơi đặt phần mộ, nơi đóng quân, là m việc, nơi mất.... Vì vậy, Аửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế được con cháu xây dựng tại địa điểm xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương năm 1999 “ 2000 là  nơi con cháu di cư đến không liên quan trực tiếp đến nhân vật.Từ căn cứ nà y Bộ Văn hóa, Thể thao và  Du lịch đã Аử nghị UBND tỉnh Thanh Hóa thu hồi Quyết định xếp hạng di tích lịch sử­ văn hóa đửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế, xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương.

Thực tế tại quê gốc của Hoà ng giáp Lê Nhân Tế ở là ng Аại Nhuệ (nay là  xã Hoằng Thắng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa), đã hơn 200 năm nay không còn con cháu sinh sống; không còn đất để lập đửn thử ông và  cũng không có ai ở đây để hương khói, thử phụng. Các chi của họ Lê Văn đã di cư đến các miửn đất khác nhau của tỉnh Thanh Hóa để sinh sống như Chi cả ở xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương; Chi 2 ở xã Hoằng Trạch, huyện Hoằng Hóa; xã Аông Nam, huyện Аông Sơn; Chi 3 ở xã Hoằng Tiến, huyện Hoằng Hóa; Chi 4 ở xã Quảng Bình, huyện Quảng Xương. Theo truyửn thống của người Việt Nam con cháu ở đâu thì thử phụng tổ tiên ở đó; và o những ngà y tết, ngà y giỗ, tất cả con cháu các chi trong toà n tỉnh đửu vử xã Quảng Hải, huyện Quảng Xương để cúng tế. Mặt khác, Luật Di sản Văn hóa cũng không quy định các di tích lưu niệm danh nhân phải "gắn vớinguyên tắc có mối liên hệ trực tiếp đến danh nhân lịch sử­ như: Аửn thử và  Nhà  thử tại quê hương, nơi đặt phần mộ, nơi đóng quân, là m việc, nơi mất... Ví dụ như Tiến sĩ Nguyễn Phục quê ở tỉnh Hải Dương, nhưng ở tỉnh Thanh Hóa có 59 nơi thử; Tô Hiến Thà nh quê ở Hà  Tây cũ, có 72 nơi thử ở tỉnh Thanh Hóa, trong số đó có nhiửu di tích đã được xếp hạng cấp Tỉnh và  cấp Quốc gia; Nhân vật lịch sử­ Lê Lai, Lê Lâm, Lê Niệm quê ở là ng Dựng Tú, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa nhưng lại được thử ở xã Hoằng Hải, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cũng đã được xếp hạng là  di tích cấp Quốc gia;... Ngoà i ra, còn có hà ng trăm di tích giống như vậy ở trên địa bà n tỉnh.

Như vậy, hai Công văn nêu trên của Bộ Văn hóa, Thể thao và  Du lịch do Chánh Thanh tra Vũ Xuân Thà nh ký thay Bộ Trưởng và  bà  Đặng Thị Bích Liên ký thay Bộ trưởng, trả lời tỉnh Thanh Hóa vử việc xếp hạng di tích đửn thử Hoà ng giáp Lê Nhân Tế đã không căn cứ và o quy định của Luật Di sản Văn hóa (điửu 28 và  điửu 29) và  các Nghị định hướng dẫn thi hà nh. Dòng họ chúng tôi thiết nghĩ: Việc là m nà y của Bộ Văn hóa, Thể thao và  Du lịch đã phủ nhận tính đúng đắn của Pháp luật; phủ nhận thực tế lịch sử­; phủ nhận những ý kiến thẩm định, nhận xét hồ sơ di tích của các tổ chức khoa học từ Trung ương đến địa phương; đã gây mất niửm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyửn; phủ nhận đời sống tâm linh thiêng liêng của dòng tộc; xúc phạm nghiêm trọng đến thanh danh của người đã khuất; tạo nên nỗi bất bình của toà n thể con cháu trong dòng tộc và  vi phạm nghiêm trọng đến đạo đức truyửn thống của người Việt Nam là  uống nước nhớ nguồn và  tri ân những người có công với nhân dân, đất nước.

