Home

Home
Nắng thì cày ruộng, mưa thì đọc sách 晴耕雨讀

21/06/2026

Thử đọc thơ Phạm Huy Thông (1916-1988) - thi ca của một nhà khoa học

Học giả Phạm Huy Thông có một thời gian dài du học tại Pháp, ông lấy vợ Pháp và làm việc tại Pháp.

Sau này, về Việt Nam, ông là người thành lập Viện Khảo cổ học - là Viện trưởng này trong nhiều năm. Hôm nay, ngày 21/6, một học trò của ông, là nhà khảo học Nguyễn Việt, có nhắc đến sự kiện 21/6/1988 - ngày mà học giả họ Phạm từ trần (stt trên Fb Nguyễn Việt được đưa về phần tư liệu của enry này). 

Chúng tôi hồi đó còn đang học cấp 3, nghe tin từ báo chí, rồi lời bàn của thầy cô và người lớn. Nghe đâu có một vụ hỏa hoạn gì đó vào ngày 21/6/1988, và học giả họ Phạm đã từ trần.

Mãi sau này, một ông em trong họ có giao lưu rộng với văn nghệ sĩ thời đó, có kể lại những chi tiết liên quan sự kiện 21/6/1988. Là em, nhưng hơn tôi nhiều tuổi ! Do vai dưới trong họ, nên vẫn là "đàn em" ! Ôi, em ấy kể cả mấy lần rồi, nhưng quả thực, tôi chỉ nhớ láng máng !

Về thơ ca, Phạm Huy Thông là một tác giả được Hoài Thanh - Hoài Chân giới thiệu trong danh tác Thi nhân Việt Nam (xuất bản lần đầu năm 1942). Hoài Thanh là bút danh của học giả Nguyễn Đức Nguyên (1909-1982).

Hãy thử đọc một đoạn mà hai anh em Hoài Thanh - Hoài Chân giới thiệu về thi nhân Phạm Huy Thông vào năm 1941. Năm đó, thi nhân mới khoảng 25 tuổi, còn Hoài Thanh thì khoảng 32 tuổi. Đại khái như sau.

Cũng thử đọc một số bài thơ của Phạm thi nhân (lấy về từ trang Thi Viện).

Tháng 6 năm 2026,

Giao Blog






---







---

Thi Viện 


Trăng rằm

Mái tranh lướt thướt ánh trăng rằm,
Bụi tre vui vẻ hát rì rầm.
Nhưng vì sao lòng ta buồn bã?
Mỗi khi ta thấy ánh trăng rằm.

Đêm nay ánh trăng rằm êm ả,
Điểm màu biếc non sông buồn bã.
Nhưng trăng rằm đẹp đẽ thâm trầm,
Sao chẳng khiến lòng ta êm ả?

Trăng rằm tung ánh sáng âm thầm,
Xuống non sông lặng lẽ thâm trầm.
Trước cảnh đẹp, sao ta buồn bã?
Và lòng ta thổn thức thâm trầm.


10-1933

https://www.thivien.net/Ph%E1%BA%A1m-Huy-Th%C3%B4ng/Tr%C4%83ng-r%E1%BA%B1m/poem-rkE8C_sh5IO9pnA0eXd6ow



Ngày xuân

Đào mới nở rải hương thơm mát
Khắp vườn hoa lộng lẫy màu hồng
Phật phờ làn khói giữa chiều đông
Trúc cao thỉnh thoảng du dương hát

Kìa! Em hỡi! gió xuân dào dạt
Đưa cánh hoa tản mát trên không
Xa xa, trên cát trắng như bông
Lờ mờ lan chút sương vàng nhạt

Nhưng, hoa tươi mấy lúc lả lơi
Bó ngày xuân mấy lúc rã rời?
Vậy thì, hoà nhịp cùng tiếng trúc

Em ơi! Em khá bồng trầm ca
Cũng như là đôi trái tim ta
Ái tình ca cùng hoà một khúc


Năm 1933

https://www.thivien.net/Ph%E1%BA%A1m-Huy-Th%C3%B4ng/Ng%C3%A0y-xu%C3%A2n/poem-aSL4Yemudmz3B_hxrljp4w



