Vẫn còn có nhiều ý kiến mới về bài thơ này.
Ở đây, đưa hai bài lên đầu tiên, một là của Phạm Võ Thanh Hà (in năm 2026) và một là của Nguyễn Thị Oanh (đã in năm 2002).
Các bổ sung và cập nhật thì dán ở dưới hai bài này.
Tháng 5 năm 2026,
Giao Blog
---
Thứ Tư, 18/03/2026 - 17:07
Về tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà
Thời gian gần đây, trên một số phương tiện thông tin đại chúng và các trang mạng xã hội đã nổ ra cuộc tranh luận về tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà. Nhiều tác giả, căn cứ vào các tài liệu truyền thống, khẳng định Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Trong khi đó, một số sách giáo khoa hiện hành lại ghi phần tác giả là “Khuyết danh”. Vậy cần hiểu vấn đề này như thế nào cho đúng?
Trước hết, cần khẳng định rằng Nam quốc sơn hà là một trong những thi phẩm nổi tiếng nhất của văn học Việt Nam, được xem như bản “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của dân tộc và trong thời gian dài gắn với tên tuổi Lý Thường Kiệt. Hơn một thế kỷ trước, người đầu tiên nêu ý kiến cho rằng bài thơ là của Lý Thường Kiệt là Hoàng Cao Khải. Trong Việt sử yếu (hoàn thành năm 1914, Nxb Nghệ An, 2007, tr. 168), dù không đưa ra bằng chứng thuyết phục, ông viết: “Tục truyền bài thi ấy là do thần nhân ứng mộng, còn chúng tôi thì cho bài thi ấy là do Lý Thường Kiệt sáng tác để kỷ niệm chiến công vậy”. Tuy nhiên, nhận định của Diên Mậu quận công không ảnh hưởng nhiều đến giới học giả sau này. Đến năm 1941, Việt sử yếu vẫn chưa được đề cập trong Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (ở mục tác gia Hoàng Cao Khải).
Năm 1917, trong Sơ học An Nam sử lược (từ lần in thứ hai năm 1918 đổi tên thành Việt Nam sử lược), Trần Trọng Kim viết: “Lúc bấy giờ, quân nhà Tống đánh hăng lắm, Lý Thường Kiệt hết sức chống giữ nhưng sợ quân mình có ngã lòng chăng, bèn đặt ra một câu chuyện nói rằng có thần cho bốn câu thơ…” (Nxb VHTT, Hà Nội, 1999, tr. 112).
Từ nhận định của Trần Trọng Kim, nhiều học giả sau này gần như “chúng khẩu đồng từ” khẳng định võ tướng họ Lý là tác giả thi phẩm Nam quốc sơn hà.
Trong Việt Nam văn học sử yếu (viết xong năm 1941), Dương Quảng Hàm viết: “Lý Thường Kiệt khi chống nhau với quân địch, có làm bài thơ để khuyến khích tướng sĩ, lời lẽ thật khảng khái” (Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1968, tr. 231-232).
Một năm sau (1942), Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử viết: “Thường Kiệt khi thúc cự quân địch, một hôm giả thác chuyện nằm chiêm bao thấy có một vị thần cho bài thơ rằng…” (Hàn Thuyên xuất bản cục, 1942, tr. 143).
Đến năm 1949, trong tác phẩm Lý Thường Kiệt, Hoàng Xuân Hãn bày tỏ: “Sự thật có lẽ như tôi đã theo ý Trần Trọng Kim, nhận rằng thơ là của Lý Thường Kiệt” (Nxb Sông Nhị, 1949, tr. 303).
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, rồi chống Mỹ, bài thơ Nam quốc sơn hà tiếp tục được xem là của Lý Thường Kiệt, bởi dư luận chủ yếu quan tâm đến nội dung thi phẩm hơn là vấn đề tác giả.
Những năm 1977-1980, trong nhiều chuyên khảo văn học lớn, bài thơ vẫn gắn với tên tuổi võ tướng họ Lý. Nguyễn Huệ Chi, trong phần khảo luận văn bản Thơ văn Lý - Trần (Tập 1), viết: “Có lẽ Lý Thường Kiệt đã tạo ra câu chuyện thần linh đó để khích lệ tinh thần quân sĩ. Bài thơ đã góp phần không nhỏ vào việc đánh bại quân Tống” (Nxb KHXH, Hà Nội, 1977, tr. 318-322).
Lịch sử văn học Việt Nam (Tập 1) vẫn còn ghi: “Năm 1076, để khích lệ quân sĩ trong cuộc quyết chiến với quân xâm lược Tống ở sông Cầu (sông Như Nguyệt), Lý Thường Kiệt đã nhân danh thần sông Như Nguyệt làm bốn câu thơ sau…” (Nxb KHXH, Hà Nội, 1980, tr. 192).
Cả hai cuốn Tổng tập văn học Việt Nam của Văn Tân và Đinh Gia Khánh (đều do Nxb KHXH, Hà Nội ấn hành tập 1 năm 1980) cũng thống nhất quan điểm này. Văn Tân viết: “Bốn câu thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt đọc ở đền Trương Hát - Trương Hống đầu xuân năm Đinh Tỵ” (tr. 231). Đinh Gia Khánh thì khẳng định: “Trước Trần Quốc Tuấn hai trăm năm, Lý Thường Kiệt đã có những lời thơ hào hùng và đanh thép trong bài Nam quốc sơn hà như sau…” (tr. 114).