Với những lý do nêu trên, dòng họ Lê Văn chúng tôi khẩn thiết kính đử nghị Thủ tướng cho xem xét lại vụ việc và  rất mong được giải quyết đúng đắn trên cơ sở bình đẳng, khách quan, dân chủ theo quy định của Pháp luật. Аấy là  mong ước nhử để ở nơi suối và ng cụ Lê Nhân Tế được yên lòng và  cũng là  cứu lấy danh dự của dòng tộc chúng tôi.

Một lần nữa dòng tộc chúng tôi kính chúc Thủ tướng mạnh khửe để lãnh đạo đất nước phát triển phồn vinh, dân già u, nước mạnh và  trân trọng đử nghị.

https://nguoihanoi.vn/tam-thu-cua-hoi-dong-gia-toc-dong-ho-le-van-gu-i-thu-tuong-chinh-phu-37246.html



2. Cũng khoa thi năm 1502 đó có cụ Trần Dực ở xứ Nghệ


1. Khoa thi năm 1502, có cụ Lê Sạn người Vạn Phúc đỗ thứ 2 (Bảng Nhãn):

Làng Vạn Phúc giữ gìn cốt cách văn hóa trong dòng chảy hiện đại

PV • 14:53 16/06/2026

Bước chân vào làng Vạn Phúc, người ta dễ dàng cảm nhận sự giao thoa giữa quá khứ và hiện tại. Những mái đình, ngôi chùa cổ kính, những câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác và nhịp sống bình dị của người dân đã tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng, nơi ký ức của vùng quê Bắc Bộ vẫn được nâng niu, gìn giữ qua năm tháng.

Vạn Phúc - ngôi làng cổ nằm bên hữu ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Nam Phù, thành phố Hà Nội không chỉ mang trong mình bề dày truyền thống lịch sử, mà còn hiện hữu như một không gian làng quê Bắc Bộ vừa mang hơi thở hiện đại, vừa đậm sắc thái văn hóa cổ truyền. Nơi đây, con người đã vượt lên khỏi ý nghĩa sinh kế, trở thành mạch nguồn gìn giữ văn hóa bền bỉ, kết nối ký ức ngàn năm với nhịp sống đương đại.

Ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn văn hóa

Muốn hiểu về Vạn Phúc hôm nay, phải ngược dòng ký ức trở về với sông Hồng, dòng sông đã bồi đắp nên không gian sinh tồn, đồng thời cũng là chứng nhân của toàn bộ tiến trình hình thành làng quê ven bờ.

Làng Vạn Phúc trước sáp nhập gồm bốn thôn: Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3, Thôn 4 của xã Vạn Phúc (huyện Thanh Trì), Nay là Vạn Phúc thuộc xã Nam Phù. Đầu thế kỷ XIX là “Vạn Phúc châu” thuộc tổng Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (năm 1831 đổi làm tỉnh Hà Nội, năm 1904 thuộc tỉnh Hà Đông). Sau Cách mạng, làng nhập với làng Mỹ Ả thành xã mang tên Vạn Phúc.

Vạn Phúc nằm ven sông Hồng, có vùng bãi màu mỡ nên được con người khai phá từ rất sớm. Làng thờ vị thần tên là Uy Mang (hay Hồng Mang), theo thần phả là con trai của Vua Hùng Nghị Vương và là anh em sinh đôi với ngài Hồng Bác. Ông là vị tướng văn võ song toàn, có công lớn giúp vua cha giữ yên bờ cõi, sau khi qua đời được phong Phúc thần và được 27 làng xã phụng thờ. Đình Thượng thờ vị thần hoàng làng là Linh thần. Hiện nay, Đình còn lưu giữ sắc phong thành Hoàng làng của Vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng ban cho thần Uy Mang.

a1.png
Bàn thờ Thần Hoàng làng Uy Mang nơi lưu giữ giá trị tâm linh và truyền thống văn hóa của cộng đồng dân cư địa phương.

