Bài của học giả Lê Hồng Khánh (nguyên Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi).
Bản word ở đây, lấy từ Fb Lê Hồng Khánh.
Tháng 5 năm 2026,
Giao Blog
---
MẤY VẤN ĐỀ VỀ TẬP SÁCH PHỦ TẬP QUẢNG NAM KÝ SỰ
Lê Hồng Khánh
(Bài trên tạp chí Thế Giới Di Sản, số 5-2022)
“Tư liệu, thư tịch và di tích về nhân vật lịch sử Bùi Tá Hán (1496 - 1568)” là tên một cuốn sách do Sở Văn hoá Thông tin Quảng Ngãi xuất bản năm 1996. Dù chưa đầy 100 trang (khổ 13cm x 19cm), nhưng từ khi xuất bản, tác phẩm biên khảo này được khá nhiều nhà nghiên cứu về vùng đất Quảng Nam xưa (nay là TP Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) sử dụng như một tài liệu quan trọng.
Cuốn sách tập hợp nhiều tư liệu, giới thiệu nhiều di tích, nhân vật liên quan đến Bùi Tá Hán, trong đó có những tư liệu quý như phần sao chụp, phiên âm, dịch nghĩa 10 sắc phong của các triều đại phong kiến Việt Nam cho Trấn Quận công Bùi Tá Hán và phần giới thiệu thơ điếu, liễn đối của các bậc túc nho (Trương Quốc Dụng, Lưu Đình Luyện...) còn lưu tại đền thờ. Đặc biệt, các nhà biên soạn đã dành 28 trang để giới thiệu phiên âm, dịch nghĩa tập sách chữ Hán có tựa là “Phủ tập Quảng Nam ký sự” (PTQNKS) của tác giả Mai Thị (một người họ Mai). Theo lời ông Lê Viết Hoà, người chép lại PTQNKS lần thứ 2, lai lịch cuốn sách này như sau:
Vào khoảng năm Chánh Trị (1558-1571) nhà Lê, có người họ Mai biên soạn sách này. Đến năm Minh Mạng thứ 5 (1824), người thư lại ở phiên ty Quảng Ngãi là Lê Đăng Hiển chép lại, vì sách gốc “bị nhiều mối mọt cắn phá hư rách nhiều chỗ”. Gần 100 năm sau, cuốn sách chép lại “giấy đã cũ và rách nát”, nên được ông Lê Viết Hoà (cháu, gọi ông Lê Đăng Hiển là ông cố) chép lại một lần nữa vào năm 1914. Văn bản PTQNKS được ông Lê Viết Hoà chép lại được những người biên soạn “Tư liệu, thư tịch và di tích về nhân vật lịch sử Bùi Tá Hán (1496 - 1568)” đem ra giới thiệu, phiên âm và dịch ra quốc ngữ.
Tác giả bài viết này xin phép nêu một số điểm mà theo đó khó có thể khẳng định xuất xứ rõ ràng của PTQNKS, như sau:
1) Lá thư của ai?
- Cuối PTQNKS chép một bức thư nguyên văn bằng chữ Hán, dòng đầu (phiên âm): “Phụ quốc chính Nguyễn trí thư ư Bắc quân đô đốc Bùi công đài giám” (Quan đại thần phụ quốc họ Nguyễn gởi thư đến ngài Bắc quân đô đốc Bùi Tá Hán), và dòng cuối “Nguyên Hoà thập tứ niên, chánh ngoạt, trấp nhì nhật” (làm ngày 22 tháng giêng, niên hiệu Nguyên Hoà thứ 14). Quan phụ quốc đại thần ở đây chính là Nguyễn Kim, còn niên hiệu Nguyên Hoà thứ 14 đời Lê Trung Hưng, chính là năm Bính Ngọ - 1546.
