Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách

21/07/2017

Dấu tích của nhà Mạc trên đất Diệm Xuân (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc)

Bài lấy về từ trang của huyện Vĩnh Tường (tỉnh Vĩnh Phúc).

Nội dung của bài là được tác giả (ai đó chưa rõ) rút tỉa từ cuốn sách đã xuất bản năm 2013.

Sách in năm 2013 đó là kết quả của hội thảo tại Vĩnh Phúc năm 2012 (ở đây, và ở đây).

Dưới là bài của huyện Vĩnh Tường, lên mạng năm 2015.


---






Xã Việt Xuân nằm ở phía Tây bắc huyện Vĩnh Tường, phía bắc xã giáp sông Phó Đáy là ranh giới tự nhiên với xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch; phía Nam giáp xã Bồ Sao, xã Lũng Hòa, phía Đông giáp xã Yên Lập (cùng huyện); phía Tây giáp sông Lô là ranh giới tự nhiên với thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Xã Việt Xuân nằm gọn trong vùng đồng bằng được tạo nên bởi ngã ba hợp lưu của các con sông: Sông Lô, sông Phó Đáy, sông Hồng. Dọc theo các triền sông, những người Việt cổ đã đến đây định cư, sinh sống trên mảnh đất này từ thời Hùng Vương dựng nước, từ đó hình thành nên những làng cổ như Phượng Lâu, Diệm Xuân. Dựa vào đặc điểm địa hình, dân cư nơi đây lấy nghề nông làm trọng, phát triển sản xuất nông nghiệp trên những đồng ruộng màu mỡ được bồi đắp bởi nguồn phù sa dồi dào của các con sông, nuôi trồng và khai thác thủy sản từ hệ thống các sông ngòi và đầm ao dày đặc; đồng thời còn phát triển giao thương với các vùng lân cận nhờ sự thuận lợi bởi vị trí trung gian, chuyển tiếp của hai con đường thủy, bộ.



Tam quan chùa Trống

Việt Xuân là một xã có truyền thống văn hóa nối tiếp lâu đời và liên tục qua các thời kỳ. Tuy nhiên, trải qua thời gian với những biến cố thăng trầm của lịch sử, tự nhiên, những dấu tích vật chất về bề dày lịch sử - văn hóa ấy nhiều phần đã mai một. Cho đến nay, số lượng các di tịch lịch sử - văn hóa ở Việt Xuân còn lại không nhiều nhưng lại chứa đựng những giá trị đặc biệt có ý nghĩa trong cộng đồng. Cũng như đối với hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh. Việt Xuân có tổng số 06 di tích thuộc các loại hình: Đình (02 di tích), chùa (02 di tích), miếu (02 di tích), địa điểm phân bố tập chung ở hai làng cổ là Diệm Xuân và Phượng Lâu; trong đó có 03 di tích xếp hạng cấp tỉnh là: đình – chùa Diệm Xuân và chùa Phượng Lâu. Tiêu biểu nhất và có nhiều ý nghĩa cả về lịch sử, văn hóa và yếu tố tâm linh nhất là cụm di tích đình – chùa Diệm Xuân, thuộc làng Diệm Xuân. Đây là một làng cổ có quy mô lớn, tên nôm là làng Trống. Trước đây, Diệm Xuân là một trong 09 làng (hay 9 xã thuộc dạng nhất xã, nhất thôn) của tổng Mộ Chu, huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đới, tỉnh Vĩnh Yên. Diệm Xuân có cả đình, chùa và miếu nhưng ngôi miếu đã bị phá hủy nay chỉ còn lại móng. Cụm di tích đình – chùa Diệm Xuân hay còn gọi là đình – chùa Trống (theo tên làng cổ) không chỉ là một trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng dân cư địa phương, mà trong tâm thức của họ Nguyễn (được cải từ họ Mạc), cụm di tích còn gắn liền với quá trình suy vi và bảo tồn dòng dõi hậu duệ nhà Mạc hiện đang sinh sống ở Việt Xuân, đó là các di tích, truyền ngôn có liên quan đến vị vua cuối cùng của triều Mạc và hậu duệ của họ Mạc hiện vẫn đang an cư lạc nghiệp nơi đây.
Đình – chùa Diệm Xuân và các di tích liên quan đến nhà Mạc được xây dựng trên một gò đất cao nhất là Diệm Xuân, nhân dân gọi là “gò chùa”.