Như vậy, nhận định của Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược đã ảnh hưởng lớn đến nhiều học giả, sử gia Việt Nam qua nhiều thế hệ. Cùng với sách vở, quan điểm này còn đi vào văn bia, nhà lưu niệm danh nhân, bảo tàng và cả nhận thức của người dân.
Phải đến tháng 1/1988, trên Tạp chí Tổ quốc, mới xuất hiện một ý kiến mang tính hoài nghi khoa học của GS Hà Văn Tấn, chuyên gia về giám định sử liệu và văn bản học. Ông viết: “Không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong một trận chống Tống ở vùng sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ đó trong đền Trương Hống, Trương Hát. Có thể đoán Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn, có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả của bài thơ. Nhưng chỉ là đoán thôi, làm sao nói chắc được bài thơ đó là của Lý Thường Kiệt? Thế nhưng, cho đến nay, mọi người dường như đều tin đó là sự thật, hay nói đúng hơn, không ai dám nghi ngờ đó không phải là sự thật” (Lịch sử, sự thật và sử học).
Còn có thể nói gì hơn về bài viết mang đậm tính sử bút, sử luận của GS Hà Văn Tấn? Song điều đáng tiếc là bài viết mẫu mực ấy không phải dạng “phổ cập”; ở phương diện khác, Lịch sử, sự thật và sử học còn đề cập đến nhiều vấn đề lớn, phức tạp khác của khoa học lịch sử nên những câu chữ về Lý Thường Kiệt và câu chuyện tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà dễ bị chìm, khuất lấp trong không ít luận điểm quan trọng khác!
Sau nhận thức mang tính “mở đường” của GS Hà Văn Tấn, PGS Bùi Duy Tân là người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để “trả” Nam quốc sơn hà về với đời sống dân gian (ông dùng ba chữ “vô danh thị” để định danh tác phẩm).
Bằng công phu tìm tòi, với hơn 30 văn bản chữ Hán và nhiều thần tích có ghi bài thơ (như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí, Việt sử diễn âm, Trương tôn thần sự tích…), PGS Bùi Duy Tân kết luận: “Không có một văn bản nào ghi nhận Lý Thường Kiệt là tác giả, hoặc tương truyền là tác giả bài thơ; tất cả các văn bản đều ghi nhận bài thơ là của thần Trương Hống, Trương Hát - tướng lĩnh của Triệu Quang Phục; thần đọc thơ của thần, âm phù dương gian trợ quốc dân an (…) kể đã nhiều lần - hai lần giúp Lê Hoàn (981) và Lý Thường Kiệt (1076) chống Tống; bài thơ không hề được tuyển vào các tuyển tập thơ ca chữ Hán đời xưa, trước sau nó vẫn là thành phần cơ hữu trong truyền thuyết dân gian; ngộ nhận Lý Thường Kiệt là tác giả Nam quốc sơn hà của Trần Trọng Kim (…) là do tự ý, chứ không dựa vào bất kỳ tư liệu Hán Nôm nào” (Bùi Duy Tân, Tuyển tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 51).
Độc giả có thể kiểm chứng điều này qua nhiều công trình do PGS Bùi Duy Tân chủ biên hoặc tham gia biên soạn, như: Văn học 9 (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr. 28), Tư liệu Văn học 10 (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr. 211), Từ điển tác giả - tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr. 275), Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X-XIX (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 31)…
Việc thần đọc bài thơ Nam quốc sơn hà để phù trợ Lê Đại Hành trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 được ghi trong Lĩnh Nam chích quái: “Vua Đại Hành ban đêm mơ thấy hai người thần vái ở trên trời nói: Anh em thần, một người tên Trương Hống, một người tên Trương Hát, trước thờ Triệu Việt Vương thường theo chinh phạt bọn giặc dữ, mà có được thiên hạ (…) nay thấy quân Tống vào cõi làm khổ sinh linh nước ta nên bọn thần đến gặp xin cùng vua đánh bọn giặc này để cứu sinh dân.
Vua Đại Hành kinh ngạc thức dậy gọi bề tôi hầu cận, nói: “Đây là thần giúp ta vậy”. Bèn lập tức rước thuyền vua đốt hương làm lễ xin rằng: “Thần nhân có thể giúp ta thành được công nghiệp này thì việc phong thưởng và cúng đơm muôn đời sẽ không hết”. Vua cho giết sinh lao để tế, đem các món áo mũ, tiền giấy và voi ngựa đốt đi để ban cho. Đêm ấy lại mơ thấy hai thần nhân cùng mặc áo mũ đã ban, đến trước vua bái tạ. Đến đêm hôm sau, vua mơ thấy một thần nhân đem quỷ bộ áo trắng từ phía nam Bình Giang tới, và một vị thần nhân đem quỷ bộ áo đỏ từ sông Như Nguyệt xuống. Cả hai đều nhắm trại giặc mà đánh.
Ngày 2 tháng 10, vào lúc canh ba nửa đêm, khí trời tối mịt, gió lớn mưa dồn nổi lên, quân Tống tan vỡ. Thần mập mờ đứng trên không trung, cao tiếng ngâm (bài Nam quốc sơn hà).
Quân Tống nghe thế chen nhau tứ tán, mỗi kẻ tự chạy trốn, bị bắt sống không thể kể xiết. Quân Tống đại bại rút lui. Vua Đại Hành đem quân về mừng thắng trận, phong thưởng cho hai thần nhân. Người em là Uy Địch Đại Vương, lập đền thờ tại Tam Kỳ Giang ở Long Nhân, sai dân Long Nhân và Bình Giang phụng thờ. Người anh là Khước Địch Đại Vương, lập đền thờ ở sông Như Nguyệt, sai dân ven sông phụng thờ, đến nay vẫn còn” (Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tập 2, tr. 473-485).