Nhưng sự thực, xin đọc những dòng nầy trong cổ sử: “Ất Tỵ Nguyên Hoà năm thứ 13 1545... Tháng 5, ngày 20, hàng tướng nhà Mạc là Trung Hậu hầu ngầm chứa 2 lòng, mời Thái tể Nguyễn Kim đến dinh của hắn, bỏ ngầm thuốc độc trong quả dưa dâng lên truớc mâm cổ, Kim tin thực, ăn dưa, bị trúng độc, đến khi về thấy trong người khó chịu rồi mất...” ( Quốc sử quán triều Lê; Đại Việt sử ký toàn thư (nhiều người dịch) - NXB VHTT, HN, 2003 - trang 194-195).
Ông Nguyễn Kim, tháng 5 năm trước (1545) đã mất, sao đến tháng giêng năm sau (1546) lại có thể viết bức thư nầy?
2- Trấn thành Quảng Nam ở đâu?
Nội dung chính của “Phủ tập Quảng Nam ký sự” là thu phục đất Quảng Nam mà trọng tâm là cuộc tiến công đánh chiếm trấn thành tháng 8 năm Ất Tỵ (1545). Cứ theo cách mô tả về việc bố trí, điều động các đội quân cũng như diễn tiến các trận đánh “ngày 8 tháng 8” thì vị trí của trấn thành nằm ở chính Thành Quảng Ngãi xây dựng thời Gia Long, năm 1807. Hai đoạn văn sau cho thấy rõ điều đó:
- “Điều một đội quân từ hậu cứ hải đảo tiến thẳng vào cửa biển Cổ Luỹ, chia làm 2 chi: một chi dùng thuyền lớn ngược nước dòng Sông Vệ đi lên đến bến Hà Khê, chốt giữ khoảng 2 hải lý đường thuỷ, chi nầy được phép cho 100 quân lên bờ, dọc theo hữu ngạn sông Trà Khúc, từ Cổ Luỹ đến Ba La, rãi ra thành 10 nhóm, dùng đèn đuốc và đánh trống để thanh viện. Một chi nữa dùng thuyền nhẹ đi ngược dòng Trà Khúc lên đến phía Bắc Trấn Thành, mai phục ở lòng sông [LHK nhấn mạnh]. Chi này cũng được phép cho 100 quân đổ bộ chốt giữ bến đò Quán Cơm, dùng đèn đuốc và đánh trống để thanh viện và liên lạc với quân binh chốt giữ bến đò Châu Ổ.
- “Cuối giờ Hợi đầu giờ Tý, súng ở đại thuyền khai hỏa. Dọc theo sông Vệ, từ Cổ Lũy đến Hà Khê đèn đuốc và trống trận nhất tề nổi lên. Từ Cổ Lũy đến Ba La và Quán Cơm, nơi bộ binh chốt giữ, dùng đèn đuốc và trống trận đồng loạt tiếp ứng” (trang 20-21).
Vấn đề là: Trấn Thành Quảng Nam thời nhà Mạc nằm ở vị trí nào? Cho đến nay, không có một tài liệu nào cho phép trả lời câu hỏi này. Phải chăng, chính PTQNKS đã giúp tìm lời đáp vị trí Trấn Thành Quảng Nam thời Mạc và sau đó là thời Bùi Tá Hán thu phục lại đất này từ tay họ Mạc. Nếu vậy thì tại sao khi ghi lại sự kiện “đắp thành đất ở xã Cù Mông” thời Gia Long, sử quán nhà Nguyễn không hề nhắc đến cái “Trấn thành” ấy một lời, trong khi đó các địa điểm xây thành hoặc dùng làm nơi trú đóng của bộ máy cai quản vùng đất Quảng Ngãi trước và sau đó, đều được ít nhiều nhắc đến như thành Châu Sa, thành Xuân Quang, các vùng đất Phú Nhơn, Phú Đăng... Cũng không hề có một câu chuyện dân gian, một cứ liệu khảo cổ học, sử học nào nhắc đến “Trấn thành” Quảng Nam cả.
3) Phải chăng người thu phục Quảng Nam từ tay nhà Mạc là Bùi Tá Hán?