Lãnh đạo UBND tỉnh chúc mừng Hội thảo

Đình Diệm Xuân
Đình Diệm Xuân thờ hai vị thủy thần là An Giang Đại Vương và Đông Hải Long Vương, tương truyền đã có công trị thủy, bảo vệ mùa màng và cuộc sống người dân nơi đây. Đây chính là biểu hiện rõ ràng về giá trị lịch sử truyền thống lâu đời của vùng đất này. Bởi thờ thủy thần (thần nước) chính là một trong những tín ngưỡng bản địa từ thủa sơ khai của người Việt. Đình được xây dựng từ bao giờ đến nay chưa xác định được niên đại. Lần trùng tu gần đây nhất là năm Khải Định thứ 8 (1924). Theo lời kể của các cụ cao tuổi thì đình Diệm Xuân xưa được làm theo lối “hậu đinh, tiền môn”, đến nay, chỉ còn một tòa kiểu chữ “đinh” gồm tiền tế 3 gian 2 dĩ và hậu cung 1 gian thờ dọc. Kết cấu các bộ vì gỗ làm kiểu quá giang gối tường đơn giản nhưng chắc khỏe, mái lợp ngói mũi truyền thống. Nghệ thuật điêu khắc được thể hiện chủ yếu ở các bức chạm trang trí ở xà rồng Thượng cung và trên các di vật, đồ thờ như Long ngai, kiệu bát cống, sập thờ…
Chùa Diệm Xuân
Chùa Diệm Xuân (tên chữ là Xuân Sơn tự, tên nôm là chùa Trống), thờ phật phái Đại thừa. Chùa cũng như đình, đến nay không còn tư liệu để xác định niên đại khởi dựng. Tuy nhiên, trong hệ thống văn bìa còn giữ tại chùa, có một tấm bia hậu được lập vào ngày mùng 10 tháng 3 năm Cảnh Hưng thứ 16 (1755), đồng thời tư liệu của viện “viễn Đông bác cổ” năm 1937 ghi lại hai lần tu sửa chùa vào năm Minh mệnh thứ 12 (1832) và Thành thái – Kỷ hợi (1899). Cũng qua tư liệu này mà biết được, chùa xưa có bố cục mặt bằng kiểu chữ “môn”. Kiến trúc ngôi chùa hiện nay là kết quả của lần trùng tu lớn vào năm Bảo Đại thứ 15 (1940), lần tu sửa này đã thay đổi phần lớn kết cấu kiến trúc vào ngôi chùa cổ. Hiện chùa có kiểu dáng kiến trúc thường thấy ở các di tích vùng Trung du: Mặt bằng hình chữ đinh, kết cấu chắc khỏe, vì chồng bồn giá chiêng với các cấu kiện gỗ bào trơn, đóng bén không trang trí trạm khắc, mái lợp ngói mũi truyền thống. Do trải qua những thăng trầm của lịch sử nên chùa Xuân Sơn không còn giữ được nhiều tượng phật. Hiện trong chùa chỉ còn một số tượng, trong đó có 01 tượng hậu được tạc bằng chất liệu đá. Đáng chú ý nhất là hệ thống 11 bia đá được gắn trực tiếp lên tường hồi của chùa. Bia có niên đại thời Lê Trung Hưng và Nguyễn: Chính Hòa năm thứ 24 (1703), Cảnh Hưng năm thứ 33 (1772), Tự Đức năm thứ 6 (1853)… Tất cả đều là bia hậu phật, có 3 dạng chính là: Bia một mặt chữ, bia một mặt chữ một mặt tượng – phù điêu, bia một mặt tượng không có chữ. Có ý nghĩa nhất là bia Chính Hòa năm thứ 24 (1703) có hai mặt (một mặt chữ hán, một mặt tượng), nội dung ghi chép về việc thôn Diệm Xuân vào khoảng thời gian đó đã có một ngôi chùa được xây dựng từ trước, có nhiều ruộng hậu.
Cùng với những giá trị văn hóa vật thể, chùa Diệm Xuân còn ẩn chứa, gắn với những truyền ngôn về vị vua cuối cùng của triều Mạc – Mạc Kính Vũ. Truyền ngôn rằng: Sau khi thất thủ ở Cao Bằng. Mạc Kính Vũ cùng gia đình xuôi theo sông Hồng về đây ẩn cư chờ thời. Mạc Kính Vũ đã xây dựng chùa Trống và tu ở chùa, lấy chùa Trống làm bình phong che chở ẩn thân của hoàng thất, cải họ thành họ Nguyễn. Để đề phòng sự truy sát của chính quyền Lê – Trịnh, ông đã cho con trai là Nguyễn Hữu Pháp theo dòng Phó Đáy về vùng Lập Thạch. Nguyễn Hữu Pháp đã chọn đất Tiên Lữ - Lập Thạch để định cư, xây chùa Tiên Lữ (chùa Sùng Phúc), nương vào đó mà mai danh ẩn tích. Về sau Nguyễn Hữu Pháp sinh được 4 người con trai: Người con cả ở lại Tiên Lữ nối tiếp sự nghiệp tổ tiên, người con thứ hai lánh cư sang chùa Sùng Lâm ( xã Văn Quán – Lập Thạch), người con thứ ba lánh cư sang chùa Đông Minh (làng Đông Mật, xã Sơn Đông – Lập Thạch), người con thứ tư là Nguyễn Hữu Nhẫn được phân công trở lại chùa Trống (Xuân Sơn tự) để trông coi mồ mả tổ tiên an táng tại nơi này. Hậu duệ họ Mạc cải Nguyễn ở đây thường được gọi nôm na là họ Nguyễn “chùa” để phân biệt với các họ Nguyễn khác trong làng.
Những ngôi mộ cổ
Trong khuôn viên đình – chùa Diệm Xuân, hiện có 3 ngôi mộ được xác định là của họ Nguyễn gốc Mạc. Ngôi mộ thứ nhất, nhiều đời chi họ Nguyễn gốc Mạc ở đây truyền nhau gọi là mộ tổ hay mả tổ. Đến năm Bảo Đại thứ 13 (1939), chi họ tổ chức tu tạo mộ tổ, dùng đá để xây ghép thành mộ lớn (vì thế về sau còn có tên gọi là mộ đá). Chính vào khi đó đã phát hiện ra rằng quan tài được táng theo hình thức táng treo, chi họ để nguyên trạng rồi ghép đá xung quanh và trên nóc để bảo toàn mộ. Trong chi họ cũng truyền khẩu rằng trước đây vào ngày 27 tháng Chạp hàng năm là “Chạp họ” hay “ăn Chạp họ”, bây giờ chuyển thành ngày 15 tháng Chạp, chi họ đều tập chung dâng lễ ở ngôi mộ này, lời khấn khi cúng là “Cao tổ Mạc cải Nguyễn”. Từ trước đến nay, ngôi mộ này được Chi họ Nguyễn gốc Mạc ở Diệm Xuân biết rộng rãi và quan trọng hơn cả. Có nhiều giả thuyết cho rằng đây là ngôi mộ của con trai Thái tử Nguyễn Hữu Pháp (con trưởng của vua Mạc Kính Vũ) là Nguyễn Hữu Nhẫn, người đã được phân công trở là chùa Trống (sau khi dòng họ di dời về Lập Thạch) để trông coi mồ mả tổ tiên an táng tại đây (tức mộ vua Mạc Kính Vũ và công chúa Mạc Chính Lan); Giả thuyết cũng cho rằng chính cụ Nguyễn Hữu Nhẫn là tổ của chi họ Nguyễn ở Diệm Xuân.
Ngôi mộ thứ hai, được phát hiện vào năm 1964, khi đơn vị bộ đội pháo binh đến đào công sự trong vườn chùa. Khi mở quan thì thấy xác ướp còn nguyên, được xác định là nữ giới khoảng 40 tuổi, được bảo quản trong quan ngoài quách, bên ngoài có đá màu trắng đục, được gắn miết bằng vôi mật. Mộ đã được chuyển sang vị trí khác nay trong vườn chùa chỉ còn dấu vết hố đào của trận địa pháo. Trong chi họ Nguyễn gốc Mạc ở Diệm Xuân, ngôi mộ này được truyền khẩu là mộ công chúa Mạc Chính Lan, con gái vua Mạc Kính Vũ.