Nếu theo ghi chép này, nội dung bài thơ Nam quốc sơn hà đã được biết đến từ thời Vua Đại Hành chống quân Tống (trước Lý Thường Kiệt gần 100 năm) thì khó có thể coi võ tướng họ Lý là tác giả bài thơ.
Mặt khác, việc Lý Thường Kiệt không phải là tác giả bài thơ cũng không ảnh hưởng đến vị trí và hình ảnh của ông trong lịch sử dân tộc: một anh hùng với chiến công “đánh Tống, bình Chiêm” sáng ngời quốc sử.
PHẠM VÕ THANH HÀ
Nguồn: Tạp chí VHNT số 635, tháng 2-2026
https://vanhoanghethuat.vn/ve-tac-gia-bai-tho-nam-quoc-son-ha-77761700.html
...
Từ trước Cách mạng Tháng Tám cho tới nay, không ít học giả nổi tiếng trong công trình khoa học của mình vẫn khẳng định: bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt. Có thể kể ra đây một vài công trình tiêu biểu như: Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (1), Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn (2), Việt Nam cổ văn học sử (3) của Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam văn học sử yếu (4) của Dương Quảng Hàm, Tổng tập văn học Việt Nam (5) của Văn Tân, Lịch sử văn học Việt Nam (6) của Đinh Gia Khánh... và một số bộ tổng tập lớn của thời đại như Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (7), Thơ văn Lý - Trần (8), Tổng tập văn học Việt Nam (9) v.v...
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,Tiệt nhiên phận định tại thiên thư,Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.(Sông núi nước Nam đã có vua nước Nam ở,Tại sổ trời đã ghi địa phận rõ ràng,Sao bọn giặc kia lại xâm phạm,Chúng bay sẽ thấy bị thua to.)
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư,Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,Hội kiến thịnh trần tận tảo trừ.(Núi sông nước Nam vua Nam ở,Trời xanh đã định trong sách trời,Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm,Sẽ gặp cuồng phong đánh tơi bời.)
https://www.thivien.net/V%E1%BB%81-th%E1%BB%9Di-%C4%91i%E1%BB%83m-ra-%C4%91%E1%BB%9Di-c%E1%BB%A7a-b%C3%A0i-th%C6%A1-Nam-qu%E1%BB%91c-s%C6%A1n-h%C3%A0/reply-4SZw8MzYeEhq8GIkZmnecA
...
BỔ SUNG
3.
Nam quốc sơn hà là bài TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP đầu tiên của nước ta. Nội dung của TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP chủ yếu đề cập đến quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc. Đồng thời, bài Nam quốc sơn hà ra đời cũng là thể hiện hùng khí và sự lớn mạnh của dân tộc ta. Thế mà, hai chữ “thiên thư 天書” ở trong câu thơ:
“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”
截然定分在天書
(Rành rành định phận ở sách trời) (1, tr.181), lại lí giải không ổn. Có ý kiến cho là tác giả bài thơ(*) đã dựa vào tư tưởng “thiên mệnh” (= mệnh trời), trời quyết định mọi sự việc ở đời. Gần đây, trong bài Việt Nho qua một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, PGS. Bùi Duy Tân đã viết: “Trời ở đây ẩn trên thiên thư... Cả mớ lý luận về Trời, Khổng Nho thường hay dùng danh ngữ Thiên mệnh, được người Việt tiếp biến theo quan niệm “thực dụng”,... (2, tr.318).
Thực tế, tác giả bài thơ không suy tư như thế, tức là người dân Việt cũng không tiếp thu một cách thần bí như vậy. ở đây, trong câu thơ này, tác giả dùng hai chữ “thiên thư 天書” (= sách trời) là có cơ sở pháp lý vững chắc, chứ không phải dựa vào “thiên mệnh” (= mệnh trời). Tác giả nắm rất vững văn hóa truyền thống Trung Hoa về “phân dã 分野”, tức là cách phân chia bờ cõi đất nước. Sách “Sử ký, Thiên quan thư 史記天官書” viết “天則有列宿,地則有州域- Thiên tắc hữu liệt tú, địa tắc hữu châu vực” (Trời thì có các vì sao, đất thì có châu vực). Như vậy, chúng ta có thể thấy người xưa coi (xem) các ngôi sao trên trời có liên hệ với châu vực ở dưới đất. ở thời đại Xuân Thu Chiến Quốc, người ta căn cứ vào Châu vực ở dưới đất để phân vạch sao trên trời, phân biệt các ngôi sao ở trên trời phối với châu, quốc ở dưới đất, khiến chúng đối ứng với nhau, mỗi ngôi sao là thuộc “phân dã” (= phân chia bờ cõi) của mỗi nước. Cách phân vạch bờ cõi của các sao, nói chung phân phối theo các nước như sau: (3, tr.789 - 790).
Ngay ở Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu cũng chép: “Người ngày xưa chia vạch bờ cõi, theo đúng như các vì sao, nên gọi là phân dã 分野(4, tr.632).