Nội dung “Phủ tập Quảng Nam ký sự” và theo đó là những người biên soạn đều cho rằng Trấn Quận công Bùi Tá Hán chính là người vâng mệnh vua Lê Trang Tông (thực chất là Nguyễn Kim) “Niên hiệu Nguyên Hòa thứ 13 năm Ất Tỵ (1545) đem quân đi vỗ yên biên trấn Quảng Nam”. Ông xuất quân từ cửa bể Hội Thống, theo đường biển đi vào Nam”, rồi tấn công chiếm lĩnh “Trấn thành” chỉ trong 2 ngày từ mồng 8 đến mồng 10 tháng ấy, năm 1545. Và cũng kể từ thời điểm đó, đất Quảng Nam sống trong yên bình và ngày càng thịnh vượng, ít nhất là khoảng 23 năm, đến khi Bùi Trấn công qua đời (1568).
Nhưng chúng ta thử đọc lại những ghi chép, khảo cứu của học giả, sử gia Lê Văn Hưu (1782-1840) trong “Lịch triều hiến chương loại chí” thì sẽ thấy xuất hiện vấn đề khác. Mục “Nhân vật chí” của bộ sách này, chép về danh tướng Phạm Đốc như sau:
“Ông người làng Thổ Sơn, huyện Vĩnh Phúc [Thanh Hóa], niên hiệu Nguyên Hòa [1533-1548] ông theo Lượng quốc công đi đánh dẹp, vượt bao nguy hiểm, trải bao gian lao; được phong tước Dương Nghĩa Hầu. Năm đầu Thuận Bình thời Trung Tông ông coi vệ Kim Ngô, được lên tước Quảng Quận công. Đến năm thứ 6, ông đem các tướng đi kinh lược châu Hóa. Tướng Mạc là bọn Phạm Đức Trung quy thuận. Còn bọn giữ chỗ hiểm yếu không chịu hàng đều bị đánh giết cả. Từ đó, các người Man Lão đều theo cả. Bình xong đất Thuận Quảng, ông dẫn quân về, có công ấy được lên Thái Bảo, gia phong Hiệp mưu công thần, coi vệ Cẩm y...”
Đoạn văn trên cho thấy, ít nhất là đến trước năm Thuận Bình thứ 6 (đời Lê Trung Tông - Giáp Dần 1554) đất Thuận Hóa và xa hơn về phía Nam là Quảng Nam vẫn chưa thật sự về tay nhà Lê Trung Hưng. Người thu phục vùng đất này cho họ Lê, chính là Quảng quận công Phạm Đốc. Sẽ rõ hơn, khi đọc những lời phẩm bình của sử gia Lê Văn Hưu về bậc đại công thần này: “Ông có nhiều mưu trí, quen việc quân, tính trung hậu, cẩn thận [...].Ông đến các trấn Nghệ An, Thuận Hóa, Quảng Nam, đến đâu thì ban bố uy tín, không giết càn, người Kinh, người Man đều mến phục, ba nơi biên thùy ấy đều được yên. Người thời ấy khen ông là tướng giỏi”.
Phan Khoang, trong “Việt sử xứ Đàng Trong 1558-1577| (Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1967, trang 117-118) từ các nguồn sử liệu đáng tin cậy giúp chúng ta rõ thêm điều này:
“Năm Nguyên Hòa thứ 16 (1548) vua Trang Tông sai Tây quận công Lê Phi Thừa đem quân đi kinh lược miền Thuận Hóa, Quảng Nam, thổ hào các huyện và quan lại nhà Mạc nhiều người qui thuận. Từ Thanh Hóa trở vào thuộc Nam triều của vua Lê. Tuy vậy, hai đất Thuận, Quảng vẫn chưa yên hẳn. Lê Trung Tông năm Thiệu Bình thứ tư (1552), vua phải sai quân đi đánh dẹp Thuận Hóa, thừa thắng Bình Định, Quảng Nam, đặt quan, chia quân trấn định, phủ an hai xứ ấy. Năm Thuận Bình thứ 6 (1554) nhà Mạc sai Kỳ Giang bá Phạm Khắc Khoan làm tham tướng dinh Thuận Hóa, từ kinh đô trở về tập hợp đồ đảng, con em, đánh nhau với nhà Lê, bị Liễu Lân hầu (?) giết chết. Tỉnh xuyên bá của Mạc là Hoàng Chất cũng bị Phi Thừa giết chết. Duy Hoàng Bôi giữ đầu nguồn Hải Lăng kháng cự 5 năm không hàng. Nhưng rồi tướng của Bôi là Phạm Đức Trung nội phản, đưa quân Lê đến bắt. Thế là hai xứ ấy dẹp yên”.