Làng Vạn Phúc in đậm nhiều dấu ấn của lịch sử đất nước. Tháng Giêng năm Giáp Tý (544), Lý Bí (Lý Bôn) sau khi khởi binh đánh đuổi được Thứ sử Tiêu Tư của nhà Lương đã xưng vua, đặt tên nước là Vạn Xuân, niên hiệu là Thiên Đức, dựng điện Vạn Xuân. Theo tương truyền thì điện Vạn Xuân ở bên hồ Vạn Xuân (xưa gọi là Vạn Xoan), chính là đầm Vạn Phúc bên bờ sông Hồng.

Năm Bính Ngọ (1426), nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi, Nguyễn Trãi chỉ huy đóng quân ở Tây Phù Liệt (xã Đông Phù ngày nay). Hai ông đã cho tôn đê Vạn Xuân, biến đoạn đê này thành chiến lũy quan trọng để bao vây thành Đông Quan của giặc Minh.

Tháng Sáu, năm Bính Ngọ (1786), quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tấn công ra Bắc diệt nhà Trịnh. Chúa Trịnh đã bố trí một lực lượng lớn quân do tướng Hoàng Phùng Cơ chỉ huy, đóng ở đầm Vạn Phúc để ngăn chặn. Song, quân chúa Trịnh bị đánh tan ngay từ trận đầu. Sáu người con của Hoàng Phùng Cơ chết trong trận này. Cơ và 2 người con còn lại cướp đường chạy về Thăng Long.

Giếng đầm - nơi được nhân dân địa phương cho rằng đây là hồ Vạn Xuân hay còn gọi Đầm Vạn Xuân

Theo truyền tụng dân gian, vùng đất này gắn với ông Địch Vạn. Lúc đó, bên bờ sông Hồng đối diện làng Vạn Phúc có cây gỗ lớn và quý, vua sai nhiều quân lính đem về nhưng không thể khiêng nổi, nhà vua đã ra lệnh sang làng Vạn Phúc tìm người vác gỗ, Ông Địch Vạn đã nhận vác. Vua xuống chiếu: “Nếu vác được vua thưởng công danh, ban phẩm hàm, vàng bạc”. Ông Địch Vạn không giám nhận mà chỉ xin đất vì dân làng còn nghèo. Vua đồng ý “Nếu nhà ngươi vác được cây gỗ đến đâu trẫm cho kẻ bản đồ cấp đất đến đó”. Ông đã vác được cây gỗ. Vua giữ đúng lời hứa ban cho dải đất dài, ông đã hiến số đất chia cho dân làng gọi là bãi Thiên Cương Lưu Địa Tích. Hiện tại nhân dân vẫn sang canh tác và sản xuất trên mảnh đất này.

Bàn thờ ông Địch Vạn - người có công vận chuyển gỗ quý được nhân dân tôn thờ tại Đình chính làng Vạn Phúc.

