---
Thứ ba, 17/2/2026, 10:17 (GMT+7)Ngựa sắt biết bay, phun lửa trong truyền thuyết Thánh Gióng thể hiện sức mạnh, khát vọng chinh phục tự nhiên của người Việt cổ.
Trong 12 con giáp, mã (ngựa) có sự thống nhất giữa Việt Nam và nhiều quốc gia khác khi đều cùng chỉ một loài vật, khác với Mão (vốn là con mèo ở Việt Nam nhưng lại là thỏ tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản). Ngựa quen thuộc, xuất hiện nhiều trong đời sống văn hóa, văn học Việt với nhiều tầng ý nghĩa, biểu tượng.
Ngựa không chỉ là phương tiện giao thông phục vụ đời sống hàng ngày của người dân mà còn gắn với vai trò chiến đấu, cùng dũng tướng xông pha trận mạc, khi kỵ binh là lực lượng nòng cốt. Vì thế, nhiều con ngựa được phong chiến mã, gắn với biểu tượng về tốc độ, sức mạnh, lòng trung thành, công danh.
Ngoài ra, theo Tiến sĩ Chu Xuân Giao - Viện Nghiên cứu Văn hóa - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, biểu tượng ngựa là cầu nối giữa thế giới thực và thế giới tâm linh. Chẳng hạn, trong hệ thống thần linh Tam phủ, Tứ phủ, ngựa thờ đỏ được xem như một phương tiện hóa thân, chuyên chở thần lực siêu nhiên, đưa các vị Thánh từ cõi vô hình hiện diện trên trần gian.
Loài vật này cũng gần gũi, xuất hiện nhiều trong các trò chơi, lễ hội truyền thống. Ký ức tuổi thơ của không ít người có bài đồng dao "Chi chi chành chành/ Cái đanh thổi lửa/ Con ngựa chết trương/ Ba vương ngũ đế...", hay câu hát "Nhong nhong ngựa ông đã về/ Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn". Hình ảnh ngựa cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều tranh vẽ, được lựa chọn trong các công trình kiến trúc đền, chùa, miếu.
Tác phẩm "Ông Gióng" của cố họa sĩ Ngô Mạnh Lân, được giới thiệu trong triển lãm chuyên đề Ngựa trong nghệ thuật tạo hình, diễn ra từ ngày 30/1 đến 1/3 tại bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Trong văn hóa Việt Nam, ngựa chủ yếu mang màu sắc tươi sáng, gắn với mặt trời. Vì thế, năm Ngọ thường được kỳ vọng về sự cất bước, những chuyển đổi mang tính toàn diện - "ngựa phi nước đại".
Sự hiện diện đa dạng của hình tượng con ngựa trong đời sống văn hóa, tâm linh cũng được phản ánh, khúc xạ vào những trang văn. Theo tiến sĩ Văn học Hà Thanh Vân, mỗi thời kỳ, văn học lại có những quan niệm và thi pháp khắc họa khác nhau.
Trong văn học dân gian, ngựa mang đậm màu sắc kỳ ảo, siêu nhiên như ngựa sắt Thánh Gióng biết bay, phun lửa. Nó được thần thánh hóa, biểu tượng cho sức mạnh quật khởi, ý chí bảo vệ cộng đồng và khát vọng chinh phục tự nhiên của người Việt cổ.
Thời phong kiến, hình tượng con ngựa bị gò bó vào những quy phạm nghệ thuật có tính ước lệ cao. Nó thường gắn liền với hình tượng người anh hùng, bậc quân tử theo lý tưởng trung quân báo quốc, da ngựa bọc thây... Đồng thời, ngựa cũng là ẩn dụ nghệ thuật để diễn tả cái trừu tượng, mượn tiếng vó ngựa để tả nỗi sầu ly biệt (Chinh phụ ngâm), mượn "bóng câu qua cửa sổ" mà than thở về kiếp người hữu hạn trước thời gian vô thủy vô chung. Hình ảnh con ngựa lúc này mang tính triết lý và âm hưởng buồn.
Trong văn học hiện đại, đặc biệt là văn học lãng mạn giai đoạn 1930-1945, ngựa trở thành biểu tượng của cái tôi tự do và tinh thần kiêu bạc. Những chú "ngựa hoang" trong tác phẩm Ngựa đã thuần rồi mời ngài lên của nhà văn Lê Văn Trương thể hiện khát vọng xê dịch, phá vỡ định kiến và sống đúng với bản ngã của con người.
Tiến sĩ Hà Thanh Vân cho rằng sự chuyển biến của hình tượng con ngựa chính là quá trình văn học Việt Nam bước ra từ những huyền thoại và chuẩn mực phong kiến để chạm chân xuống mặt đất của hiện thực đời sống đa chiều. Thay đổi này, trước hết bắt nguồn từ vai trò thực tế của ngựa, vốn được đề cao trong thời cổ - trung đại, trong chiến trường, giờ đây, suy giảm trước sự ra đời của vũ khí cơ giới.
Bà Vân đồng thời lý giải quá trình này cũng cho thấy sự vận động của tư duy con người - từ vô ngã, hòa mình vào cộng đồng xung quanh đến chỗ tự ý thức về bản thân. Khi hệ quy chiếu thay đổi, tư tưởng chuyển dịch, con ngựa không còn gánh vác sứ mệnh quốc gia mà chuyển sang chuyên chở nỗi niềm, khát vọng tự do cá nhân, những góc khuất tâm lý của con người thời đại mới.
Vì thế, nghệ thuật miêu tả ngựa cũng chuyển từ bút pháp thần thoại, ước lệ tượng trưng sang tả thực và tâm lý hóa. Các nhà văn hiện đại nhìn ngựa và con người bằng con mắt đời thường, đi sâu vào những thân phận và nỗi đau, không còn nói đạo lý hay tạo vẻ anh hùng.
Dẫu vậy, cách quan niệm về ngựa của phương Đông vẫn nổi bật với việc xem đây là một phần của "trật tự vũ trụ và đạo lý" với thiên mệnh, đức trị, chiến công, con đường. Điều này khác với Phương Tây xem ngựa như cỗ máy của cá nhân và huyền thoại như trong thần thoại Hy Lạp (ngựa có cánh Pegasus đại diện cho thi ca và sự thăng hoa của trí tuệ), tinh thần hiệp sĩ (Don Quixote - Miguel de Cervantes), tự do (những bầy ngựa hoang Mustang).
Khánh Linh...
---
CẬP NHẬT
4.
Con ngựa trong Truyện Kiều
Vanvn- Thời nàng Kiều, những “năm Gia Tĩnh triều Minh” (1522-1566) bên Trung Quốc, cũng như ở nước ta thời đó, ngựa là phương tiện giao thông quan trọng. Đường thủy thì dùng thuyền, đường bộ nếu không bước bằng chân, nếu không sử dụng sức người khác thì phải cần đến ngựa. Bởi thế, nói đến đông người đi lại thì “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm” trong ngày hội thanh minh mở đầu thiên truyện và “Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh” nói cảnh vắng người qua lại trước nhà Đạm Tiên vào những ngày cuối đời của người ca kỹ bạc phận này.
Chắc do đường gần nên chị em Thúy Kiều đi bộ để tham dự lễ tảo mộ, hội đạp thanh, còn những người khác ở xa, thường dùng ngựa, dùng xe. Nhân vật dùng ngựa đầu tiên trong “Truyện Kiều” là một người “Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” họ Kim, tên Trọng. Chàng “lỏng buông tay khấu” cho ngựa đi từng bước nhỏ trong cảnh sắc mùa xuân, hút mắt bao người: “Tuyết in sắc ngựa câu giòn/ Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời”.