4) Về việc phụ nữ mặc quần hay mặc váy, PTQNKS viết: "Phụ nữ không dùng quần không đáy, đồng loạt dùng quần như nam giới, nhuộm đà hoặc chàm để phân biệt nam, nữ"(trang 26). Thế nhưng, mãi đến năm 1621, Cristophoro Borri, một nhà truyền giáo người Ý đến Đàng Trong, ông mô tả về cách ăn mặc của phụ nữ xứ này như sau: "Họ mặc tới năm hay sáu lớp váy lụa trơn, cái nọ chồng lên cái kia và tất cả có màu sắc khác nhau" (Cristophoro Borri; Xứ Đàng Trong năm 1621; NXB TPHCM. 1997. Trang 53)
5) Về một số địa danh
Trong PTQNKS có những địa danh mà thực tế chỉ xuất hiện sau thời điểm được cho là tập sách này được người có tên là Mai Thị viết, như: Văn Bân (xuất hiện năm 1841, trước đó là Hoa Bân), Liên Chiểu (1841, trước đó là Hoa Chiểu), Năng An (cho đến 1813 vẫn còn tên là Toàn An), Thi Phổ (cho đến 1813 vẫn còn tên là Địa Thi) …
Với những nghi vấn như trên, rất khó có thể khẳng định văn bản PTQNKS mà các soạn giả sử dụng để dịch và giới thiệu trong cuốn “Tư liệu thư tịch và di tích về nhân vật lịch sử Bùi Tá Hán (1496-1568)” có bản gốc được viết ra bởi một người họ Mai Vào khoảng năm Chánh Trị (1558-1571) nhà Lê như lời phụ chú của ông Lê Viết Hòa, được cho là “sao lại” lần thứ 2 vào năm Duy Tân thứ 8 – 1914.
Vậy, nếu không là khoảng năm 1558-1571, thì phải PTQNKS được viết vào năm Minh Mạng thứ 5 (1824), thời điểm mà lời phụ chú cho là “người thư lại ở phiên ty Quảng Ngãi là Lê Đăng Hiển đã sao lại” tập sách này? Cũng không chắc, vì bản sách đó chúng ta không còn thấy hoặc không có thực. Còn bản sách chụp hình trong tập sách của Sở VHTT) chỉ được chép (hoặc viết) vào tháng 12 năm Duy Tân thứ 8 (1914).
Rốt ráo, nếu giả sử cho là “Phủ tập Quảng Nam ký sự” viết vào năm 1914 (rất gần với chúng ta, và rất xa thời Bùi Tá Hán) liệu thư tịch này có còn giá trị như lâu nay nhiều người vẫn tưởng?
Tài liệu tham khảo
- Cristophoro Borri; Xứ Đàng Trong năm 1621, NXB TPHCM. 1997.
- Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí. Bản dịch Viện Sử học, NXB Khoa học xã hội. HN, 1992.
- Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Quảng Ngãi, NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2010.
- Lê Quang Định, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, NXB Thuận Hóa 2005.
- Phan Khoang,Việt sử xứ Đàng Trong 1558-1577, Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1967.
- Thạch Phương, Lỵ sở đạo Thừa tuyên Quảng Nam. In trong “Duyên hải miền Trung - đất và người (nhiều tác giả), NXB Tổng hợp TP. HCM, Tạp chí Xưa Nay, 2004
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh địa dư chí, bản ebook;
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí - tập 2, NXB Thuận Hóa 2006
- Nhiều tác giả; Đại Việt sử ký toàn thư (nhiều người dịch), NXB VHTT, HN, 2003.
---
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.
LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.
Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.