Học giả Phạm Huy Thông có một thời gian dài du học tại Pháp, ông lấy vợ Pháp và làm việc tại Pháp.
Sau này, về Việt Nam, ông là người thành lập Viện Khảo cổ học - là Viện trưởng này trong nhiều năm. Hôm nay, ngày 21/6, một học trò của ông, là nhà khảo học Nguyễn Việt, có nhắc đến sự kiện 21/6/1988 - ngày mà học giả họ Phạm từ trần (stt trên Fb Nguyễn Việt được đưa về phần tư liệu của enry này).
Chúng tôi hồi đó còn đang học cấp 3, nghe tin từ báo chí, rồi lời bàn của thầy cô và người lớn. Nghe đâu có một vụ hỏa hoạn gì đó vào ngày 21/6/1988, và học giả họ Phạm đã từ trần.
Mãi sau này, một ông em trong họ có giao lưu rộng với văn nghệ sĩ thời đó, có kể lại những chi tiết liên quan sự kiện 21/6/1988. Là em, nhưng hơn tôi nhiều tuổi ! Do vai dưới trong họ, nên vẫn là "đàn em" ! Ôi, em ấy kể cả mấy lần rồi, nhưng quả thực, tôi chỉ nhớ láng máng !
Về thơ ca, Phạm Huy Thông là một tác giả được Hoài Thanh - Hoài Chân giới thiệu trong danh tác Thi nhân Việt Nam (xuất bản lần đầu năm 1942). Hoài Thanh là bút danh của học giả Nguyễn Đức Nguyên (1909-1982).
Hãy thử đọc một đoạn mà hai anh em Hoài Thanh - Hoài Chân giới thiệu về thi nhân Phạm Huy Thông vào năm 1941. Năm đó, thi nhân mới khoảng 25 tuổi, còn Hoài Thanh thì khoảng 32 tuổi. Đại khái như sau.
Cũng thử đọc một số bài thơ của Phạm thi nhân (lấy về từ trang Thi Viện).
Tháng 6 năm 2026,
Giao Blog
---
---
Thi Viện
Mái tranh lướt thướt ánh trăng rằm,
Bụi tre vui vẻ hát rì rầm.
Nhưng vì sao lòng ta buồn bã?
Mỗi khi ta thấy ánh trăng rằm.
Đêm nay ánh trăng rằm êm ả,
Điểm màu biếc non sông buồn bã.
Nhưng trăng rằm đẹp đẽ thâm trầm,
Sao chẳng khiến lòng ta êm ả?
Trăng rằm tung ánh sáng âm thầm,
Xuống non sông lặng lẽ thâm trầm.
Trước cảnh đẹp, sao ta buồn bã?
Và lòng ta thổn thức thâm trầm.
10-1933
https://www.thivien.net/Ph%E1%BA%A1m-Huy-Th%C3%B4ng/Tr%C4%83ng-r%E1%BA%B1m/poem-rkE8C_sh5IO9pnA0eXd6ow
Đào mới nở rải hương thơm mát
Khắp vườn hoa lộng lẫy màu hồng
Phật phờ làn khói giữa chiều đông
Trúc cao thỉnh thoảng du dương hát
Kìa! Em hỡi! gió xuân dào dạt
Đưa cánh hoa tản mát trên không
Xa xa, trên cát trắng như bông
Lờ mờ lan chút sương vàng nhạt
Nhưng, hoa tươi mấy lúc lả lơi
Bó ngày xuân mấy lúc rã rời?
Vậy thì, hoà nhịp cùng tiếng trúc
Em ơi! Em khá bồng trầm ca
Cũng như là đôi trái tim ta
Ái tình ca cùng hoà một khúc
Năm 1933
https://www.thivien.net/Ph%E1%BA%A1m-Huy-Th%C3%B4ng/Ng%C3%A0y-xu%C3%A2n/poem-aSL4Yemudmz3B_hxrljp4w
Phạm Huy Thông (22/11/1916 - 21/6/1988) học sử, học văn, học luật tại Pháp, có bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Trước cách mạng tháng Tám 1945, được học hành sang trọng như vậy hiếm lắm. Phạm Huy Thông lại làm thơ khá sớm, năm 15 tuổi đã có thơ in: Yêu đương, Anh Nga, Tiếng địch sông Ô... Sự nổi tiếng về thơ còn vang rộng hơn sự nổi tiếng về học. Ấy vậy mà sau này ông chuyển hẳn sang làm sử, nhiều năm làm hiệu trưởng Đại học sư phạm rồi Viện trưởng Viện khảo cổ. Với thơ, có lúc ông quay lại (hồi kháng chiến chống Mỹ) nhưng không còn gây được chú ý trong bạn đọc. Có thể coi thành công thơ ông nằm trọn trong giai đoạn đầu của Thơ Mới, trước năm 1940. Thơ Phạm Huy Thông chủ yếu là thơ tình yêu. Ông say đắm và lắm lời. Thơ tình của ông thiên về ca ngợi sắc đẹp và giãi bày nỗi si tình. Ông ít khám phá tâm trạng, ít sáng tạo tình cảm nên mạch thơ cứ đều đều bằng phẳng. Giọng thơ khi ấy, trước Xuân Diệu có dăm năm, còn nhiều kiểu cách, ước lệ, xa ngôn ngữ của đời sống thật, các người yêu nói với nhau như trên sâu khấu ca kịch lủng củng, những tình lang, tình nương, tiên nữ, tiên nga, mặt hoa, tiếng vàng... Lời thơ còn cổ hơn thơ của Tú Xương, Nguyễn Khuyến. Nhưng cũng phải thấy đó là dấu vết văn chương lãng mạn của một thời, nó giàu mộng mị và xa đời, thi sĩ ngồi trong tháp đúc bằng ngà và chỉ thấy có “ái tình” là điều quan trọng. Họ sướt mướt nhớ nhung và lê thê than vãn. Ngày nay đọc lại có hơi sốt ruột và đôi lúc buồn cười vì sự dư dả nước mắt của các bậc nam nhi, kể cả ông tướng Tàu Hạng Võ (trong Tiếng địch sông Ô). Nhưng vào thập niên ba mươi, thơ Phạm Huy Thông lại được lớp thanh niên thành phố ưa thích.