Do đó, “thiên thư” (= sách trời) mà tác giả nói đến là liên quan đến phân dã (分野), đến các ngôi sao trên trời. Đấy là một hiện thực khách quan, mỗi một vì sao trên trời thuộc phân vạch bờ cõi của mỗi nước, điều đó sử sách còn ghi chép rành rành. Tác giả vận dụng “thiên thư” (= sách trời) là đề xuất đến phép tắc vĩnh hằng, phổ biến, khách quan, tính hợp lý đã sản sinh ảnh hưởng rất lớn trong văn hóa tư tưởng truyền thống Trung Hoa. Chắc hẳn bọn vua quan nhà Tống biết rõ điều đó. Cái điều trong Sử ký, Thiên Quan thư 史記,天官書...” đã đề cập đến và trong các sách kinh điển Nho gia Trung Hoa luôn luôn nhắc: “Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa”. Nếu vua quan nhà Tống không hiểu được cái phép tắc đó, cái quan hệ bang giao giữa hai nước, mà lại:
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm”
(Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm)
thì:
“Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
(Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời).
Bài thơ viết rất biện chứng, rất lôgíc, tư tưởng duy vật chất phác thể hiện khá rõ, tác giả đã lấy sử sách, sự thực làm chứng cớ để chứng minh đất nước Nam là của vua Nam, là chủ quyền của dân tộc Việt Nam, là nước có chủ quyền, không ai có quyền xâm phạm. Theo lối suy nghĩ và cách nói nôm na của dân ta là, nhà ta ta ở, kẻ nào xâm phạm đến, ta sẽ đập tan xác. Theo văn hóa truyền thống Trung Hoa, ấy là lẽ tất yếu, lẽ đương nhiên, thế mà, bọn vua quan phong kiến phương Bắc vẫn ôm hy vọng, tính kế đánh chiếm nước ta. Nhưng PGS. Bùi Duy Tân lại nói: “Nước Nam là của vua / người Nam, đó là ý trời, ... kẻ nào xâm lược nước Nam là trái nghịch ý trời là chống lại xu thế phát triển của lịch sử sẽ bại vong”. (2.tr.319).
Bài thơ Nam quốc sơn hà mang ý nghĩa tuyên ngôn độc lập. Nội dung của tuyên ngôn độc lập chủ yếu là đề cập đến quyền bình đẳng, quyền sống của con người, ...: Thế mà, hai chữ “thiên thư” này lại được hiểu theo quan điểm “thiên mệnh” thì làm sao thực hiện được quyền bình đẳng, quyền sống của con người... Bọn vua quan phong kiến phương Bắc duy trì, bảo vệ thuyết “thiên mệnh”, “thần quyền” là để vĩnh hằng thống trị dân chúng (lão bách tính), trấn áp các nước chư hầu, di địch. Cho nên cái thuyết “thiên mệnh” này vừa ra đời, thì đã bị các nhà triết học Trung Hoa thời bấy giờ như Dương Hùng, Hoàn Đàm, Vương Sung, Vương Phù, Tuân Diệt, Trọng Trường Thống... phê phán là cái mê tín của thần học và cái hoang đường của sấm vĩ. Đặc biệt, ở cuối thời Đông Hán, Trọng Trường Thống phủ nhận “Quân quyền thần thụ” (Quyền của vua do trời trao cho) (仲長統否認君權神授) (6, tr.10).
PGS. Bùi Duy Tân tâm đắc viết tiếp: “Nhân sĩ thời Ngô, Đinh, Lê, Lý lấy trời hộ mệnh cho ý thức tự chủ của người thiêng hóa độc lập, chủ quyền, sát hợp với tâm thức người đời, lời thơ như mang sứ mạng của đất trời, ngân vang của thần thánh, xứng đáng là bước thăng hoa của tư tưởng Việt Nho” (2. tr.3119). Câu nói này nghe ra rất trúng tâm lý của những con người xưa nay tin tưởng ở “thiên mệnh” (mệnh trời). Tuy vậy thực tế là đánh giá quá thấp các nhân sĩ của nước Việt xưa, trong khi bài thơ Nam quốc sơn hà vốn đã trả lời rõ điều này. Tác giả viết bài thơ là một nhà Nho không hề có tư tưởng đó. Qua nội dung bài thơ chúng ta thấy ý câu thơ trên và dưới gắn kết với nhau rất chặt chẽ, rất lôgíc: Đất nước Nam là của vua Nam, của người Nam, sự thực khách quan đã ghi ở sách trời bằng “phân dã 分野”, phân chia bờ cõi đất nước rõ rành rành. Bọn giặc vô cớ đến xâm phạm, ta sẽ đánh tan tành. Lời thơ vang vọng núi sông ở thế hiên ngang, niềm tự cường dân tộc, lòng tin tưởng vững chắc ở sức mạnh của dân tộc mình sẽ đập tan bất cứ lũ giặc nào đến xâm phạm bờ cõi đất nước ta. Tư tưởng Việt Nho đâu phải nhờ trời, nhờ thiên mệnh, thần thánh mà thăng hoa. Hơn nữa, căn cứ vào tiến trình lịch sử Việt Nam, đạo Nho tuy đã xâm nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc, nhưng ở thời Đinh, Tiền Lê vẫn chưa tạo được ảnh hưởng đáng kể, nổi trội trong đời sống tâm linh người Việt vẫn là những tín ngưỡng dân gian hòa trộn với những tôn giáo có nguồn gốc từ nền văn minh Nam á, như Phật giáo. Triều đình Đinh - Tiền Lê vẫn suy tôn Phật giáo làm quốc giáo. Đến thời Lý, các nhà Nho như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành giữ chức Thái úy có vai trò như Tể tướng lại càng không có tư tưởng sùng bái đạo Nho về “thiên mệnh”. Vì chính quyền nhà nước thời Lý là một chính quyền sùng Phật và thân dân. Nhiều nhà vua và quý tộc đã theo đạo Phật, đề cao tư tưởng từ bi, bác ái (7, tr.71; 1, tr.127).