Hội thảo nhà Mạc và hậu duệ trên đất Vĩnh Phúc

Ngôi mộ thứ 3 được đánh dấu bằng một cây chòi mòi (tòi mòi) trong vườn chùa. Tuy nhiên cây chòi mòi đến nay không còn, chỉ còn dấu tích của ngôi mộ đã được xây trát kín. Cũng theo truyền ngôn từ lời cúng “Cao cao tổ Chính Kính Mạc cải Nguyễn” của chi họ, có thể hiểu, đó là mộ vua Mạc Kính Vũ.

Ngôi mộ táng treo cháu nội Mạc Kinh Vũ

Sử liệu thành văn cho rằng, năm 1677, Mạc Kính Vũ thua trận ở Cao Bằng, và chạy sang Long Châu (Trung Quốc), sau năm 1685, số phận của ông và nhiều vương gia nhà Mạc không rõ ra sao. Thế nhưng những truyền ngôn về Mạc Kính Vũ và hậu duệ trên đất Vĩnh Phúc lại cho rằng, Mạc Kính Vũ là một phần hoàng thất của vương triều Mạc từ Cao Bằng đã xuôi theo dòng sông Hồng về ẩn tích ở Vĩnh Phúc. Xét về tư liệu lịch sử đối với thời kỳ nhà Mạc ở Vĩnh Phúc, việc nghiên cứu còn đặt ra nhiều khó khăn, nguồn tư liệu khan hiếm lại có sự không đồng nhất về nội dung. Vì thế cần tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, để có những thông tin đầy đu, chính xác về thân phận hoàng đế Mạc Kính Vũ và gia tộc dòng họ Mạc thời kỳ ở Vĩnh Phúc; để một lần nữa khẳng định Diệm Xuân – Việt Xuân là một vùng đất cổ có vị trí quan trọng trong lịch sử, ẩn chứa nhiều tiềm năng địa – văn hóa, địa – du lịch cần được nghiên cứu bảo tồn và khai thác, phát huy.


Theo "Vĩnh Tường - Di sản Văn Hóa"
Ngày đăng: 13/07/2015


http://vinhtuong.vinhphuc.gov.vn/pages/Detail.aspx?newsid=1742


---





BỔ SUNG


1.