“Ngựa câu là ngựa non mới lớn, ngựa tốt” như lời giải thích của học giả Đào Duy Anh. Mùa xuân, “Cỏ non xanh tận chân trời”, với màu áo xanh non, chàng Kim xuất hiện trên lưng con ngựa câu lông trắng như tuyết, là hình ảnh đầu tiên của chàng mà nàng Kiều nhìn thấy. Điều này làm nàng tạm dứt nỗi buồn về con người bất hạnh Đạm Tiên, cỏ thôi “áy bóng tà” mà “Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha” dắt nàng vào cuộc tình thật lãng mạn nhưng đầy trắc trở. Sau kỳ thanh minh này, không chỉ nàng Kiều tơ tưởng chàng Kim, chàng Kim còn bỏ bê công việc, sách vở vì nhớ nàng Kiều. Nàng tơ tưởng chàng thì chỉ ngồi suông mà nhớ hoặc dẫn vào cõi chiêm bao, còn chàng thì khác: Nhớ thì tìm cách tiếp cận nàng. Trước là chàng thăm lại “nơi kỳ ngộ”, sau mới thuê một ngôi nhà cạnh nhà nàng. Nhưng chàng đi bằng gì nhỉ? “Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi” và “Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang” dễ làm chúng ta hình dung chàng đi bộ. Nhưng sau khi đã đính hôn với nàng Kiều, phải về quê hộ tang chú, thì: “Buộc yên, quẩy gánh vội vàng/ Mối sầu sẻ nửa, bước đường chia hai”.
Phải chăng chàng cưỡi ngựa và chú tiểu đồng tội nghiệp phải gánh và đi bộ, hay “buộc yên, quẩy gánh” chỉ là một thành ngữ nói sự ra đi?
Bỏ lại lời thề bồi, hẹn ước, gặp cảnh “gia biến”, nàng Kiều phải bán mình chuộc cha, theo Mã Giám Sinh rời nhà từ Bắc Kinh suốt một tháng ròng về Lâm Tri. Nàng đã đi bằng gì? Xin thưa: Bằng xe ngựa kéo. Điều này Nguyễn Du nói ngay từ lúc chia ly: “Đoạn trường thay lúc phân kỳ/ Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh”.
Và khi đến Lâm Tri: “Xe châu dừng bánh cửa ngoài…” thì vẫn là chiếc xe ngựa ấy mà thôi.

Đi xe ngựa thì dễ, chẳng phải tập tành gì, ngồi kèm với người khác trên lưng ngựa cũng không khó. Chúng ta ngạc nhiên là nàng Kiều được nuôi dạy trong chốn “thâm nghiêm kín cổng, cao tường” ấy mà lại biết một mình cưỡi ngựa, không những thế, còn đi đường rừng trong đêm lẻn trốn cùng Sở Khanh: “Cùng nhau lẻn bước xuống lầu/ Song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn”.
Đi trong “đêm thu khắc lậu, canh tàn” ấy, để đến khi “Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào” thì nàng mới biết mình bị lừa.
Thúc Sinh có hai lần cưỡi ngựa. Lần thứ nhất từ biệt Thúy Kiều ở Lâm Tri để về Vô Tích với Hoạn Thư: “Người lên ngựa, kẻ chia bào/ Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”.
Và lần thứ hai, từ giã Vô Tích, lên đường trở lại Lâm Tri: “Được lời như cởi tấc son/ Vó câu thẳng ruổi nước non quê người”.
Lưu ý với bạn đọc rằng, đây là sáng tạo về phần cốt truyện của Nguyễn Du, còn trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, Thúc Sinh đi bằng thuyền!

Có một lần Thúy Kiều được ngựa chở đi, nhưng nàng không hề hay biết, đó là sau khi bị bọn Khuyển, Ưng đánh thuốc mê: “Vực ngay lên ngựa tức thì/ Phòng đào, viện sách bốn bề lửa giong”.
Rồi chúng đưa nàng xuống thuyền, rời Lâm Tri về Vô Tích để Hoạn Thư thực thi kế hoạch đánh ghen “có một không hai” của bà.
Nếu như hình ảnh chàng Kim xuất hiện với con ngựa màu trắng tuyết đã để lại ấn tượng đẹp của kẻ thư sinh trong nàng Kiều thì con ngựa với Từ Hải sau ngày chiến thắng đã khắc dấu sự oai hùng của vị tướng: “Kéo cờ lũy, phát súng thành/ Từ công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài” để đón nàng Kiều sau thời gian xa cách…
Qua đây, ta thấy rằng, không chỉ nàng Kiều từng đi xe ngựa, biết cưỡi ngựa, mà 5 người đàn ông liên quan đến cuộc đời nàng (Kim Trọng, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Thúc Sinh, Từ Hải), trong đó có 3 người nàng từng yêu thương, đều đã sử dụng phương tiện giao thông bằng sức ngựa. Như vậy, con ngựa cũng có công trong… “Truyện Kiều”!
VƯƠNG TRỌNG
Báo Quân đội Nhân dân
https://vanvn.vn/con-ngua-trong-truyen-kieu/
3.
Biểu tượng ngựa trong văn hóa dân gian Việt Nam