Đến đây chúng ta có thể khẳng định, ở thời Đinh, Tiền Lê, đầu Lý, Nho học chưa phát triển, Nho giáo chưa thể lấn át được Phật giáo.
Hai chữ “thiên thư 天書” (= sách trời), không nên hiểu theo quan điểm “thiên mệnh” (mệnh trời) của Nho giáo. Vì ở thời Tần Hán, Nho gia Đổng Trọng Thư đưa ra quan điểm duy tâm, “trời” trở thành thượng đế có quyền lực tối cao, mọi người đều do thượng đế sáng tạo ra. Trời đặt ra cho xã hội loài người một vị vua có quyền lực tối cao để “thay trời hành đạo”. Quan điểm duy tâm ấy phù hợp với yêu cầu của giai cấp thống trị phong kiến, cho nên nó được bảo tồn, lưu truyền trong xã hội phong kiến, đến ngày nay không thể tồn tại được nữa.
Bài thơ Nam quốc sơn hà, ngắn gọn, lưu truyền sống mãi trong tâm hồn các thế hệ mai sau niềm tự hào về nền độc lập, về chủ quyền dân tộc... của nước Nam ta, chính là do ông cha ta đã xây dựng nên.
L.V.Q
CHÚ THÍCH:
(*) Hiện nay tên tác giả của bài thơ, các nhà nghiên cứu của ta còn chưa nhất trí, cho nên ở đây tôi gọi theo danh từ chung là tác giả.
(1) Lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb. KHXH, H. 1971.
(2) Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Việt Nam) - Viện Harvard Yanching (Hoa Kỳ), “Hội thảo quốc tế về Nho giáo ở Việt Nam”, H. 2004.
(3) Cổ Đại Hán ngữ, Vương Lực chủ biên, tập 3, Trung Hoa thư cục xuất bản, Bắc Kinh, 1962.
(4) Thiều Chửu: Từ điển Hán Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 1999.
(5) Phùng Hữu Lan: Đại cương triết học sử Trung Quốc, Nguyễn Văn Dương dịch, Nxb. Thanh niên, 1999.
(6) Trung Quốc triết học sử thông lãm, Nhiệm Kế Dũ, Trương Đại Niên... Trung tâm Đông phương xuất bản, 1996.
(7) Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Ngọc chủ biên, Nxb. Giáo dục, H. 2003.
http://vanhoanghean.vn/chi-tiet-tin-tuc/13779-ban-ve-hai-chu-thien-thu-trong-bai-tho-nam-quoc-son-ha
2.
Gần đây, nhân đọc bài viết “Bàn về hai chữ “thiên thư” trong bài thơ Nam quốc sơn hà” của GS.TS. Lê Văn Quán, chúng tôi xin có mấy lời bàn lại như sau:
1. Tác giả bài viết trên đã trích dẫn đoạn văn: “Trời ở đây ẩn trên Thiên thư... Cả mớ lý luận về trời, Khổng Nho thường hay dùng danh ngữ Thiên mệnh, được người Việt tiếp biến theo quan niệm “thực dụng”... (2, tr.318)” trong bài viết của PGS. Bùi Duy Tân “cho là tác giả bài thơ đã dựa vào tư tưởng “thiên mệnh” (= mệnh trời), trời quyết định mọi sự việc ở đời” . Đọc xong, chúng tôi rất băn khoăn, không hiểu là PGS. Bùi Duy Tân có viết như thế thật không? Nhìn vào đoạn văn được trích, chúng tôi thấy có những hai lần ba chấm (...), và theo sự chỉ dẫn của số chú thích, số trang ở cuối bài viết, chúng tôi tìm đọc bài của PGS. Bùi Duy Tân. Hóa ra, đoạn văn trên được viết đầy đủ như sau: “Bài thơ cả quyết quyền ngự trị sông núi nước Nam là của vua Nam. Dám khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước Nam nhỏ bé bên cạnh nước Bắc to lớn như thế chỉ có thể là Trời. Trời ở đây ẩn trên Thiên thư, nhưng cũng có hàng chục văn bản (của bài thơ Nam quốc sơn hà - LVH) có từ “Hoàng thiên” ở đầu câu thứ hai (Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư). Trời theo Khổng Nho là vô hình, linh diệu, chủ tể của vũ trụ, lấy thiên mệnh, thiên lý, thiên ý, thiên uy điều phối biến hóa việc thế gian, quyết định số phận cho muôn loài. Trời và Người là “tương dữ”, “hợp nhất”, “thông đạt”. Trời nhìn ở dân nhìn dân nghe. Trời thương dân, dân muốn là trời muốn... Vua thay trời trị dân thống nhất thiên ý dân tâm. Vua trị dân theo ý trời thì yên ổn, được mùa; trái ý trời thì trời ra tai, trời nổi can qua v.v... Cả mớ lý luận về Trời, Khổng Nho thường hay dùng danh ngữ “Thiên mệnh", được người Việt tiếp biến theo quan niệm “thực dụng”, chỉ cốt làm rõ: Nước Nam là của Vua/người Nam, đó là ý Trời, kẻ nào xâm lược nước Nam là trái nghịch ý Trời, là chống lại xu thế phát triển tất yếu của lịch sử, tất sẽ bại vong” .