Văn hóa - Xã hội huyện Vĩnh Tường

              Thời kì tiền sử: Qua nhiều cuộc khai quật khảo cổ, đã xuất lộ nhiều di chỉ của người Việt trên đất Vĩnh Tường. Các di vật đào được đã minh chứng các di chỉ Lũng Hòa, Nghĩa Lập, Đồng Hương, Ma Cả, Gò Mát thuộc thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên, mở đầu cách đây vào khoảng 4000 năm, là thời kì văn hóa đồng thau phát triển rực rỡ trên đất Vĩnh Phúc.
Điểm đáng chú ý là trong tổng số 18 di chỉ văn hóa thời Phùng Nguyên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc đã được phát hiện và công bố, riêng huyện Vĩnh Tường đã có 07 di tích, trong đó di chỉ Lũng Hòa là điển hình nhất. Đó là di chỉ cư trú và mộ địa lớn, công cụ văn hóa thu được gồm có rìu bôn, đục, hoa tai, hạt chuỗi đá. Nhiều hiện vật gốm nguyên vẹn.
Trong đợt khai quật năm 1965, đã thu lượm được tổng số hiện vật đá là 430, hiện vật gốm nguyên là 89 trong đó có 21 nồi, 10 bát, 17 dọi xe sợi, 22 chạc gốm, cùng 12.642 mảnh gốm các loại. Phần lớn là loại gốm thô, hoa văn trang trí tiêu biểu cho giai đoạn muộn của văn hóa Phùng Nguyên. Cũng phát hiện được khá nhiêu xương răng, xương động vật, trong đó có xương gia súc như chó, lợn, trâu, bò, gà…
Thời  sơ sử (văn hóa Đông Sơn): Sau giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, trong hơn 20 di chỉ đã xuất lộ ở xã Nghĩa Lập phát hiện được 02 chiếc mai đá kích thước lớn thuộc thời đại kim khí. Đó là thời đại có cơ sở vật chất hạ tầng để hình thành nhà nước Văn Lang thống nhất 15 bộ cùng trong cộng đồng lãnh thổ, thời của các vua Hùng dựng nước (cách 700 năm trước công lịch).
Nhiều địa phương thuộc huyện Vĩnh Tường hiện đang còn lưu giữ rất nhiều di tích thờ cúng các vua Hùng và các vị tướng lĩnh thời Hùng Vương gắn với phong tục tập quán cùng các lễ hội cổ truyền.
Xã Bồ Sao, Việt Xuân có đền thờ vị thần là con thứ 25 của Lạc Long Quân và âu Cơ, đã có công trị thủy ở cửa sông Lô, sông Đáy bảo vệ làng xóm, ruộng đồng. Hội làng nơi đây có tục “tung bông”, "tung gươm" tính giao lưỡng hợp, rước bó mạ và hội xuống đồng (thời có chữ Hán gọi là "hạ điền") trước cửa đền vào tháng 05 mở đầu mùa mưa thuận lợi cho cấy trồng cây lúa nước.
Xã Đại Đồng (gồm cả 02 làng Bích Đại - Đồng Vệ) thờ vị Thành Hoàng làng là tướng Đinh Thiên Tích, theo bản khai sự tích của làng, ông là vị tướng ở thời Hùng Vương thứ 06, có công đánh đẹp giặc ân dưới thời Hùng Huy Vương. Trong làng còn giữ được nhiều tục cổ không bị phong kiến hóa như không phải kiêng kị gì khi làm ăn, khi đọc nói, không có tế lễ gì riêng. Về húy của Thành Hoàng, trong khi tế lễ có ai nhầm lỗi điều gì thì xưa nay dân làng cũng châm chước không có phạt vạ gì.
Ở Vĩnh Tường còn có hội "tung vông" để cầu đinh, tục hội "trâu rơm, bò rạ" đều diễn ra trong tháng giêng của năm để cầu mùa. Tục thờ sinh thực khí nam như thờ cây dứa dại ở đền ông; và 07 viên đá ở miếu Bà thuộc về xã Tứ Trưng; Những tục hội như "kéo co", “hú đáo” ở xã Lũng Hòa, hội bắt vịt trong ao, bắt chạch trong chum ở Tứ Trưng, Thượng Trưng, lễ cầu tằm ở Vĩnh Ninh, Bàn Mạch, tục săn Cuốc ở làng Huy Ngác, múa đao đánh gậy ở Tam Phúc, Tứ dân chi nghiệp ở Đại Đồng, Lễ hội xuống đồng ở Hoàng xá, thi bơi chải ở Phú Đa, thi vật ở Nghĩa Hưng, Yên Bình…Đó đều là những dấu ấn mang đậm nét văn hóa.
Các thời kì sau: Nền kinh tế nông nghiệp và xã hội huyện Vĩnh Tường phát triển liên tục và bền vững trong bối cảnh quốc gia ngày càng cường thịnh. Xã hội nông nghiệp trong nhiều trăm năm đã sớm hình thành các vùng chuyên canh theo diện mạo thổ nhưỡng và quy luật cung cầu, làm thành những vùng có "đặc sản" như xã Thượng Trưng, Tuân Chính có đầm sen, hoa sen, hạt sen; xã Bồ Sao, Hòa Loan có củ đậu; làng Đông Viên Thổ Tang, Cam Giá có dưa hấu, cà xanh.
Từ kinh tế làng nghề, chợ búa xuất hiện. Huyện Vĩnh Tường xưa có các chợ lớn chép trong sách Địa chí như: Chợ Thổ Tang (tục gọi chợ Giang), xuất xứ là chợ chuyên mua bán trâu bò ở xã Thổ Tang; Chợ Vòng ở làng Tuân Lộ (nay thuộc xã Tuân Chính); Chợ Me ở làng Phủ Yên (nay thuộc xã Yên Lập); Chợ Trục ở làng Hưng Lục (nay thuộc xã Nghĩa Hưng); Chợ Chùa ở làng Kiên Cương (nay thuộc xã Ngũ Kiên); Chợ Rưng thuộc làng Văn Trưng (xã Tứ Trưng). Chợ tường thuộc làng Dẫn Tự xã Tân Cương; Chợ Đa thuộc xã Phú Đa; Chợ Điền thuộc làng Lương Điền xã Bình Dương; Chợ Kiệu thuộc làng Hưng Lại xã Chấn Hưng…