Phạm Huy Thông




Phạm Huy Thông (22/11/1916 - 21/6/1988) học sử, học văn, học luật tại Pháp, có bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Trước cách mạng tháng Tám 1945, được học hành sang trọng như vậy hiếm lắm. Phạm Huy Thông lại làm thơ khá sớm, năm 15 tuổi đã có thơ in: Yêu đương, Anh Nga, Tiếng địch sông Ô... Sự nổi tiếng về thơ còn vang rộng hơn sự nổi tiếng về học. Ấy vậy mà sau này ông chuyển hẳn sang làm sử, nhiều năm làm hiệu trưởng Đại học sư phạm rồi Viện trưởng Viện khảo cổ. Với thơ, có lúc ông quay lại (hồi kháng chiến chống Mỹ) nhưng không còn gây được chú ý trong bạn đọc. Có thể coi thành công thơ ông nằm trọn trong giai đoạn đầu của Thơ Mới, trước năm 1940. Thơ Phạm Huy Thông chủ yếu là thơ tình yêu. Ông say đắm và lắm lời. Thơ tình của ông thiên về ca ngợi sắc đẹp và giãi bày nỗi si tình. Ông ít khám phá tâm trạng, ít sáng tạo tình cảm nên mạch thơ cứ đều đều bằng phẳng. Giọng thơ khi ấy, trước Xuân Diệu có dăm năm, còn nhiều kiểu cách, ước lệ, xa ngôn ngữ của đời sống thật, các người yêu nói với nhau như trên sâu khấu ca kịch lủng củng, những tình lang, tình nương, tiên nữ, tiên nga, mặt hoa, tiếng vàng... Lời thơ còn cổ hơn thơ của Tú Xương, Nguyễn Khuyến. Nhưng cũng phải thấy đó là dấu vết văn chương lãng mạn của một thời, nó giàu mộng mị và xa đời, thi sĩ ngồi trong tháp đúc bằng ngà và chỉ thấy có “ái tình” là điều quan trọng. Họ sướt mướt nhớ nhung và lê thê than vãn. Ngày nay đọc lại có hơi sốt ruột và đôi lúc buồn cười vì sự dư dả nước mắt của các bậc nam nhi, kể cả ông tướng Tàu Hạng Võ (trong Tiếng địch sông Ô). Nhưng vào thập niên ba mươi, thơ Phạm Huy Thông lại được lớp thanh niên thành phố ưa thích.

Ông là một trong những người tiên phong thổi ngọn gió lãng mạn cá nhân vào tâm hồn họ, đánh thức những tình cảm bắt đầu manh nha trong lòng họ: tự do yêu đương, tận hưởng ái tình. Phạm Huy Thông đưa họ vào miền đất mới nhiều đắm say, nhiều lạc thú của tình yêu mà trước đó trong thơ tình cổ điển, như của Phạm Thái, không hề có, dù tác giả cũng đầy lòng say đắm. Giọng thơ ẻo lả, rề rà ấy trong một thời gian ngắn, khi Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên xuất hiện, đã được khắc phục và tạo nên một thời đại mới trong thơ ca - thời đại những tình cảm riêng tư ẩn giấu trong lòng mỗi người, thường là tình yêu, được bộc lộ, được xã hội chia sẻ cảm thông và... ca ngợi. Đó là một đóng góp nhân đạo của thơ cho đời sống.

Phạm Huy Thông còn có một thành tựu khá riêng biệt là giọng anh hùng ca trong các bài thơ dài lấy điển tích lịch sử như Hạng Tịch biệt Ngu Cơ thời Hán Sở bên Trung Hoa, hoặc Huyền Trân công chúa từ giã người yêu theo lệnh vua Trần về làm vợ vua Chiêm... Sức bút Phạm Huy Thông trở nên lôi cuốn với nhiều khí vị bi hùng khi miêu tả không gian lớn, tình cảm bi thương, hành động cao cả. Kiến thức sử học đã thành men xúc tác cho trí tưởng tượng của lãng mạn. Tiếng than của Hạng Võ khi vận trời đã tận nghe như tiếng vang của sông núi, của thời gian, trời đất: “Ôi những võ công oanh liệt chốn sa trường! Những buổi tung hoành, lăn lộn trong rừng thương/ Những dũng tướng bị đầu văng trước trận...! Nhưng than ôi! Vận trời khi đã tận/ “Sức lay thành nhổ núi” mà làm chi?”