Như thế, chỉ cần nhìn vào hai đoạn văn, ai cũng thấy là tác giả bài viết “Bàn về hai chữ ”thiên thư” trong bài thơ Nam quốc sơn hà” đã cố ý dẫn trích văn của PGS. Bùi Duy Tân theo kiểu “gọt chân cho vừa giày”. Điều đó không khỏi làm cho người đọc hiểu sai mạch vănvà lập luận của PGS. Bùi Duy Tân. Kiểu trích dẫn làm méo mó văn của người khác như vậy để phê phán, theo chúng tôi nghĩ có lẽ nên chấm dứt.
2. Trong bài, tác giả cũng bàn đến hai chữ 分 野 và phiên âm là: phân dã, với nghĩa “phân chia bờ cõi”. Theo thiển ý, chúng tôi nghĩ hai chữ ấy ở đây phải phiên âm là phận dã, với nghĩa là cách quy định phận giới, địa phận. Tại sao thế ? Vì có vấn đề liên quan đến chữ 分 . Đúng là chữ này có hai âm đọc là “phân” và “phận”:
- Đọc “phân”, với các nghĩa phân khai, phân giải, phân liệt, xuân phân,...
- Đọc “phận”, với các nghĩa danh phận, chức phận, duyên phận, phúc phận, địa phận,... (4)
Khi 分 đi với các tổ hợp từ thì Hán ngữ đại từ điển có chú rõ số (2) ở bên cạnh chữ để đọc với âm thứ hai là “phận”, trong đó có những cụm như: phận vị, phận ngoại, phận nội và cả “phận dã” - chính là cụm từ đang nói tới. Còn nếu phiên “phân dã” thì ý nghĩa khác hẳn chứ không liên quan gì đến việc “phân chia bờ cõi” .
Do vậy, câu thứ hai của bài Nam quốc sơn hà đã được đọc là:
Tiệt nhiên phận định tại Thiên thư
Ở một vài văn bản hai chữ “phận định” được viết đảo là “định phận”. Dễ thấy là trong trường hợp ấy, không thể nào đọc “định phân” được.
3. Vậy thì cái quyết định “phận dã” (cách quy định phận giới, địa phận) ấy là do đâu ? Rõ ràng là ở “Thiên thư” - ở Trời, chỉ có uy Trời qua “Thiên thư” mới “định” được “phận”. Chúng tôi cho rằng, với lập luận của mình từ đoạn trích đầy đủ trên, PGS. Bùi Duy Tân đã cắt nghĩa một cách sáng rõ ý của câu thơ; kể cả hai chữ “Thiên mệnh” từ các hàm nghĩa thế nào, sự “tiếp biến” ra sao cũng đã được lý giải xác đáng, sát thực với tâm thức và quan niệm của người xưa. Quả thật, người xưa thường tin rằng sở dĩ con người có thêm niềm tin và có thêm dũng khí là được trời đất giúp sức, thần linh phù trợ. Chẳng phải Nam quốc sơn hà cũng đích thị là bài thơ mượn lời thần tuyên đọc đấy sao ? Có như thế mới thiêng, mới cổ lệ được tinh thần tướng sĩ.
Tác giả bài viết “Bàn về hai chữ “thiên thư” trong bài thơ Nam quốc sơn hà” đã chỉ lẩy ra một quan niệm về “Thiên mệnh” của Đổng Trọng Thư, để cho rằng nói “Thiên mệnh” là duy tâm và vội vàng quy chụp, trong khi “Thiên mệnh” còn được quan niệm theo nhiều cách khác nhau; vả lại ngay trong đoạn trích đã thấy, PGS. Bùi Duy Tân cũng dùng trong mạch “thiên mệnh, thiên lý, thiên ý, thiên uy”. Tư duy cho phép lấy cái bộ phận để chỉ cái toàn thể (như kiểu “nếm một miếng biết cả vạc”), nhưng rất nhiều khi tư duy cũng không cho phép như vậy (như kiểu bảo “con voi là cái quạt”, “con voi là cái cột”, v.v...).
Để bạn đọc tiện theo dõi và dễ tìm, chúng tôi xin mách: ngay trong tập Từ điển Nho - Phật - Đạo (Bản dịch, Nxb. Văn học, H. 2001) ở trang số 1441 có mục từ “Thiên mệnh” với các hàm nghĩa, các dẫn dụ khá là phong phú.
L.V.H
CHÚ THÍCH:
(1) In trong Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (69) -(2005), tr.67-70.
(2) Bđd; tr.67.
(3) Xem Hội thảo quốc tế về Nho giáo ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Việt Nam) - Viện Harvard Yenching (Hoa Kỳ), Bản thảo kỷ yếu, 2004; tr.318-319.
(4), (5) Xem Hán ngữ đại từ điển, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1997, tr.978-980 và tr.984. /.
https://nguvan.hnue.edu.vn/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u/Ng%E1%BB%AF-v%C4%83n-H%C3%A1n-N%C3%B4m/p/973
1.
Bài thơ “Nam quốc sơn hà” là của ai?
Trần Hưng•Thứ Tư, 25/09/2024
“Nam quốc sơn hà” là bài thơ nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam, và được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên khẳng định chủ quyền của người Việt trên lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, với ít nhất là 35 dị bản sách và 8 dị bản thần tích, nguồn gốc của “Nam quốc sơn hà” vẫn còn là một dấu hỏi…
(Tranh minh họa: Họa sĩ Sỹ Hòa, Báo Bình Phước Online)
“Nam quốc sơn hà” là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán, chưa rõ nguồn gốc tác giả, nhưng được một số tài liệu cho là tác phẩm của Lý Thường Kiệt. Theo đó, trong cuộc chiến chống lại quân Tống lần thứ hai (1075-1077), Lý Thường Kiệt đã sai người tâm phúc đọc vang bài thơ trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát thuộc địa phận sông Như Nguyệt, Yên Phong, Bắc Ninh, để khích lệ tinh thần quân sĩ Đại Việt.