Trên bình diện của đời sống xã hội vùng "đỉnh" châu thổ ấy, Vĩnh Tường thực sự là điểm “tụ nhân” sơ khai khi con người đến khai thác đồng bằng Bắc Bộ. Ấy là nói (và viết) theo như thuật ngữ "địa linh", để rồi bồi tụ nên lớp trí thức Vĩnh Tường qua các đời, mà trở thành các "nhân kiệt" vùng này:
Hiện nay trong huyện còn 155 di tích. Trong đó có 55 ngôi đình, 67 ngôi chùa. Sổ còn lại là đền, miếu.Đã có 18 di tích xếp hạng di tích cấp Quốc gia.
Về kiến trúc, đặc biệt có ngôi đình Thổ Tang, chùa Hoa Dương (Tuân Chính) và ngôi đền đá Phú Đa là đặc sắc nhất.
Đình Thổ Tang: Xây dựng vào thế kỷ 16. Cấu trúc theo lối chữ "Đinh", phần thượng cung không còn, nay chỉ còn lại một tòa đại đình có năm gian hai dĩ, theo kiểu "tú trụ làng thuyền" với 60 chiếc cột. Đường kính của các cột cái là 0,8m của cột quân là 0,61m. Toàn công trình có chiều dài 25,8m, rộng 14,2m. Nền đình bó bằng đá xanh xung quanh.
Trong đình hiện còn 21 bức trạm gỗ có giá trị cao về văn hóa và nghệ thuật. Nhất là bức “ngày hội xuống đồng”, “bắn hổ” “đá cầu”, “đánh gen”...miêu tả khá khái quát các sinh hoạt xã hội của nông thôn thời kỳ ấy.
Chùa Hoa Dương (Tuân Chính) được xây dựng năm Chính Hòa thứ nhất (1680) theo lối kiến trúc chữ (I). Chùa có 7 gian, thượng điện 5 gian; tiền đường, nhà cổ 3 gian. Hai bên hành lang có 15 gian làm nơi đón tiếp và dừng chân cho du khách thập phương.
Theo truyền thuyết kể lại, đây chính là khu đất có địa thế hình con Rùa. Ở chùa Hoa Dương nghệ thuật điêu khắc được chú ý tới từng đường nét, từng chi tiết. Các phù điêu trên gỗ, đá, đồng hầu như còn giữ nguyên vẹn; hai mươi bộ hoành phi câu đối, mười tám bộ cuốn thư, trương nhĩ, cửa khám, nghi môn, tòa Cửu Long…Mang đậm nét kiến trúc dân gian phải kể đến cây hương cổ bằng đá, có chiều cao 1,70 được lập năm Chính hòa (1680). Đặc biệt là quả chuông đồng được đúc vào năm Minh mạng thứ bảy (1826) phản ánh trình độ nghệ thuật cũng như kỹ nghệ đúc đồng của ông cha ta.
Đền đá Phú Đa: Gọi là đền đá vì vật liệu chủ yếu xây dựng là đá xanh và gỗ lim. Dựng vào đời vua Lê Cảnh Hưng (1740- 1786).
Đền gồm 02 tòa nhà song song xếp theo hình chữ “nhị”. Đây là ngôi đền còn nhiều di vật đá nhất trong số các di tích của tỉnh Vĩnh Phúc. Có tới 48 tác phẩm bằng đá, được sắp xếp theo yêu cầu thờ tự. Từ cổng đền, qua sân đền tới nhà tiền đường rồi nhà thờ chính như cột trụ, chó đá, rồng đá, tượng võ sĩ bằng đá, ngựa đá, voi đá, sư tử đá, chậu đá, bàn tẩn đá, án gian đá, bát hương đá, bia đá, xập đá, ngai thờ…tất cả đều làm bằng đá. Với mức độ đục chạm công phu, tỉ mỉ bằng những đường nét tuyệt đẹp đáng kể nhất như các ngôi tượng võ sĩ, tượng voi đứng chầu ở sân đền.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, văn hóa Vĩnh Tường hết sức trì trệ, lạc hậu. Sau cách mạng tháng Tám, thực hiện đời sống mới, các hủ tục ma chay cưới xin được đơn giản hóa. Tệ nạn hút thuốc phiện bị nghiêm cấm. An ninh, trật tự làng xóm được tăng cường. Hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng rất phong phú. Đây là nét đẹp trong đời sống văn hóa của nhân dân dưới chế độ mới.
Sang những năm 1947- 1948, hoạt động văn hóa thông tin được phát triển lên một bước mới. Huyện chỉ đạo in ấn các bản tin phát cho cơ sở, kẻ vẽ nhiều khẩu hiệu, áp phích cổ động các phong trào thi đua trong công cuộc củng cố xây dựng chính quyền. Phòng thông tin huyện xuất bản các bản tin hàng tháng, nhiều xã ra báo tường phản ánh các hoạt động của địa phương. Đặc biệt, các đội văn nghệ với các vở diễn theo tích tuồng, chèo cổ và tự biên, phản ánh đời sống, sản xuất ở các xã, được nhân dân nồng nhiệt hưởng ứng. Tuy trong những năm chiến đấu chống giặc Pháp tái chiếm, nền văn hóa có trầm lắng xuống vì phải tập trung sản xuất và chiến đấu bảo vệ xóm làng chống lập tề, các cơ quan cấp huyện phải lui vào hoạt động bí mật hoặc di tản đến vùng tự do. Song văn hoá cách mạng và kháng chiến vẫn không ngừng mạch chảy, mà tập trung cao độ vào phục vụ chiến đấu, với bộ đội địa phương đại đội Lê Xoay làm tiêu biểu.
Hòa bình lập lại, văn hóa Vĩnh Tường bắt đầu khởi sắc nhưng chủ yếu tập trung vào chủ đề xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ ngụy ở miền Nam.