Làng Vạn Phúc còn là chứng danh cho mối tình giao hảo, tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau của nhân dân các làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tương truyền rằng: thời nhà Lý, đoạn đê Đỉnh Nhĩ ở phía Nam kinh thành mười ba năm liền đều bị vỡ. Nhà vua truyền lập đàn cầu thiên địa phù giúp việc đắp đê để trăm họ khỏi lầm than. Tuy vậy, công việc đắp đê qua nhiều năm vẫn không thuận, vùng phía Nam kinh thành vẫn thường bị lụt lội. Sau đó vua nằm mộng có Thần báo về: Muốn đắp được đê phải hạ chiếu cho dân Địch Vạn (tức xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì) mới thành công. Rồi vua hạ chiếu giao cho làng Vạn Phúc việc đắp đê. Làng Vạn Phúc đắp đê thành công, chiến thắng được lũ. Khi việc đắp đê xong xuôi, dân Vạn Phúc mới biết đoạn đê Đỉnh Nhĩ này thuộc địa phận do làng Nga My đảm trách (thuộc xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai, Hà Nội). Khi dân Nga My kéo đến đắp đê thì mọi việc đã hoàn tất. Dân làng Nga My cảm tạ ân nghĩa sâu nặng của dân làng Vạn Phúc đã tâu lên nhà vua xin cho hai làng kết nghĩa giao hảo để tiếp tục giúp đỡ lẫn nhau những lúc hoạn nạn, khó khăn. Đến nay, trải qua nhiều biến cố lịch sử nhưng hai làng vẫn giữ trọn nghĩa, vẹn tình như anh em.

Làng Vạn Phúc từ lâu cũng được biết đến là vùng đất nổi tiếng với truyền thống học tập, khoa bảng, nơi khơi nguồn các bậc danh khoa như: Lê Sạn đỗ Bảng nhãn khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống đời Vua Lê Hiến Tông (năm 1502), khi ông mới 26 tuổi đã làm quan đến Thượng thư bộ Lại, từng đi sứ sang nhà Minh; hay ông Nguyễn Tống đỗ cử nhân tại trường thi Hà Nội năm Tân Sửu niên hiệu Thiệu Trị 1841.

Khi nhắc đến Vạn Phúc, không thể không nhắc đến chùa Tiên Linh, tên Nôm là chùa Trắng hay chùa Bụt Mọc. Tục truyền, vào thời Vua Lý Thái Tổ (1009 - 1028), có một năm đê vỡ, dân làng thấy một pho tượng trôi trên đầm Vạn Xuân, liền làm lễ khấn trời Phật; lễ xong thì tượng dừng trôi. Vua biết tin liền sức cho dân làng dựng am thờ và cho đặt tên chùa là Bụt Mọc, song dân làng thường quen gọi là chùa Trắng. Sau đó, chùa được mở mang khang trang, nhưng do chiến tranh và thiên tai nên chùa bị xuống cấp, đổ nát dân, hiện chỉ còn hậu cung và trụ cổng chùa.

Ngoài chùa Tiên Linh, chùa Chung Linh Tự và Đình làng Vạn Phúc cũng là những di tích lịch sử nổi tiếng đã được Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử - văn hóa vào năm 1992.

Quyết định công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia Đình Chùa Vạn Phúc.

Không chỉ dừng lại ở vai trò là một làng quê nông nghiệp, Vạn Phúc còn giữ vị trí quan trọng trong các giai đoạn lịch sử của dân tộc. Từ thời Lam Sơn với chiến lũy Vạn Xuân, đến thời Tây Sơn với hành trình tiến quân ra Bắc, rồi trong kháng chiến chống Pháp, chính Làng Vạn Phúc là nơi che chở, liên lạc và hoạt động cách mạng. Làng Vạn Phúc từ lâu đã được biết đến là cái nôi sản sinh ra những người con ưu tú sẵn sàng hiến dâng xương máu vì độc lập dân tộc.

Nghĩa trang liệt sỹ Vạn Phúc - nơi yên nghỉ của các anh hùng liệt sỹ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.

Gìn giữ hồn cốt văn hóa trong dòng chảy phát triển hiện đại

Nếu lịch sử là phần gốc rễ làm nên chiều sâu của Vạn Phúc thì văn hóa chính là linh hồn tạo nên sức sống trường tồn của ngôi làng. Trải qua biến động của dòng chảy thời gian, Vạn Phúc vẫn bảo lưu được một không gian văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, nơi đình, chùa, đền... cùng hiện diện trong sự hài hòa, phản ánh đời sống tinh thần phong phú và tinh thần đoàn kết của cộng đồng cư dân ven sông Hồng.