Nam quốc sơn hà
Bài thơ “Nam quốc sơn hà” vốn không có tên. Tựa đề của nó xuất hiện trong “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam” tập 2 (NXB Văn học, 1976), lấy từ bốn chữ đầu trong câu thơ đầu tiên của bài thơ. Bài thơ này có nhiều dị bản khác nhau, bản chữ Hán trong Đại Việt sử ký toàn thư có chép:
南國山河南帝居,
截然分定在天書。
如何逆虜來侵犯,
汝等行看取敗虚。
Phiên âm Hán Việt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bản khắc gỗ và bản dập bài “Nam quốc sơn hà” trong Mộc bản triều Nguyễn tại khu trưng bày ngoài trời. (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV – Đà Lạt)
Trước đây, sách giáo khoa từng sử dụng bản dịch của học giả Trần Trọng Kim, có âm điệu hào hùng và dễ nhớ:
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Sau này, sách giáo khoa không sử dụng bản dịch trên nữa, mà sử dụng bản dịch của Lê Thước và Nam Trân (Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7, tập 1, 2015):
Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây,
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
Tuy nhiên sách giáo khoa lại không dùng nguyên văn bản dịch này, mà sửa đoạn đầu “Núi sông Nam Việt vua Nam ở” thành “Sông núi nước Nam vua Nam ở”. Bản dịch mới này đã từng gây ra rất nhiều tranh luận vì không truyền tải được âm hưởng và khí phách của “Nam quốc sơn hà”.
Xem thêm: Nội hàm sâu sắc của “Thiên thư” trong bài thơ “Nam quốc sơn hà”
“Nam quốc sơn hà” có từ bao giờ?
Trong Lĩnh Nam chích quái, phần “Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt” có ghi chép rằng:
Năm Thiên Phúc nguyên niên hiệu vua Lê Đại Hành, vua Tống Thái Tổ sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng đem quân sang đánh Đại Cồ Việt. Hai bên đối lũy cùng cầm cự với nhau ở sông Đồ Lỗ. Vua Lê Đại Hành nằm ngủ thấy hai vị Thần hiện về báo mộng. Hai vị Thần nói với vua, đại ý như sau: “Anh em thần tên là Trương Hống, Trương Hát, là tướng của Triệu Việt Vương (Triệu Quang Phục). Anh em thần vì nghĩa mà chết nên được phong làm tướng trong các thần linh, thống lĩnh quỷ binh. Nay quân Tống xâm phạm nước ta, anh em thần đến yết kiến, cùng giúp vua đánh giặc để cứu dân chúng.”
Vua Lê Đại Hành tỉnh dậy liền đốt hương khấn cầu thần giúp. Đêm ấy thấy một người dẫn đoàn âm binh áo trắng và một người dẫn đoàn âm binh áo đỏ từ phía Bắc sông Như Nguyệt mà lại cùng xông vào trại quân Tống mà đánh. Quân Tống kinh hoàng, lúc này bỗng có tiếng thơ ngâm lớn rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
Như hà Bắc Lỗ lai xâm lược,
Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.
Dịch là:
Sông núi nước nam, vua nam ở,
Sách Trời định phận rõ non sông.
Cớ sao giặc bắc sang xâm phạm,
Bây hãy chờ gươm chém bại vong.
Quân Tống nghe thấy, xéo đạp lên nhau chạy tan, đại bại mà về. Vua Lê Đại Hành trở về ăn mừng, truy phong cho hai vị Thần nhân, một là Tinh Mẫn Đại Vương lập miếu thờ tại ngã ba sông Long Nhãn; hai là Khước Mẫn Đại vương, lập miếu ở ngã ba sông Nguyệt.
Vậy Trương Hống, Trương Hát là ai? Theo “Việt điện u linh” ghi chép lại thì anh em Trương Hống, Trương Hát là tướng của Triệu Việt Vương tức Triệu Quang Phục. Khi Triệu Việt Vương bị Lý Phật Tử cướp ngôi, dù được mời nhưng hai anh em không muốn làm quan cho Lý Phật Tử, mà về ở ẩn ở núi Phù Long. Lý Phật Tử cho người lùng bắt, hai anh uống thuộc độc, thà chết vẫn trung thành với Triệu Việt Vương.
Hai bộ sử khác nữa từ thế kỷ 16, 17 là “Việt sử diễn âm” và “Thiên nam ngữ lục” cũng cho rằng bài thơ trên có từ cuộc chiến chống quân Tống năm 981.