Thời kỳ chống Mỹ, việc xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh được chú trọng. Ngay từ cuối năm 1954, phong trào xây dựng đời sống mới văn minh được nhân dân hưởng ứng đông đảo. Một số xã lập đội văn nghề, tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân. Trong năm 1959, huyện thành lập được hai đội văn nghệ nghiệp dư ở xã Đội Cấn và xã Thái Học. Các đội đã xây dựng chương trình đi biểu diễn phục vụ nhân dân trong huyện. Nhiều xã khác cũng quan tâm chỉ đạo thành lập đội văn nghệ quần chúng để tổ chức hoạt động vào các dịp lễ lớn.
Giai đoạn Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, hoạt động văn hóa tinh thần của huyện vẫn được quan tâm. Nhiều xã và hợp tác xã xây dựng phòng đọc sánh, tạo nên phong trào đọc và làm theo sách báo. Riêng trong năm 1967 có 110.000 cuốn sách và 387 tờ báo các loại được đưa về các xã và hợp tác xã. Ngành chiếu bóng tích cực phục vụ nhân dân. Năm 1968, chiếu 552 tối cho 448.616 lượt người xem. Phong trào văn nghệ quần chúng cũng phát triển khá mạnh. Năm 1968, toàn huyện có 20 đội văn nghệ, 30 nhóm ca hát, 35 câu lạc bộ hoạt động thường xuyên. Đến cuối năm 1971, toàn huyện đã có trên 3.000 hộ đăng ký phấn đấu trở thành gia đình văn hóa.
Sau khi đất nước thống nhất (1975), hoạt động văn hóa văn nghệ càng có điều kiện phát triển. Cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa kết hợp với phong trào thể dục thể thao như bơi lội, bóng chuyền, bóng đá mở rộng trong các địa phương. Năm 1985, huyện Vĩnh Lạc (nay là Vĩnh Tường và Yên Lạc) đã tổ chức Đại hội Thể dục thể thao ở cơ sở, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên.
Hiện nay, công tác Văn hóa - Thông tin huyện Vĩnh Tường ngày càng phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ; mỗi xã, thị trấn đều chọn từ 1 đến 2 thôn làng, tổ dân phố làm điểm, khi có kết quả tốt sẽ nhân ra toàn xã. Đến hết năm 2010, toàn bộ các xã, làng chỉ đạo điểm đều đạt tiêu chuẩn làng văn hoá, góp phần quan trọng vào công tác phát triển phong trào ở 29/29 xã, thị trấn, đưa số hộ gia đình, thôn đạt tiêu chuẩn văn hoá tăng dần lên hàng năm.
Về xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao: 100% xã, thị trấn đã dành đất cho các thiết chế văn hoá, thể thao.
Bên cạnh các giá trị văn hóa hiện đại, các giá trị văn hóa truyền thống được giữ gìn và phát huy. Toàn huyện hiện có 155 di tích, trong đó 18 di tích xếp hạng cấp Quốc gia; 33 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Các di tích, lễ hội dân gian truyền thống đều được bảo tồn, các di tích lịch sử văn hoá được tăng cường kiểm tra, hướng dẫn quản lý, bảo quản, chống xuống cấp kịp thời. Nhiều di tích được nhân dân đóng góp xây dựng với số vốn lớn như chùa Tùng Vân (Thổ Tang) gần 5 tỷ đồng, chùa Vân Ô (Vân Xuân) hơn 3 tỷ đồng, chùa Hoà Lạc (Tân Cương) hơn 20 tỷ…
Giáo dục - Đào tạo
Vĩnh Tường là vùng quê văn hiến, nơi có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Từ nhiều đời nay, nơi đây đã có nhiều danh nhân đỗ đạt cao được khắc bia Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc Tử Giám từ thế kỷ XIII, XIV. Cụ thể:
Có 23 tiến sĩ nho học và 01 phó bảng triều Nguyễn.
Người thành đạt sớm nhất là ông Nguyễn Văn Chất ( 1421 -? ), người thôn Vũ Di xã Vũ Di. Ông thi đỗ Hoàng giáp (sau là Đệ nhị giáp tiến sĩ) khoa Mậu nhìn niên hiệu Thái Hòa năm thứ 06 đời vua Lê Nhân Tông (1448), danh sách đang còn trên bia Văn Miếu Hà Nội. Ông làm quan tới chức thượng thư Bộ Hộ, về chí sĩ, ông có hiệu là Nhuệ Hiên tiên sinh. Ông có biên soạn thêm bốn chuyện vào tập sách "Việt điện u linh" của Lý Thế Xuyên soạn năm 1329, trở thành một danh sỹ nổi tiếng.
Sau ông còn có 22 tiến sĩ khác, các ông cũng rất nổi tiếng như ở đời Mạc có ông Bùi Hoàng (1505- 1592) người xã Thượng Trưng thi đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Đại Chính thứ 09 đời vua Mạc Dăng Dung danh sách còn trên bia Văn Miếu Hà Nội. Ông Phí Văn Thuật, người xã Thượng Trưng dự kỳ thi hương ở Sơn Tây đỗ danh sách thứ nhất (Hội nguyên). Năm sau Canh Thìn (1640) vào dự kỳ thi Hội, qua 04 kì ông vượt lên đỗ đâu hội nguyên Hội", rồi dự kỳ Văn Sách, ông lại đỗ đầu Đình nguyên Hoàng giáp. Đến khi vào dự kỳ làm thơ ứng chế (thơ nhà vua ra đề), bài của ông được chấm thứ nhất. Người đời suy tôn là ông "Tứ nguyên" (04 lần đều đỗ đầu).
Ông Nguyễn Tiến Sách (sau đổi là Dình Sách) người làng Văn Trưng xã Tứ Trưng thi đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị thứ tám đời vua Lê Huyền Tông. Từng được cử làm phó sứ sang nhà Thanh điều trần về việc quan hệ giữa hai nước ở vùng biên cương. Ông còn là nhà thơ, nay còn 34 bài thơ chép trong sách “Toàn việt thi lục của tác giả Lê Quý Đôn".