Ông là một trong những người tiên phong thổi ngọn gió lãng mạn cá nhân vào tâm hồn họ, đánh thức những tình cảm bắt đầu manh nha trong lòng họ: tự do yêu đương, tận hưởng ái tình. Phạm Huy Thông đưa họ vào miền đất mới nhiều đắm say, nhiều lạc thú của tình yêu mà trước đó trong thơ tình cổ điển, như của Phạm Thái, không hề có, dù tác giả cũng đầy lòng say đắm. Giọng thơ ẻo lả, rề rà ấy trong một thời gian ngắn, khi Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên xuất hiện, đã được khắc phục và tạo nên một thời đại mới trong thơ ca - thời đại những tình cảm riêng tư ẩn giấu trong lòng mỗi người, thường là tình yêu, được bộc lộ, được xã hội chia sẻ cảm thông và... ca ngợi. Đó là một đóng góp nhân đạo của thơ cho đời sống.
Phạm Huy Thông còn có một thành tựu khá riêng biệt là giọng anh hùng ca trong các bài thơ dài lấy điển tích lịch sử như Hạng Tịch biệt Ngu Cơ thời Hán Sở bên Trung Hoa, hoặc Huyền Trân công chúa từ giã người yêu theo lệnh vua Trần về làm vợ vua Chiêm... Sức bút Phạm Huy Thông trở nên lôi cuốn với nhiều khí vị bi hùng khi miêu tả không gian lớn, tình cảm bi thương, hành động cao cả. Kiến thức sử học đã thành men xúc tác cho trí tưởng tượng của lãng mạn. Tiếng than của Hạng Võ khi vận trời đã tận nghe như tiếng vang của sông núi, của thời gian, trời đất: “Ôi những võ công oanh liệt chốn sa trường! Những buổi tung hoành, lăn lộn trong rừng thương/ Những dũng tướng bị đầu văng trước trận...! Nhưng than ôi! Vận trời khi đã tận/ “Sức lay thành nhổ núi” mà làm chi?”
Không gian kịch tính của các bài thơ lịch sử Phạm Huy Thông thường được đẩy lên cao trào có tính bi tráng nơi ý chí, nghị lực và lòng son sắt tình yêu bị thực tế đời sống bẻ gãy: Ngu Cơ tự sát để Hạng Võ tiếp tục sự nghiệp võ công. Vị dũng tướng trăm trận trăm thắng bị sa cơ, sụp đổ bao khát vọng chỉ vì trái tim yêu đằm thắm. Trần Khắc Chung nén lòng yêu để làm kẻ trung thần, công chúa Huyền Trân lại vì lòng yêu mà quyết cắt tình yêu. Cuối bài thơ cả hai cõi lòng đều tan nát và không gian bao quanh họ như cũng bước vào cơn huỷ diệt: “Còn đợi chờ chi nữa, cảnh mênh mông.../ Mà chưa tan.../ Mà chưa tan.../ Mà chưa biến ra hư không”. Hình ảnh Lê Hoàn, Phan Bội Châu có một kích tấc kỳ vĩ kể cả trong thất bại. Cái chết của Phan Bội Châu là cái chết của con voi già mà tiếng gầm từ giã lay chuyển cả rừng xanh trời rộng và gọi linh hồn hùng vĩ của loài voi. Cảm hứng lãng mạn đã chắp cánh cho lịch sử, khôi phục sự kiện nhưng lại sáng tạo tâm trạng. Lịch sử hiện diện theo yêu cầu của cảm xúc, tâm lý người đương thời. Giọng thơ thi sĩ Phạm trở nên mạnh mẽ đầy sinh khí. Sự kiện lịch sử và các diễn biến tâm lý nhân vật đầy bi tráng làm Phạm Huy Thông thoát khỏi giọng cái tôi ẻo lả của các bài thơ ngắn mấy năm đầu, tạo nên giọng ca thơ bi tráng hiếm có của thời ấy và còn lôi cuốn đến hôm nay.
Ông qua đời trong một vụ án mạng khá bí ẩn vào tháng 6 năm 1988 tại nhà riêng.
- Tiếng sóng - Yêu đương (thơ, 1934)
- Anh Nga (thơ, 1936)
- Tiếng địch sông Ô (thơ, 1936)
- Lòng hối hận (kịch thơ, đăng dở trên Hà Nội báo, 1936)
- Tần Ngọc (thơ, 1937)
- Tây Thi (thơ, 1937)
- Cái én (kịch thơ, 1966)
https://www.thivien.net/Ph%E1%BA%A1m-Huy-Th%C3%B4ng/author-sbqdCYaN8hZcftE4htdOYg
...
---
CẬP NHẬT
1. Fb Nguyễn Việt (21/6/2026)
https://www.facebook.com/viet.nguyen.792573/posts/pfbid0u2pv8V9nQCrGyvuozfCq7pciovE3KztFSstDgiK25uFyq1tp38tyt3f7xfuY3mqBl
...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.
LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.
Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.