Giấy, khắc thạch cao - 46,5cm x 43,5cm
1. Dẫn nhập
Ngựa (Equidae), họ thú có guốc lớn, thuộc bộ Guốc lẻ (Perissodactila) được các dân tộc thuần dưỡng ở những thời gian sớm muộn khác nhau và đến nay hàng triệu con ngựa đang được phân bố rộng khắp thế giới với những ngoại hình, kích thước và màu sắc, thậm chí cả đến tên gọi cũng khác nhau. Với khoảng 200 giống ngựa được dùng để sử dụng trong nhiều mục đích như cưỡi, kéo xe, thồ hàng, làm ngựa chiến, ngựa đua, du lịch, giải trí, ngựa đã và đang giữ vai trò trọng yếu trong đời sống dân sinh của các dân tộc. Trong văn hóa lịch pháp truyền thống phương Đông, ngựa là con vật thứ bảy trong 12 con giáp, góp phần làm căn cứ cho các dấu mốc tự nhiên, nhằm xác định thời gian tính theo chu kỳ, trở thành những dấu “mốc” được thiêng hóa, cho phép giải đoán, dự báo về điều hay - dở, sự tốt - xấu của một vòng đời người được sinh ra trong năm… Ngọ! Xuất phát từ quá trình quan sát một cách sâu rộng, chính đặc điểm tự nhiên của loài ngựa mà từ một con vật có thật ngoài đời, qua lăng kính văn hóa của con người, trở thành những hình tượng luôn hiện diện với vẻ đẹp của một biểu tượng, một cốt cách được nhân tính hóa. Từ đó, với hành trang là một trong những con vật sớm được thuần hóa, gần gũi với đời sống của con người (giống như trâu, gà, chó, lợn), ngựa luôn được mọi người bạn thân thiện bởi dáng vẻ đẹp đẽ nhưng mạnh mẽ, sung mãn mà thanh nhã, hiền lành, đồng thời cũng bởi đức tính trung thành, sống có tình có nghĩa với chủ nhân của nó, làm căn cứ hoặc điểm xuất phát cho các tham số của các nhà thần học, tướng số học hướng đến các mẫu số chung về những thời khắc năm - tháng - ngày - giờ của một đời người gắn với năm sinh cầm tinh con ngựa. Chính vì thế, không phải ngẫu nhiên mà từ hàng nghìn năm trước, ngựa đã là động vật gắn với đời sống của con người, trở thành người bạn thường nhật, “trợ lý” giúp việc trung thành, được con người yêu quý. Nhiều nơi trên thế giới, con ngựa là hiện thân của năng lực, may mắn, hạnh phúc, quyền thế, là biểu tượng cho sự mau lẹ, sức mạnh, nghị lực, sáng tạo, giàu sang, đồng thời cũng là loài vật tượng trưng cho uy lực, sự trung thành, táo bạo và sức sống mãnh liệt. Trong số 12 con vật biểu tượng của 12 con giáp, con ngựa biểu tượng của năm Ngọ - là một trong những con vật được con người coi trọng và sử dụng nhiều nhất.
Hình ảnh con ngựa xuất hiện từ rất sớm trong các nền văn minh thế giới. Tuy nhiên, tại mỗi vùng đất với các đặc trưng khí hậu, địa hình và địa văn hóa cùng các loại sinh kế khác nhau, diện mạo hiện tồn của con ngựa lại khoác lên vai nó những trọng trách riêng, phù hợp với môi trường tồn tại của chính nó. Cũng vì thế, tại nhiều dân tộc trên thế giới, phương Đông cũng như phương Tây, con ngựa không những có một vị trí quan trọng trong cuộc sống hằng ngày mà đã đi vào thế giới tinh thần và thẩm mỹ của con người, ngựa đã trở thành một biểu tượng của văn chương và nghệ thuật nói riêng, của đời sống tinh thần con người nói chung, từ Đông sang Tây từ nhiều nghìn năm trước.
Với Việt Nam, tuy là nước hình thành nên từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước cổ truyền, con ngựa không xuất hiện sớm trong không gian sinh kế như ở các vùng đất cao nguyên, non cao rừng thẳm của các bộ lạc/ dân tộc du mục hay các tộc người gắn bó sinh kế trồng trọt, chăn nuôi thuộc các châu lục khác, nhưng hình bóng con ngựa vẫn được con người thuần hóa từ cách ngày nay hàng nghìn năm để gắn bó với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đặc biệt, từ hình dáng của con vật ngoài đời, ngựa “bước” vào thế giới của văn hóa dân gian người Việt đã trở thành các biểu tượng mang nhiều ý nghĩa thông qua các truyện kể, các thực hành tín ngưỡng hay các hình thức sinh hoạt nghệ thuật dân gian và các loại hình diễn xướng, mỹ thuật, lời ăn tiếng nói, do cộng đồng qua các thế hệ sáng tạo, gìn giữ và trao truyền, góp phần làm nên bản sắc văn hóa vô cùng đa dạng và sinh động của dân tộc. Và như vậy, việc quan tâm tìm hiểu để nhận diện hình tượng con ngựa trong văn hóa dân gian Việt cũng chính là hướng tiếp cận để nhận thức một phần diện mạo văn hóa truyền thống của cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam trên tiến trình lịch sử.
2. Biểu tượng ngựa trong tư duy huyền thoại và tín ngưỡng
Trong tâm thức cổ xưa của nhân loại và cũng là của người Việt cổ, thế giới tự nhiên qua lăng kính cảm quan của con người đọng lại sức mạnh ấn tượng nhất chính là Mặt Trời - nơi biểu trưng cho thế lực mang lại sự tồn tại của các giống loài, nơi kết nối các liên kết vô hình và hữu hình của vũ trụ, được hình tượng hóa thành một chiếc đĩa vàng khổng lồ, đặt trên cỗ xe do ngựa kéo phi nhanh qua bầu trời vũ trụ, với năng lượng vĩnh cửu vô biên. Về hướng tư duy này, nhà nghiên cứu mỹ thuật truyền thống Trần Lâm Biền đã có lần dẫn lại lời tâm sự mang ý nghĩa chỉ dẫn của nhà dân tộc học lừng danh Từ Chi: “Khi ngồi trao đổi với Giáo sư Từ Chi, ông có gợi ý rằng: hươu và ngựa vốn ở đồng cỏ, trong tâm thức cổ truyền, khi con vật có bộ lông màu lửa này lướt chạy, người ta nghĩ nó như biểu tượng của ánh sáng, dần dần nó được coi là một linh vật cõng mặt trời chuyển động” (Trần Lâm Biền - Trịnh Sinh, 2011, tr.241). Và như vậy, ngựa là con vật hiếm hoi trở thành biểu tượng được tư duy huyền thoại của loài người tôn sùng thành hiện thân biểu thị cho Mặt Trời, tượng trưng cho cái cao cả, cho sức mạnh và quyền uy giữa vũ trụ bao la! Chính vì thế, trong lịch sử nhân loại, mang sức mạnh và uy lực biểu thị như sự hiện diện của Mặt Trời, ngựa đã trở thành loài vật luôn gắn bó với điểm nóng của xung khắc là chiến tranh, trong đó lồng lộng hình bóng của các chiến binh mang danh kỵ binh kiêu hùng, những hiệp sĩ chinh phạt mọi vùng đất hoặc hiên ngang giữa sa trường chống trả ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước từ trên lưng ngựa, để lại cho lịch sử nhân loại hình ảnh các danh tướng bất tử, được nhân loại tôn thờ hoặc ngược lại, bị coi là các sát nhân, bị người đời căm hận, được in dấu vào hàng loạt huyền thoại cùng các thực hành lễ hội, tín ngưỡng của nhiều dân tộc, tộc người qua các thế hệ (Jean-Francois Froger & Jean-Pierre Durand, 2014, tr.207).