Ông Tô Thế Huy người làng Bình Đăng (nay là thôn Bình trù xã Cao Dạy thi đỗ tiến sĩ khoa Đinh Sửu niên hiệu Chính hòa 18 (1697) đời vua Lê Hy Tông. Ông được tặng phong chức thượng thư bộ Công, là người tôi trung với nước, hiếu với gia đình. Có đôi câu đối ca ngợi ông:
Quốc trung thần, gia hiếu tử, thiên hạ hoàn nhân.
Văn tiến sỹ, võ quận công triều đình hiển họa.
Tạm dịch:
Bề tôi trung của nước, con hiếu trong gia đình, ông là người trọn vẹn trong thiên hạ.
Văn đỗ tiến sĩ, võ tới quận công, là vị quan vinh hiển chốn triều đình.
Đó là những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử khoa bảng Việt Nam.
Vĩnh Tường còn có 37 vị thi Hội đỗ Tam trường (tam trường thi Hội), có 191 vị thi đỗ trung khoa (hương Tiến - hương Cống) cử nhân đời Nguyễn. Các xã như Văn Trưng, Thế Trưng, Thượng Trưng, Bình Trù xếp vào thứ nhất trong hàng ngũ đỗ đạt.
Đồng thời, Vĩnh Tường cũng là huyện có số lượng các thư tịch đồ sộ, tới 320 văn bản là bia ký ở di tích các làng, xã. Gồm có: Bia đình có 39 tấm; Bia chùa có 200 tấm; Bia đền, miếu, từ đường, sinh từ, lăng mộ 42 tấm Bia văn chỉ, vũ chỉ có 14 tấm; Bia cầu, bến đò, quán, điểm, ngõ, chợ, cổng làng có 25 tấm; Có 39 quả chuông ở các di tích và 11 chiếc khánh trong đó có 02 chiếc khánh tạo bằng nguyên liệu đá.
Thực tế đó là một lượng thông tin khá đầy đủ và đa chiều về lịch sử phát triển và đời sống xã hội của phủ Vĩnh, là thành tựu đặc sắc của nền văn hiến phủ Vĩnh.
Thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, ở Vĩnh Tường có rất ít trường học, chỉ có cấp tiểu học, giáo dục gần như không phát triển. Việc học hành chủ yếu dành cho con em những gia đình khá giả, còn tuyệt đại đa số nhân dân phải chịu cảnh mù chữ.
Phong trào Bình dân học vụ, thực hiện chiến dịch diệt giặc dốt được mở rộng khắp toàn huyện. Xã nào cũng lập ra Ban Bình dân học vụ, tổ chức các lớp học với nhiều hình thức dạy chữ linh hoạt. Các xã Đại Đồng, Thượng Trưng, Vũ Di…được đánh giá là có thành tích xuất sắc về xóa nạn mù chữ.
Hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), Vĩnh Tường tiến hành khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cùng với các ngành khác, giáo dục trong huyện cũng được quan tâm phát triển. Các xã đẩy mạnh xây dựng, củng cố trường lớp, học sinh phổ thông tăng dần qua mỗi năm. Đến năm 1957, toàn huyện có hơn 7.000 học sinh, trong đó học sinh cấp 11 có gần 1.000 em. Phong trào Bình dân học vụ tiếp tục được phát triển và phát huy hiệu quả.
Đến cuối năm 1965, huyện hoàn thành vượt mức kế hoạch bổ túc văn hóa 5 năm lần thứ nhất, được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba. Hai năm học 1973 - 1974 và 1974 - 1975, cả ba cấp học của huyện có trên 800 lớp học với 34.000 học sinh, tỷ lệ tốt nghiệp trung bình của cấp I là trên 80%, cấp II là trên 60%, cấp III là trên 50%.
Những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, quy mô giáo dục đã được mở rộng, đa dạng ở tất cả các cấp học, ngành học. Năm 2008, toàn huyện có tổng số 100 trường học các cấp, trong đó có 30 trường mầm non, 34 trường tiểu học, 30 trường THCS và 6 trường THPT. Đến năm 2010, toàn huyện có trên 100 trường học các cấp, trong đó có 31 trường Mầm non, 34 trường Tiểu học, 30 trường Trung học cơ sở và 6 trường Trung học phổ thông, 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên 01 Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị, 01 Trung tâm dạy nghề tổng hợp ở các xã đều có Trung tâm học tập cộng đồng. (Tính đến hết năm 2012, toàn huyện có 79/101 trường đạt chuẩn Quốc gia, trong đó có 23/31 trường MN = 74,2%, 33/34 trường TH = 97,1%, 20/30 trường THCS = 66,6%, 3/6 trường THPT = 50%). Nhìn chung, với số lượng trường học trên đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của con em toàn huyện.
Y tế
Dưới thời Pháp thuộc, y tế của huyện hầu như không được phát triển. Trong huyện không có bệnh viện khám chữa cho nhân dân, việc chữa bệnh chủ yếu nhờ vào các phương thuốc dân gian của các thầy lang.
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hoạt động y tế huyện được tăng cường dưới chính quyền cách mạng. Đội ngũ vệ sinh viên tới tận các thôn xóm trong toàn huyện, trở thành lực lượng tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân giữ vệ sinh, phòng bệnh. Được sự giúp đỡ của Tỉnh ủy, huyện đã lập phòng khám chữa bệnh với một số thiết bị, dụng cụ y tế và thuốc men. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, trang thiết bị thiếu thốn, song đây cũng là một bước tiến của y tế huyện, đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của nhân dân.