Không gian kịch tính của các bài thơ lịch sử Phạm Huy Thông thường được đẩy lên cao trào có tính bi tráng nơi ý chí, nghị lực và lòng son sắt tình yêu bị thực tế đời sống bẻ gãy: Ngu Cơ tự sát để Hạng Võ tiếp tục sự nghiệp võ công. Vị dũng tướng trăm trận trăm thắng bị sa cơ, sụp đổ bao khát vọng chỉ vì trái tim yêu đằm thắm. Trần Khắc Chung nén lòng yêu để làm kẻ trung thần, công chúa Huyền Trân lại vì lòng yêu mà quyết cắt tình yêu. Cuối bài thơ cả hai cõi lòng đều tan nát và không gian bao quanh họ như cũng bước vào cơn huỷ diệt: “Còn đợi chờ chi nữa, cảnh mênh mông.../ Mà chưa tan.../ Mà chưa tan.../ Mà chưa biến ra hư không”. Hình ảnh Lê Hoàn, Phan Bội Châu có một kích tấc kỳ vĩ kể cả trong thất bại. Cái chết của Phan Bội Châu là cái chết của con voi già mà tiếng gầm từ giã lay chuyển cả rừng xanh trời rộng và gọi linh hồn hùng vĩ của loài voi. Cảm hứng lãng mạn đã chắp cánh cho lịch sử, khôi phục sự kiện nhưng lại sáng tạo tâm trạng. Lịch sử hiện diện theo yêu cầu của cảm xúc, tâm lý người đương thời. Giọng thơ thi sĩ Phạm trở nên mạnh mẽ đầy sinh khí. Sự kiện lịch sử và các diễn biến tâm lý nhân vật đầy bi tráng làm Phạm Huy Thông thoát khỏi giọng cái tôi ẻo lả của các bài thơ ngắn mấy năm đầu, tạo nên giọng ca thơ bi tráng hiếm có của thời ấy và còn lôi cuốn đến hôm nay.

Ông qua đời trong một vụ án mạng khá bí ẩn vào tháng 6 năm 1988 tại nhà riêng.

Tác phẩm:
- Tiếng sóng - Yêu đương (thơ, 1934)
- Anh Nga (thơ, 1936)
- Tiếng địch sông Ô (thơ, 1936)
- Lòng hối hận (kịch thơ, đăng dở trên Hà Nội báo, 1936)
- Tần Ngọc (thơ, 1937)
- Tây Thi (thơ, 1937)
- Cái én (kịch thơ, 1966)

 

https://www.thivien.net/Ph%E1%BA%A1m-Huy-Th%C3%B4ng/author-sbqdCYaN8hZcftE4htdOYg


...




---


CẬP NHẬT


1. Fb Nguyễn Việt (21/6/2026)



21-6 cũng được ghi nhận là ngày mất của gs viện sĩ Phạm Huy Thông. Ông mất năm 1988, khi tôi đang ở Berlin, CHDC Đức. Tháng 4 năm đó, với tư cách Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm KH CHDC Đức, phó chủ nhiệm Ủy ban KHXH VN, ông sang Berlin họp mặt lãnh đạo các viện hàn lâm khoa học khối xhcn. Tôi tháp tùng gs Phạm Huy Thông trong tuần họp đó, được gs tâm sự nhiều điều, kể cả chuyện khi ở bên Pháp. Gs PH Thông sinh 22-11-1916, con gia đình thương gia gốc Ân Thi Phạm Chính Ký nổi tiếng ở phố Hàng Bạc, Hà Nội. 17 tuổi, bài thơ "Tiếng địch sông Ô" sớm đưa ông lên tầm văn nhân thơ mới. Ông được học bổng sang Pháp học, có bằng tiến sĩ luật, thạc sĩ Văn Sử. Ông tham gia Đảng Cộng sản Pháp và ban lãnh đạo Hội Việt kiều yêu nước tại Pháp. Dịp Hồ Chủ tịch cùng Phạm Văn Đồng sang Pháp đàm phán hòa bình, độc lập 1946, gs Thông trong nhóm phiên dịch và giúp việc cho Đoàn. Sau Hội nghị, ông tiếp tục ở lại trong Ban lãnh đạo Hội Việt kiều yêu nước tại Pháp.