Nếu như giới cổ nhân học đã chỉ ra rằng, con người thuần hóa ngựa sớm nhất cách đây khoảng 5.500 năm ở Kazakhstan và sự phổ biến của vết chân ngựa trên khắp lục địa Á - Âu đã sớm dẫn đến việc sử dụng chúng trong chiến tranh quy mô lớn. Hình bóng con ngựa sắt đã in dấu trong huyền thoại Gióng từ đời Hùng Vương thứ sáu, xung trận đánh giặc Ân, bảo vệ quê hương đất nước vào khoảng trên dưới 3.000 năm TCN, cuối thời đại đồng thau ở Việt Nam. Ngàn vạn những ao đầm khắp vùng trung châu - Kinh Bắc xưa, theo huyền tích đó là những vệt chân ngựa Gióng, đưa người anh hùng mang giáp sắt, roi sắt và gậy tre đằng ngà ngang dọc cùng dân quê đánh tan giặc thù, kết thúc chiến tranh, người cùng ngựa lên đỉnh Sóc Sơn thanh thản hóa vào vĩnh cửu. “Và “những vết chân ngựa Gióng” còn in hằn trên mặt Đất, mãi mãi in sâu trong lòng Đất, trong lòng Người, trong lòng Lịch sử… như chứng cứ muôn đời không phai của kỳ tích anh hùng…” (Trần Quốc Vượng, 2014, tr.165). Hội Gióng giữa cái nắng chói chang của đầu mùa hạ được trải dài hàng cây số, tái hiện cuộc đại chiến đánh giặc Ân, trong đó, nhân vật trung tâm của lễ hội lại chính là Đại Bạch Mã - Con ngựa chiến màu trắng khổng lồ dũng mãnh biểu thị cho chính Đức Thánh “lao” trên sa trường, giữa không khí náo nhiệt của đội quân phù giá theo chân Đức Thánh ra trận. Nhận diện ý nghĩa biểu tượng ngựa trong Hội trận lừng danh này, cố GS Trần Quốc Vượng (2003, tr.339) đã từng phân giải: “Trong hội Gióng, tế lễ từ sáng, song phải chờ đúng Ngọ (giữa trưa nắng) người ta mới rước kiệu và tượng Ngựa trắng từ đền lên đường đê để bắt đầu đám rước hội và diễn xướng cảnh “đánh giặc Ân”. Giặc Ân được biểu tượng bằng 28 tướng nữ, tức “nhị thập bát tú”, 28 vì sao sáng nhất của bầu trời Đêm, tượng trưng đêm tối. Thánh Gióng cưỡi ngựa đánh thắng giặc Ân - là tượng trưng Mặt Trời xua tan đêm tối. Giặc tan Thánh Gióng phi ngựa từ Đông (núi Châu Sơn - Phả Lại) sang Tây (núi Sóc Sơn) rồi bay biến mất. Đó là tượng trưng sự vận động biểu kiến của Mặt Trời từ Đông qua Tây…”.
Và tiến trình lịch sử của dân tộc đã liên tiếp chứng kiến các cuộc xung trận của biết bao anh hùng trên yên cương các tuấn mã khắp mọi chiến trường chống trả giặc ngoại xâm qua hàng chục thế kỷ, từ các triều đại quân chủ phong kiến độc lập Đinh - Lý - Trần - Lê đến những cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc sau này. Cũng từ đây, với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tri ân những người đã có công hy sinh vì dân vì nước, cộng đồng người dân ở hầu khắp mọi miền đất nước đã mang tâm thế hướng tâm, lập đền thờ, tôn vinh, tri ân các bậc tiền nhân có công với dân với nước, thường niên thực hành hàng nghìn lễ hội truyền thống cùng các thực hành tín ngưỡng mang bản sắc dân tộc. Trong không gian của những hoạt động văn hóa đặc biệt đó, thường có sự hiện diện của những hình ảnh ngựa chiến, biểu tượng cho hiện thân của chính những chiến binh được ngợi ca và tri ân, tôn vinh như những chủ điện thờ bất tử, muôn đời được cộng đồng ghi nhớ, tưởng niệm và hương khói phụng thờ, tái hiện sự nghiệp qua các kỳ lễ hội. Không khó để trực diện chiêm ngưỡng những bức tượng ngựa mang màu sắc khác nhau, kèm theo những tên gọi gắn với các chủ điện thờ, được an tọa trong những không gian văn hóa thiêng, được tôn vinh không khác gì nhân vật được phụng thờ tại chính không gian thiêng đó. Và có trường hợp, biểu tượng ngựa được đẩy lên vị trí tối thượng của thần Mặt Trời, biểu thị cho sức mạnh hoặc chiến công mang tầm quốc gia, với ý nghĩa thiêng liêng in dấu vào lịch sử văn hóa dân tộc. Đến với một trong “tứ trấn” của kinh thành Thăng Long, nơi đang hiện diện hình ảnh một bức tượng ngựa chiến màu trắng biểu thị cho vị thế của thần chủ trong điện thờ, án ngữ ngay Tiền đường ngôi đền mang tên Bạch Mã (số 78 phố Hàng Buồm), đồng thời được tiếp cận một văn bản ghi lại huyền thoại nổi tiếng đất Thăng Long: Vào thời khắc Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, ông cùng quan quân bắt tay xây thành Đại La, nhưng đã mấy tháng ròng vẫn không xây nổi. Một đêm vua nằm mộng thấy một con ngựa trắng nói tiếng người: “Mạch đất Long Biên rất thiêng, nay đắp thành, mạch sẽ tắc... nên cho đào một cái cừ thông sang sông Thiên Phù và Tô Lịch để mạch lưu thông, nếu không chỉ phí công”. Tỉnh giấc, vua bèn làm như lời ngựa trắng đã gieo. Chẳng bao lâu, thành xây xong. Vào đúng ngày khánh thành, có con ngựa trắng bỗng hiện ra cạnh thành. Quân sĩ xua đi, ngựa chạy đến đền thờ Long Đỗ thì mất dấu. Vua cho đó là hiện thân của thần Long Đỗ liền xuống chiếu phong là Bạch Mã đại vương. Và theo Đại Việt sử ký toàn thư lại có con “Bạch Long thần mã” biết trước lúc nào vua ra đi. Dấu ấn Bạch Mã trở nên rất sâu sắc đối với văn hóa Đại Việt đời Lý, thậm chí ông vua Phật tử này đặt tên con trai mình là Lý Phật Mã (tức Lý Thái Tông). Cũng từ đấy, Đức vua cho xây ngôi đền để phụng thờ thần Long Đỗ và thần Bạch Mã và trong tâm thức người dân, thần Bạch Mã chính là biểu tượng thần Mặt Trời, luôn phù trợ, mang lại cuộc sống bình an cho vùng đất Thăng Long trên tiến trình lịch sử.
Với các dân tộc thiểu số, ngựa đi vào tín ngưỡng dân gian và được các thế hệ thày Tào, thày Mo, thày Pựt lựa chọn để sáng tạo nên các hình tượng ngựa thông qua các diễn xướng đưa, tiễn các linh hồn lên thượng giới hoặc là vật thiêng đón, đưa các thần linh ngược xuôi cõi trần để chữa bệnh, phù trợ cho các chúng sinh, để lại những di sản văn hóa diễn xướng dân gian hấp dẫn, mang bản sắc văn hóa tộc người với nhiều ý nghĩa nghệ thuật có giá trị cho cộng đồng.
3. Biểu tượng ngựa hiển thị cho sức mạnh và khát vọng trong đời sống xã hội
Nếu như trong huyền thoại, bóng dáng của con ngựa sắt cùng Đức thánh Gióng đã “xuất hiện” từ đời Hùng Vương thứ sáu, đánh thắng giặc ngoại xâm bảo vệ vẹn toàn đất nước, đánh dấu sự hiện diện của biểu tượng ngựa trong tâm thức người dân thì tư liệu khảo cổ học đồng thời cho thấy, hình tượng ngựa của Việt Nam cổ nhất có thể tìm thấy qua những nét vẽ còn để lại trong những viên gạch (vẽ để làm khuôn đúc) thuộc mỹ thuật Đại La, được phát triển trong thời Bắc thuộc (từ khoảng thế kỷ II TCN, tương đương với khoảng thời gian hiện diện của thời đại các Vua Hùng). Trong mỹ thuật Đại La, giới khảo cổ học cũng tìm thấy nhiều di tích vẽ ngựa khác hoặc in trên những mảnh gốm, hoặc đúc thành những mảnh trang trí nhỏ gắn vào các kiến trúc trong khoảng thời gian lịch sử vẻ vang này của dân tộc. Trên nền cảnh của tiến trình lịch sử văn hóa đó, con ngựa đã sớm đi vào tiềm thức con người như một biểu tượng góp phần phản ánh đời sống thường nhật của người dân và xã hội thông qua các phương thức và tình thái biểu hiện khác nhau. Thực tiễn cho thấy, đã từ hàng trăm năm qua, ngựa là một trong số những loài vật được mô tả khá sinh động trên tranh, tượng dân gian Việt Nam. Ngựa có mặt trên các phù điêu gỗ, đá ở các đền miếu và trên tranh làng Hồ và Hà thành từ xa xưa, đặc biệt là trong các đồ thủ công mỹ nghệ. Tranh, tượng về ngựa rất phong phú, đa dạng, không chỉ giới hạn ở nơi thờ tự, trong cung đình mà còn phổ biến ra ngoài dân gian. Xuất phát từ tình cảm của con người đối với con ngựa không khác gì đối tượng gần gũi, tâm giao, nơi gửi gắm những tâm tư, ý nghĩ của con người về nhân tình thế thái mà qua bàn tay điêu luyện của các thế hệ nghệ nhân, hình tượng con ngựa hiện lên trong các bức tranh với nhiều diện mạo khác nhau, vừa như phản ánh nhận thức của con người về xã hội, vũ trụ, nhân sinh, vừa như thỏa mãn những mong ước, tâm tư của chính các nghệ nhân về thời cuộc, về đời sống sinh hoạt thường nhật, kèm theo những đánh giá thẩm mỹ được cộng đồng đón nhận với thái độ đồng thuận và tri ân. Chính vì thế, như một nét đẹp văn hóa truyền thống, vào mỗi dịp Tết đến, người dân thường sắm tranh Tết về trang trí trong nhà để đón xuân, trong đó có tranh con ngựa được hiện hình khi là dáng vẻ của những con tuấn mã, khi lại gắn với chân dung của các nhân vật huyền thoại hay lịch sử đích thực, trong vai rước quan vinh quy bái tổ, hay giúp sức cho con người cùng vượt qua những thử thách trong cuộc sống nói chung. Cũng từ tâm thế như vậy, dưới con mắt của dân gian, ngựa mang những trọng trách và dáng vẻ khác nhau để tham gia vào cuộc sống xã hội của con người, khi thì trong hiện thân của một con ngựa hồng vui vẻ đang nhịp bước trong tác phẩm Đám cưới chuột của dòng tranh Đông Hồ; lúc khác lại ở tư thế hùng dũng của một chú ngựa chiến được khắc họa hết sức oai vệ đưa Phù Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân hay đón Vua Quang Trung vào Thăng Long mở tiệc mừng cùng quan quân vui Nguyên Đán trong nhiều tranh dân gian khác, như tranh làng Sình (Phú Vang, Huế), tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng (Hà Nội) những trăm năm qua!