Những năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ, mạng lưới y tế từ huyện xuống xã tiếp tục được xây dựng và củng cố. Từ chỗ toàn huyện chỉ có một bệnh xã nhỏ đã phát triển thành bệnh viện huyện với hơn 30 giường bệnh. Các trạm y tế ở tất cả các xã được mở rộng. Năm 1967, đã khám bệnh cho 45.355 người, chữa bệnh cho trên 13.000 người. Phong trào vệ sinh phòng bệnh được đẩy mạnh với trọng tâm là xây dựng nhà tắm, giếng nước và nhà tiêu. Năm 1975, một số trạm xá xã như Vũ Di, Lũng Hòa, Thổ Tang, Tuân Chính, Thượng Trưng…đã biết kết hợp Đông - Tây y trong điều trị bệnh có kết quả. Công tác vận động sinh đẻ có kế hoạch đạt hiệu quả, tỷ lệ tăng dân số của huyện giảm, năm 1973 là 3,7%, năm 1974 còn 3,3%.
Những năm thực hiện đường lối đổi mới, sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân của ngành y tế huyện Vĩnh Tường đã có những bước phát triển rất đáng kể, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu và nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho nhân dân.
Trang thiết bị phục vụ y tế được tăng cường đầu tư, nâng cấp. Phong trào xây dựng xã đạt Chuẩn quốc gia về y tế đã và đang phát triển. Đến năm 2008, toàn huyện đã có 100% xã được công nhân đạt Chuẩn quốc gia về y tế. Trên 93% số xã có bác sĩ.
Từ năm 2009-2010, huyện Vĩnh Tường là một trong những huyện dẫn đầu về công tác y tế của tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện tại, huyện có một Phòng y tế là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện. Bệnh viện Đa khoa huyện ngày càng được mở rộng với 200 giường bệnh được trang bị đầy đủ về trang thiết bị, có đội ngũ chuyên môn khá đáp ứng được hầu hết các nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Ngoài ra, huyện cũng xây dựng thêm hai phòng khám đa khoa khu vực và một phòng khám đa khoa tư nhân; một trung tâm y tế chuyên làm công tác y tế dự phòng, một trung tâm dân số KHHGĐ chuyên làm công tác tuyên truyền về các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân số; một Trung tâm Vệ sinh an toàn thực phẩm với chức năng chính là làm nhiệm vụ tuyên truyền về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, thanh tra, kiểm tra và thẩm định các cơ sở chế biến và kinh doanh thực phẩm đủ điều kiện thì cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm. Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình và các chương trình mục tiêu y tế Quốc gia được quan tâm thực hiện tốt.
Cơ sở vật chất của các trạm y tế được nâng cấp khang trang, trang thiết bị được đầu tư. Các cán bộ y tế thường xuyên được cử đi học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từ huyện đến xã. Tính đến năm 2009, 100% trạm y tế các xã, thị trấn có bác sỹ, đủ cán bộ theo cơ cấu.
Tổng số cán bộ y tế trong toàn huyện hiện nay là 370 cán bộ, trong đó có 55 bác sỹ (không tính số bác sỹ đã nghỉ hưu và bác sỹ tư nhân), bình quân 1 bác sỹ/3,5 nghìn dân (đạt tỷ lệ cao nhất trong toàn tỉnh và cả nước). 100% các thôn đều có nhân viên y tế và cộng tác viên dân số.
Công tác khám chữa bệnh ngày càng được chú trọng. Bình quân mỗi người dân được khám bệnh 2 lần/năm. Công tác khám và điều trị y học dân tộc với y học hiện đại luôn được kết hợp. Hiện nay, 100% các xã, thị trấn có vườn thuốc nam mẫu. Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt 100%; Tỷ lệ trẻ em 6-36 tháng tuổi dược uống Vitamin A đạt 100%; Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 13,5%; Tỷ lệ bà mẹ mang thai được tiêm AT đầy đủ 100%; Số cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai đạt từ 85- 87%. Trong các năm từ 2003 đến 2011, tỷ lệ sinh ở huyện Vĩnh Tường luôn duy trì ở mức ổn định, năm 2003 ở mức 1.74% đến năm 2011 là 1,73%; tỷ lệ tử là 0,51; tỷ lệ phát triển dân số là l,27%; Tuổi thọ trung bình đạt: 73 tuổi; Tỷ lệ sử dụng nước hợp, tỷ lệ này giảm mạnh ở các năm 2004, 2005 (cả hai năm đều đạt 1.66%); tỷ lệ công trình vệ sinh đạt 100%, trong đó tự hoại là 40% còn lại là hai ngăn.

 Theo Ban Tuyên giáo huyện ủy Vĩnh Tường



Ngày đăng: 03/06/2013
http://vinhtuong.vinhphuc.gov.vn/pages/gioithieu.aspx?newsid=190

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.