Năm 1949/50, Cảnh sát trưởng Sài Gòn bị một Việt kiều bắn chết tại Paris nhân một chuyến công vụ, gs PH Thông bị Pháp bắt giao cho chính quyền Sài Gòn 1949/50 ... rồi được giải thoát, bị bắt lại, đưa ra Hải Phòng 1954/55 (khi Hải Phòng vẫn còn 300 ngày Pháp chưa trao lại cho VN). Một tốp "đặc nhiệm" của ta đã giải cứu ông về Hà Nội (em trai gs Thông là gs Phạm Huy Dũng biết rõ vụ này). Vợ con ông cũng được ta đưa từ Pháp về Hà Nội.

Ông được giao đảm trách Đại học Sư phạm Hà Nội từ 1956, người vợ Pháp làm phát thanh viên Pháp ngữ Đài Tiếng nói VN, hai con trai Daniel Hải Đường, Trà My và con gái tên Tâm (hay Thủy Tiên, tôi không nhớ rõ), cùng ở nhà 8 Hồ Xuân Hương, trước khi Hải Đường và Trà My sang CHDC Đức học tập và làm việc. Chị Tâm (hay Thủy Tiên) sang Nhật học ở cùng với gia đình anh trai gs Thông là thương gia Phạm Huy Thái. Người vợ Pháp của gs Thông do bệnh phổi, trở về Pháp sống, chữa bệnh.

Vừa phụ trách ĐH Sư Phạm HN, Gs Thông kiêm nhiệm cả lãnh đạo Hội Thanh Niên, Sinh viên VN, Hội Bảo vệ Hòa Bình Thế giới. Tham gia Đoàn Luật sư trong tố cáo chính quyền Sài Gòn và Mỹ trong vụ tàn sát Phú Lợi...

Năm 1968 gs PH Thông được điều chuyển về thành lập và là Viện trưởng đầu tiên Viện Khảo cổ học VN, ít năm sau làm Phó Chủ nhiệm Ủy Ban KHXH VN, được phong Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm KH CHDC Đức.

Năm 1988, sau khi gs Thông từ Đức trở về VN được 2 tháng, tôi nhận điện thoại từ Ban Đối ngoại Viện Hàn lâm KH CHDC Đức thông báo gs PH Thông đã qua đời tại Hà Nội.

Hôm nay, ngay báo chí VN, cũng là ngày giỗ 38 của gs PH Thông. Sinh thời, ông là Viện trưởng, kiêm Tổng Biên tập tạp chí Khảo cổ học do ông là người sáng lập. Trong ông chất Nhà báo mang đậm nét Nhân văn kiểu Pháp. Ông rất giỏi văn chương, cổ văn, khảo cổ và dân tộc học. Tôi được ông, năm 1975, sau 30-4, theo lời giới thiệu của gs Hà Văn Tấn, đã cử Vụ phó Vụ tổ chức cán bộ Ủy Ban (anh Tiếu) trực tiếp xuống Bộ Tư lệnh Hải quân ở Hải Phòng để xin cho tôi ra quân chuyển ngành về Viện Khảo cổ (11-1975), dìu dắt tôi làm khoa học và làm nghề báo, trị sự tạp chí Khảo cổ học (1977-1979) và tạo điều kiện để tôi sang nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm KH CHDC Đức.

Tôi sáng lập Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á 1999 thì 2001 với sự ủng hộ của gs Cao Xuân Phổ, gs Trần Quốc Vượng, các anh Nguyễn Văn Cự, Hoàng Dư, Trần Tấn Cường đã ra quyết định thành lập PhamHuyThong Foundation và PhamHuyThong Museum trực thuộc Trung tâm, do tôi làm tổng thư ký.

Nhân ngày giỗ thứ 28, cũng trùng ngày báo chí VN, xin thắp nén hương tưởng nhớ Thày !

https://www.facebook.com/viet.nguyen.792573/posts/pfbid0u2pv8V9nQCrGyvuozfCq7pciovE3KztFSstDgiK25uFyq1tp38tyt3f7xfuY3mqBl

...


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.

LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.

Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.