Nhìn chung, cho đến nay, giới cầm cọ ở mọi vùng đất đều đồng thuận cho rằng, trong các loài thú bốn chân thì loài vật đẹp nhất vẫn là con ngựa, cả về dáng, thế, hình. Ngắm nhìn các bức tranh hiện hình vóc dáng ngựa, rất dễ nhận ra sự đa dạng về hình thức màu sắc bắt mắt (ngựa lông trắng mang tên ngựa bạch, ngựa lông đen tuyền mang tên ngựa ô, ngựa lông trắng sọc đen mang tên ngựa vằn, ngựa lông tím đỏ pha đen mang tên ngựa tía) đến dáng vẻ vừa uy nghi dũng mãnh vừa thể hiện các tư thế mang tính thẩm mỹ hấp dẫn (ngựa phi nước kiệu, ngựa phi nước đại...). Cũng vì thế, đã và đang có những họa sĩ, điêu khắc gia tài hoa đam mê gắn tên tuổi của mình với những bức họa ngựa danh tiếng trong, ngoài nước.
Để biểu thị cho sức mạnh và khát vọng trong đời sống văn hóa xã hội của con người, biểu tượng ngựa còn được khắc họa khá phổ biến trong nghệ thuật tạo hình tại các di tích lịch sử văn hóa tâm linh hay các không gian thờ phụng tại gia của các gia đình tại các làng bản ở hầu khắp các vùng miền trên phạm vi cả nước. Đã có hàng trăm bài báo mô tả, ca ngợi vẻ đẹp của con ngựa thông qua các bức tạo hình dân gian được chạm khắc trong kiến trúc chùa Phật Tích (Bắc Ninh) thế kỷ XI, con ngựa có cánh trên lưng được dân chúng coi là vật thiêng ở kiến trúc đình Tây Đằng (Hà Nội) thế kỷ XVI, trên các bức chạm trổ hương án chùa Bút Tháp thế kỷ XVII, hoặc bản khắc trên ván in tại chùa Tây Mỗ (Hà Nội) thế kỷ XIX… Đấy là chưa kể đến hàng loạt biểu tượng ngựa được chạm khắc thành hình ảnh Long Mã mang đầu rồng, thân ngựa, chân hươu, đuôi bò trên kiến trúc chùa Trà Phương (Hải Phòng) thế kỷ XVI, ngựa mang dáng hình một tuấn mã để các tướng lĩnh cưỡi khi đấu võ trên kiến trúc đình Nội (Bắc Ninh)… Thực tiễn của ký ức thông qua hội họa tạo hình và điêu khắc dân gian từ các không gian thiêng tại các làng quê đã là những minh chứng cho hình ảnh con ngựa đã in sâu vào tâm trí của nghệ sĩ dân gian, chứng tỏ họ rất yêu thích, quý mến loài ngựa, muốn biến hình ảnh con ngựa thành một hình tượng nghệ thuật có tầm vóc ngang hàng với những linh vật khác được tôn thờ, nơi gửi gắm tâm tư, ý nghĩ, tình cảm, thậm chí cả thái độ của cộng đồng đối với thực tại xã hội hoặc tình cảm đối với quê hương đất nước trên tiến trình lịch sử làm ăn và tồn tại.
4. Thay lời kết
Mặc dù Việt Nam không phải là quê hương nảy sinh hoặc thuần hóa nuôi dưỡng loài ngựa sớm như nhiều nước khác trên thế giới, nhưng qua văn hóa dân gian, dấu ấn hiện tồn của các biểu tượng ngựa thông qua các huyền thoại hay thực hành tín ngưỡng được trao truyền trong cộng đồng, các sản phẩm sáng tạo nghệ thuật qua các kiến trúc và đời sống xã hội của các dân tộc có cội nguồn hình thành từ một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, có thể thấy rằng, đã từ nhiều nghìn năm qua, ngựa là một trong những loài vật sớm gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của người dân đất Việt. Không phải ngẫu nhiên mà từ thời Hùng Vương dựng nước cách ngày nay hàng nghìn năm, huyền thoại Thánh Gióng vươn mình uy dũng trên lưng con ngựa sắt, vung kiếm sắt và sau đó là những khúc tre đằng ngà lao ra trận tiền, cùng dân chúng hợp sức đánh thắng giặc Ân cứu nước và hóa thân vào bất tử, đã đưa hình tượng con ngựa sắt lên thành biểu tượng cho chủ nghĩa yêu nước và ý chí chống giặc ngoại xâm của cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam trên tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước.
Cũng từ đây, trên hành trình cộng cư, cộng cảm, cộng sinh và cộng mệnh, các dân tộc trong cộng đồng quốc gia đa dân tộc đã qua đời sống xã hội của mình, cho phép nhận diện được mối quan hệ thân thiết giữa con người với con ngựa - một trong những loài gia súc ăn cỏ, trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở khắp mọi miền quê. Ngựa vừa là hiện thân biểu tượng cho một đấng linh thiêng, có quyền uy phù trợ cho cuộc sống sinh tồn của con người trong vị thế như các chủ điện thờ tại nhiều không gian văn hóa tâm linh, vừa là người bạn thân quen, nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm cùng những khát vọng của cộng đồng trong những điều kiện phát triển xã hội nhất định.
Có thể còn nhận diện được nhiều điều từ biểu tượng ngựa trong quan hệ giữa con người với con vật thân thiện trên tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc: đó là biểu tượng ngựa với võ công qua các triều đại trong lịch sử chống ngoại xâm; biểu tượng ngựa trong lời ăn, tiếng nói, thành ngữ, tục ngữ của người dân trong môi trường văn hóa sinh thái, môi trường văn hóa nhân văn và môi trường văn hóa xã hội; biểu tượng ngựa trong thế giới mỹ thuật đương đại; biểu tượng ngựa trong thực hành văn hóa tín ngưỡng các dân tộc, tộc người; biểu tượng ngựa trong kiến trúc và sáng tạo tạo hình đương đại… Đương nhiên, để thực hiện hoặc giải mã các vấn đề đang đặt ra, cần có sự cộng hưởng của công sức, trí tuệ và tình cảm của nhiều thế hệ, hiện tại và lâu dài.
________________________
Tài liệu tham khảo
1. Jean-Francois Froger & Jean-Pierre Durand, (Lê Thành dịch). (2014). Biểu tượng và ý nghĩa của các loài thú trong Thánh Kinh. Nhà xuất bản Hồng Đức.
2. Trần Lâm Biền - Trịnh Sinh. (2011). Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long Hà Nội. Nhà xuất bản Hà Nội.
3. Trần Quốc Vượng. (2003). Biểu tượng ngựa và năm con ngựa. In trong sách: Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm. Nhà xuất bản Văn học.
4. Trần Quốc Vượng. (2014). Trong cõi. Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 25/12/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 18/1/2026; Ngày duyệt bài: 30/1/2026.
GS, TS BÙI QUANG THANH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 633, tháng 2-2026
2.
Ngựa trong di tích, lễ hội Xứ Lạng
Ngựa là một trong những vật linh rất phổ biến trong tín ngưỡng của người Việt Nam nói chung và Lạng Sơn nói riêng. Trong các di tích lịch sử văn hoá, lễ hội ở tỉnh, ngựa xuất hiện dưới nhiều hình thức, ý nghĩa khác nhau. Qua đó thể hiện thế giới quan của người Xứ Lạng về con người, cuộc sống với vũ trụ và thần linh.