“Việt sử diễn âm” có ghi chép rằng:
Tháng bảy có Tống binh sang
Toàn những tướng mạnh binh cường ba muôn
Đến thành Phù Lỗ đóng vây
Quân ta quân nó đôi bên ngất trời
Chưa phân thắng phụ về ai
Ngày rằm tháng chạp vua nằm chiêm bao
Thấy đôi thần nhân bãi nào
Trương Hống Trương Hát bước vào quỳ thưa
Chúng tôi thần đế lòng xưa
Phụng thờ nhà chúa bấy chừ chẳng sai
Tiên Hoàng có sắc chỉ bày
Đòi về phong chức cho tôi tước quyền
Trung thần bất sự nhị quân
Chúng tôi tự vẫn làm thần đạo ngay
Thượng đế thấy bộ thương thay
Phong chúng tôi rày Quỉ bộ thần quân
Đại Hành thức dậy mừng thay
Giết trâu liền có minh tài tế khao
Đêm sau vua lại chiêm bao
Thấy mặc áo mới liền vào tạ ơn
Có một người đứng án tiền
Lĩnh được trăm áo vàn vàn quỷ binh
Lấy ra chưng đất Nam Bình
Đại Hành sực thức gẫm tình mới hay
Nửa đêm thấy một cơn mây
Bạo phong hắc ám gió bay vội vàng
Tống binh mất vía trở dường
Chúng quỷ đánh gãy đao thương liền cờ
Bỗng nghe mảng tiếng không hư
Thần nhân hiện xuống có thơ ngâm rằng
Thi vân:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ cảm xâm phạm
Hội kiến phong trần tận tảo trừ
Còn trong “Thiên nam ngữ lục” thì ghi chép rằng:
Bấy giờ binh mã sửa sang
Địch cùng Nhân Bảo là thằng giặc Ngô
Mười buôn binh mạnh thẳng đua
Qua miền Giang Bắc, đây là Phù Lan
Đêm thấy hai ngài đến màn
Xưng danh là Hát, xưng danh là Hồng
Giúp đời Triệu Việt có công
Thuở chẳng như lòng, ẩn nội Phù Lan…
Ơn trên Thượng đế xét thương
Quyền cho chúa tể giữ phương yên này.
Bây chừ bệ hạ đến đây
Nguyện ra giúp nước phá này giặc Ngô
Phán rằng: Tướng quan y như
Công nên thời lập miêú thờ trả ơn
Ngày sau Nhân Bảo ra quân
Trên không nghe tiếng người ngâm thơ rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm
Hội kiến phong trần tận khử trừ
Vậy việc cho rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ là xuất phát từ đâu? Trong bài viết “Lịch sử, sự thật và sử học” được đăng trong báo Tổ Quốc, số 401 tháng 1/1988, Giáo sư Hà Văn Tấn có viết: “Không có một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chống Tống ở vùng sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát. Có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn, có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Nhưng đó chỉ là ‘đoán’ thôi, làm sao nói chắc được bài thơ đó là của Lý Thường Kiệt.”
Trong cuốn sách “Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn”, Hội sử học Hà Nội đã cho rằng, “Nam quốc sơn hà” ra đời vào thời Tiền Lê và được Lê Hoàn sử dụng trong cuộc chiến chống lại cuộc xâm lăng lần thứ nhất của quân Tống năm 981.
Trong Tạp chí Hán Nôm, số 1-2002, bài viết “Về thời điểm ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà” cũng đã khẳng định về thời gian, địa điểm ra đời của bài “Nam quốc sơn hà” thông qua việc phân tích 28 nguồn tư liệu khác nhau. Theo đó, “Nam quốc sơn hà” ra đời gắn liền với cuộc chiến chống Tống năm 981 và nhân vật lịch sử Lê Đại Hành (Lê Hoàn).
Bên cạnh đó, bài viết “Nam Quốc Sơn Hà và Quốc Tộ – Hai kiệt tác văn chương chữ Hán ngang qua triều đại Lê Hoàn” đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 5 năm 2005, Phó Giáo sư Bùi Duy Tân cũng đã khẳng định rằng bài thơ “Nam quốc sơn hà” có từ thời Tiền Lê.
Xem thêm: “Vị vua Việt dám tiến đánh Trung Quốc, không bị trách mà còn được tặng đai ngọc”.
Tác giả của bài thơ
Dù các dẫn chứng lịch sử cho thấy “Nam quốc sơn hà” được ra đời vào thới kỳ đánh Tống lần thứ nhất năm 981, nhưng lại không hề có bằng chứng nào nói về tác giả của bài thơ trên.
Một số người cho rằng tác giả có thể là thiền sư Đỗ Pháp Thuận bởi lẽ thời đó vua Lê Đại Hành rất tin tưởng các thiền sư như Pháp Thuận, Định Không, Vạn Hạnh, La Quý, Khuông Việt, Đa Bảo. Rất nhiều chinh sách đối nội, cũng như kế hoạch đánh Tống, Chiêm Thành, vua Lê Đại Hành đều hỏi qua các thiền sư trước rồi mới tiến hành làm. Kết quả đều rất tốt. Vua Lê cũng muốn dùng Phật Pháp để giáo hóa muôn dân, giúp dân chúng thăng hoa đạo đức, ổn định xã hội, giang sơn bền vững và cường thịnh.
Trong đó thiền sư Pháp Thuận là người “vận trù kế sách” ngay từ lúc vua Lê Đại Hành sáng nghiệp. Hơn nữa nhiều văn thư quan trọng thời ấy đều do thiền sư Pháp Thuận soạn thảo. Ông cũng là người sáng tác ra nhiều thơ ca. Chính vì thế mà một số người cho rằng có thể chính thiền sư Pháp Thuận là tác giả bài thơ này. Tuy nhiên đây cũng mới chỉ là suy đoán.
Trần Hưng
Bạn đang sao chép nội dung của Trí Thức VN. Nếu là cá nhân sử dụng, vui lòng ghi rõ nguồn trithucvn2.net. Nếu là website, kênh truyền thông, vui lòng chỉ sử dụng nội dung khi có sự cho phép của Trí Thức VN.
https://trithucvn2.net/van-hoa/khong-phai-cua-ly-thuong-kiet-bai-tho-nam-quoc-son-ha-co-tu-bao-gio.html
...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.
LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.
Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.