Mỗi công trình không đơn thuần là một di tích kiến trúc mà là một “bảo tàng ký ức” lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa của làng quê Bắc Bộ. Đình làng với những sắc phong cổ từ thời Lê; chùa Vạn Phúc với chuông đồng, bia đá và những hiện vật quý có niên đại hàng trăm năm; chùa Tiên Linh với truyền thuyết Bụt Mọc và những dấu ấn cách mạng... tất cả hợp thành một quần thể di sản giàu giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh.

Hình ảnh cổng làng Vạn Phúc trước khi tu bổ
Chiếc chuông cổ – dấu ấn linh thiêng gắn với đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng làng xã.
a4.jpg
Bia đá cổ – hiện vật ghi dấu lịch sử, lưu giữ những giá trị văn hóa và ký ức truyền đời của người dân.

Song có lẽ, điều làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của Vạn Phúc không chỉ nằm ở những di sản hữu hình mà còn ở những giá trị văn hóa phi vật thể vẫn đang được cộng đồng gìn giữ nguyên vẹn qua nhiều thế hệ.

Mỗi độ xuân về, khi hơi lạnh cuối mùa còn vương trên mặt sông Hồng, cả làng lại náo nức bước vào mùa lễ hội truyền thống. Trong sắc cờ ngũ sắc rực rỡ, trong tiếng trống hội ngân vang khắp xóm làng, những nghi lễ cổ truyền được tái hiện với sự thành kính và trang nghiêm.

a5.jpg
Lễ hội truyền thống làng Vạn phúc vào ngày mồng 5 và mồng 6 tháng Giêng Âm lịch.

Đặc sắc nhất là nghi thức rước cấp thủy, một nghi lễ mang đậm dấu ấn văn minh lúa nước của cư dân đồng bằng Bắc Bộ.

Đoàn rước xuống thuyền ra giữa dòng sông lấy nước thiêng về để Mộc dục thánh tượng nhưng cũng bao hàm ý nghĩa là tạ Thủy Thần Hà Bá cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, bão tố thuyên quy, thủy triều bình ổn. Hành trình ấy tưởng chừng giản dị nhưng lại chất chứa trong đó triết lý sống được gìn giữ suốt hàng nghìn năm: Sự tôn kính đối với thiên nhiên, lòng biết ơn đối với nguồn nước và khát vọng về một cuộc sống no đủ, bình yên.

Đoàn thuyền ra giữa sông lấy nước - hình ảnh gợi nhịp sống lao động gắn bó với sông nước, phản ánh tập quán sinh hoạt và sinh kế truyền thống của cư dân ven sông.
Đoàn thuyền xuôi ra giữa dòng sông lấy nước – khoảnh khắc gắn với nhịp sống mưu sinh truyền thống, thể hiện sự hòa quyện giữa con người và không gian sông nước.

Giữa không gian mênh mang của sông nước, khi tiếng chiêng trống hòa cùng tiếng sóng, khi con thuyền rước nước lướt nhẹ trên dòng sông đỏ nặng phù sa, người ta có cảm giác như quá khứ và hiện tại đang gặp nhau trong cùng một khoảnh khắc thiêng liêng. Đó không chỉ là một nghi lễ. Đó là ký ức tập thể của cả một cộng đồng được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Dù cuộc sống hiện đại có nhiều thay đổi, người Vạn Phúc vẫn kiên tâm gìn giữ truyền thống, văn hóa quê hương đã tồn tại hàng ngàn năm tuổi và coi đó là sứ mệnh tự thân của mỗi người dân làng Vạn Phúc hôm nay./.

https://nguoihanoi.vn/lang-van-phuc-giu-gin-cot-cach-van-hoa-trong-dong-chay-hien-dai-101259.html

...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.