Trong đời sống của người Việt, ngựa là con vật vốn rất gần gũi, thân thuộc. Dân gian xếp ngựa vào nhóm “lục súc” – sáu vật nuôi trong nhà gồm: trâu/bò/ngựa, dê/cừu, chó, mèo, lợn, gà. Người Việt quan niệm ngựa là loài vật thanh khiết bởi chúng có đặc tính sống trên núi cao, ăn cỏ mọc tự nhiên và uống nước suối. Ngựa cũng tượng trưng cho trí tuệ, đức tính hiền hoà, lòng trung thành và sức mạnh... Đó là loài vật có vai trò rất lớn trong đời sống của con người. Thời kỳ lịch sử trung - cận đại, ngựa là phương tiện giao thông chủ yếu của con người, là bạn đường của quân sĩ, sứ giả trên những nẻo xa vạn dặm. Ngựa chuyên chở hàng hoá thay cho sức người. Ngựa biểu trưng cho giàu sang, quyền quý trong câu nói của người xưa “Lên xe xuống ngựa” bởi trước đây thường chỉ người giàu mới đi ngựa. Trong đời sống tâm linh, ngựa luôn gắn với các vị thánh thần, các bậc chân tu để tạo nên hình ảnh những con người cao sang, đầy quyền năng và sức mạnh. Hình ảnh các vị thánh thần oai phong cưỡi trên lưng ngựa, dắt ngựa vi hành đã trở thành một biểu tượng văn hoá cao quý, đẹp đẽ trong tâm thức người Việt. Ở Lạng Sơn, chúng ta thường bắt gặp hình ảnh ngựa trên các bức chạm đá, bích hoạ, trên áo hành lễ, ấn tín, tranh thờ của thầy mo, then các dân tộc thiểu số: Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Sán Chỉ… Tượng trưng cho sức mạnh, tài lộc và thành công, ngựa được thờ cúng trong đền, miếu, là linh vật được diễn diễu trong các đám rước của lễ hội.
Trong các di tích tín ngưỡng ở Lạng Sơn, rất ít khi thấy sự tồn tại của ngựa với tư cách tượng tròn như ở các tỉnh miền xuôi. Ngựa xuất hiện chủ yếu dưới dạng phù điêu, đồ mã. Bức chạm đá hình ngựa sớm nhất hiện biết là hình trang trí điển tích Trung Hoa ở chân bia đền Tả Phủ (phường Kỳ Lừa) có niên đại năm Chính Hoà thứ nhất (1683), đời vua Lê Hy Tông. Trong bức hình minh hoạ cảnh thầy trò Đường Tăng đi Tây Trúc thỉnh kinh có hình bóng của con ngựa đóng yên cương rất đỗi trung thành, cần mẫn rảo bước phía sau cùng. Hình ảnh ngựa vừa gần gũi với đời thường, vừa mang ý niệm thiêng liêng đó cho ta cảm xúc sâu đậm về loài vật thân thuộc mà cao cả.

Sau đó khoảng gần một thế kỷ, chúng ta lại bắt gặp hình tượng ngựa trong một đồ án trang trí khác tại di tích chùa Tam Giáo (phường Tam Thanh). Năm 1779, khi chọn biểu tượng Phật giáo để thờ cùng đạo Nho, đạo Giáo, quan Đốc trấn Lạng Sơn Ngô Thì Sĩ (1726 -1780) đã cho tạc trên vách đá hình một người cưỡi ngựa trắng đi trước, phía sau là tiểu đồng cầm gậy tầm xích và một người cầm bộ kinh Kim cương. Bên cạnh đó là dòng chữ Hán “Đại thánh xuất yên” (Bậc đại thánh ra đời). Hình ảnh ngựa trắng ở đây vừa biểu hiện cho sự thanh khiết, tôn quý của đạo Phật, vừa tượng trưng cho ánh sáng, hạnh phúc của Phật pháp khi đến với chúng sinh. Đó là những bức chạm ngựa cổ nhất ở Lạng Sơn chứa đựng giá trị nhiều mặt về lịch sử, mỹ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng…
Tại các di tích, qua thư tịch cổ, chúng ta thấy thấp thoáng bóng dáng ngựa của các sứ giả ở nơi cổng đền, miếu. Sách Lạng Sơn Đoàn Thành đồ do Tể tướng Nguyễn Nghiễm biên soạn năm 1758 có nhắc đến hình ảnh những con ngựa của sứ giả mỗi khi đến các ngôi đền thiêng “Phàm các sứ thần, khi ngựa mã qua đây, đều phải cáo yết, sau đó mới qua sông…”. Mỗi khi chuẩn bị vào các ngôi đền cáo yết theo lệ, sứ giả xuống ngựa (hạ mã) để vào làm lễ.
Tại một số ngôi đền, ngựa được bài trí ở các cung thờ gắn bó mật thiết với các vị thần được thờ. Thôn Khòn Pựt, xã Hoàng Đồng là nơi có ngôi đền thờ Đoàn Thị Trúc. Bà được vua Minh Mệnh phong làm liệt nữ năm 1833 vì đã quyên sinh để giữ trọn phẩm hạnh, trinh tiết, được nhân dân lập đền thờ. Trong ngôi đền này có sự hiện diện của đôi ngựa trắng ở trên bức tường gian Hậu cung – nơi đặt ban thờ Đoàn Thị Trúc. Ngựa được tạo tác dưới dạng phù điêu theo xu hướng tả thực, đứng chầu hai bên ban thờ trong tư thế đối nhau. Hình dáng ngựa trắng đầy đặn, uyển chuyển đứng dưới lọng che tượng trưng cho sự trinh bạch, cao quý của người được thờ phụng, đúng với ý nghĩa bốn chữ vàng đã được nhà vua ban tặng “Đoàn Thị trinh nữ”. Tại đền Gốc Sung (phố Vàng Cai, khu 3, xã Thất Khê) thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo, cũng có một đôi ngựa tía chầu dưới dạng phù điêu trên tường giống đền Thị Trúc. Hình ảnh đôi ngựa chiến màu đỏ sẫm đầy dũng mãnh bài trí cùng đồ Bát bửu làm tăng thêm vẻ uy phong của Đức thánh Trần – vị võ tướng lẫy lừng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
Trong các di tích thờ Mẫu ở Lạng Sơn, hình tượng ngựa thường xuất hiện dưới dạng đồ thờ và đồ mã. Ngựa trong đạo Mẫu là một hiện tượng rất tiêu biểu của văn hoá Việt, thường được gọi hết sức tôn kính là “Ông ngựa”. Tại đền Đèo Kẻng (xã Tân Thành) có một đôi ngựa (một màu trắng và một màu vàng) to gần bằng ngựa thật đứng chầu trước ban thờ Bà chúa Sơn trang. Ngựa làm bằng giấy bồi dày trong tư thế hướng mặt về ban thờ: chân đứng thẳng, đầu ngẩng cao, lưng có yên cương bằng giấy màu, có thêm đôi cánh để bay ở miền thượng giới. Ngựa trắng và ngựa vàng tượng trưng cho uy linh của các vị thần, cho tương sinh để mang lại sự phát triển tốt đẹp, thành công và thịnh vượng.
Trong ngày hội đền Bắc Lệ (xã Tân Thành) ngày 20 tháng 9 âm lịch, nghi thức rước Thánh Mẫu và đức Phật từ đền Bắc Lệ đến đền Đèo Kẻng và sau đó hồi cung có một đôi ngựa trắng, ngựa hồng đi ngay sau đội cờ, trống. Ngựa được làm bằng gỗ đặt trên bốn bánh xe, bên cạnh che lọng vàng có tua rủ đầy vẻ sang quý. Yếu tố linh vật của đôi ngựa thể hiện rõ ở bốn chân đi hài, yên cương và yếm được may bằng vải trắng, thêu chỉ màu hình rồng, mây và đính kim sa óng ánh tạo vẻ linh thiêng, thoát tục. Đôi ngựa được rước đi trong niềm hân hoan, thành kính của các con nhang, đệ tử và Nhân dân thể hiện sự linh thiêng của thánh Mẫu như lan toả phúc lộc đến muôn nhà.
Với ý nghĩa “trần sao, âm vậy”, trong các cuộc đi lễ, hầu đồng, hầu bóng, các con nhang, đệ tử cung tiến rất nhiều ngựa mã. Đó là những con ngựa làm bằng khung tre, dán giấy màu sặc sỡ với nhiều hình dáng, tư thế khác nhau rất sinh động. Việc dâng cúng ngựa gắn với ý niệm là để các vị thánh Mẫu, quan Hoàng có phương tiện đi lại giữa trần gian và các miền hành đạo, cứu giúp cho đời. Ngựa trở thành linh vật kết nối giữa con người với thế giới thần linh. Qua đó thể hiện tấm lòng tôn kính của chúng sinh đối với các vị thánh thần, mong được phù trợ, ban cho bình an, may mắn, tài lộc... Trong nghi lễ hầu đồng Tứ phủ, mâm lễ thường có 5 con ngựa với 5 màu khác nhau: trắng, xanh, đen, đỏ, vàng tượng trưng cho ngũ hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ). Xong nghi lễ cúng, ngựa mã sẽ được hoá luôn để gửi tới các bậc thánh thần. Tại các đền, chùa khác, trong các nghi thức cúng lễ cũng dâng rất nhiều ngựa mã. Thông qua lễ vật dâng cúng, họ gửi gắm đức tin, ước vọng bình an, may mắn, phát đạt và thăng tiến.
Ngựa là linh vật có tính phổ quát cao trong các di tích tín ngưỡng, lễ hội ở Lạng Sơn. Xuất hiện ở không gian thiêng, ngựa mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, thể hiện triết lý nhân sinh về cõi tục và cõi thiêng của người dân Xứ Lạng. Đó là một biểu tượng sáng đẹp, giàu bản sắc của văn hoá truyền thống Lạng Sơn.
CHU QUẾ NGÂN
https://baolangson.vn/hinh-anh-ngua-trong-di-tich-le-hoi-xu-lang-5071421.html
1.


Thế nhưng, còn có một kỳ lân khác, có nguồn gốc Tây phương, trông đích thị một con ngựa, chỉ khác mỗi chiếc sừng dài nhọn hoắt giữa trán (có thể có thêm đôi cánh hoặc không). Đây cũng là con vật thần thoại, tiếng Anh gọi là unicorn, ghép từ uni (uni- tiền tố tiếng La Tinh có nghĩa là một) và cornu (sừng).

Câu hỏi đặt ra, là tại sao, unicorn lại được Việt dịch thành “kỳ lân”? Trong khi, ở chính quê hương của kỳ lân, unicorn là “độc giác thú” 独角兽 (thú một sừng), rất “trực quan”, trong Hán ngữ phổ thông hiện đại. Chẳng lẽ, tiền bối nào ở ta đã dịch bừa, rồi “sai lâu thành đúng”; hay đã chọn cách dịch tương đương, vốn không phải quá khó tìm trong kho tàng văn học cổ, như cách Đào Duy Anh dịch cây “phong” thành cây “bàng” (bản địa hóa một loài cây cùng có lá đỏ)?1


[Nói thêm: Có người dịch unicorn là “kỳ mã” hoặc “bạch kỳ mã”, nhưng đây là cách ghép từ tùy tiện, bởi bản thân chữ kỳ 騏 – “ngựa tốt” đã có “ngựa” trong đó rồi, hơn nữa, còn có nghĩa khác là “ngựa xám”, thì không thể vừa trắng vừa xám được].
NGỰA HOÁ KỲ LÂN VÀ "KỲ LÂN HOÁ" NGỰA
Ngoài lý do ngôn ngữ qua phân tích từ nguyên như đã nói, nguyên nhân dẫn đến khác biệt trong việc diễn dịch hình ảnh unicorn – ngựa một sừng, có thể còn do trong văn hóa Trung Hoa, kỳ lân là linh thú bản địa, đã hình thành hệ biểu tượng hoàn chỉnh.

Với người Việt, “tứ linh” là long, ly/lân, quy, phượng (rồng đứng đầu); còn với người Trung Quốc, “tứ linh” theo Kinh Lễ lại là lân, phượng, quy, long (lân đứng đầu). Rất có thể, “trật tự” sắp đặt này có liên quan đến Khổng Tử – ông tổ của Nho giáo, người đã biên soạn Kinh Xuân Thu (còn gọi Lân kinh, Lân sử) – một bộ sử viết theo lối biên niên, song ngụ ý sâu xa của nó bao hàm triết lý về nền đạo đức chính trị quân chủ, theo thuyết chính danh của nhà Nho. Chính vì vậy, người Trung Quốc đã gọi unicorn là “độc giác thú” một cách trung tính, thay vì “kỳ lân” – vốn đã gắn chặt với thiên mệnh – minh quân tới mức không thể “giải thiêng” (desacralization) hoặc “tha hóa” (alienation).



[1] Như trong câu “Nguyệt sắc như ba phong thụ đan” [月色如波楓樹丹] trong bài “Diên Hựu tự” của sư Huyền Quang. Việt Nam không có cây phong nên có thể dịch phong (lá đỏ) thành bàng (cũng lá đỏ) như một cách hiểu thay thế, tuy không khoa học nhưng người đọc của xứ nhiệt đới như nước ta dễ cảm thụ (xem Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển).
Nội dung: Kiều Hải | Thiết kế: Trà My
Kiều Hải

KỲ LÂN LÀ KỲ LÂN NÀO?
Người Việt vốn không xa lạ gì với kỳ lân, con thần thú cổ đại, rất quen thuộc trong khối đồng văn Hán ngữ, mà người Trung Quốc viết là 麒麟 (bính âm: qí lín). Theo Thuyết văn giải tự của Hứa Thận thì lân là tên gọi chung chỉ cặp đôi kỳ lân, trong đó, kỳ là con đực và lân là con cái. Được coi là loài thú nhân từ, không giẫm đạp lên cỏ tươi và sinh vật sống, dẫu vậy, kỳ lân lại có bộ dạng khá dữ dằn, với tạo hình nửa rồng nửa thú, các bộ phận là tổng hợp của rất nhiều loài vật, có thể một sừng hoặc dạng lộc nhung hay gạc giống như sừng hươu nai...
Thế nhưng, còn có một kỳ lân khác, có nguồn gốc Tây phương, trông đích thị một con ngựa, chỉ khác mỗi chiếc sừng dài nhọn hoắt giữa trán (có thể có thêm đôi cánh hoặc không). Đây cũng là con vật thần thoại, tiếng Anh gọi là unicorn, ghép từ uni (uni- tiền tố tiếng La Tinh có nghĩa là một) và cornu (sừng).
Câu hỏi đặt ra, là tại sao, unicorn lại được Việt dịch thành “kỳ lân”? Trong khi, ở chính quê hương của kỳ lân, unicorn là “độc giác thú” 独角兽 (thú một sừng), rất “trực quan”, trong Hán ngữ phổ thông hiện đại. Chẳng lẽ, tiền bối nào ở ta đã dịch bừa, rồi “sai lâu thành đúng”; hay đã chọn cách dịch tương đương, vốn không phải quá khó tìm trong kho tàng văn học cổ, như cách Đào Duy Anh dịch cây “phong” thành cây “bàng” (bản địa hóa một loài cây cùng có lá đỏ)?1

[Nói thêm: Có người dịch unicorn là “kỳ mã” hoặc “bạch kỳ mã”, nhưng đây là cách ghép từ tùy tiện, bởi bản thân chữ kỳ 騏 – “ngựa tốt” đã có “ngựa” trong đó rồi, hơn nữa, còn có nghĩa khác là “ngựa xám”, thì không thể vừa trắng vừa xám được].
NGỰA HOÁ KỲ LÂN VÀ "KỲ LÂN HOÁ" NGỰA
Ngoài lý do ngôn ngữ qua phân tích từ nguyên như đã nói, nguyên nhân dẫn đến khác biệt trong việc diễn dịch hình ảnh unicorn – ngựa một sừng, có thể còn do trong văn hóa Trung Hoa, kỳ lân là linh thú bản địa, đã hình thành hệ biểu tượng hoàn chỉnh.

Với người Việt, “tứ linh” là long, ly/lân, quy, phượng (rồng đứng đầu); còn với người Trung Quốc, “tứ linh” theo Kinh Lễ lại là lân, phượng, quy, long (lân đứng đầu). Rất có thể, “trật tự” sắp đặt này có liên quan đến Khổng Tử – ông tổ của Nho giáo, người đã biên soạn Kinh Xuân Thu (còn gọi Lân kinh, Lân sử) – một bộ sử viết theo lối biên niên, song ngụ ý sâu xa của nó bao hàm triết lý về nền đạo đức chính trị quân chủ, theo thuyết chính danh của nhà Nho. Chính vì vậy, người Trung Quốc đã gọi unicorn là “độc giác thú” một cách trung tính, thay vì “kỳ lân” – vốn đã gắn chặt với thiên mệnh – minh quân tới mức không thể “giải thiêng” (desacralization) hoặc “tha hóa” (alienation).

[1] Như trong câu “Nguyệt sắc như ba phong thụ đan” [月色如波楓樹丹] trong bài “Diên Hựu tự” của sư Huyền Quang. Việt Nam không có cây phong nên có thể dịch phong (lá đỏ) thành bàng (cũng lá đỏ) như một cách hiểu thay thế, tuy không khoa học nhưng người đọc của xứ nhiệt đới như nước ta dễ cảm thụ (xem Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển).
Nội dung: Kiều Hải | Thiết kế: Trà My
Kiều Hải
https://svvn.tienphong.vn/tet-nam-ngua-noi-chuyen-ky-lan-post1821239.tpo
...

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.
LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.
Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.