Năm 2026 này, mỗi lần đi qua Cửa Bắc, tôi vẫn ngước nhìn lên vết đạn. Đôi khi còn dừng lại chụp tấm ảnh làm kỉ niệm.
1. Vết đạn ấy lưu tại đó, suốt từ năm 1882 ! Chính xác là ngày 26 tháng 4 năm 1882. Tính đến nay đã gần 150 năm rồi.
Đại khái tình hình như trong đoạn trình bày dưới đây (có chỗ đánh máy nhầm thành "1982" - mà đoạn sách ấy là được in năm 1932).
Tháng 8 năm 2026,
Giao Blog
Bổ sung (ghi ngày 18/8/2026)
Bài này đã được đưa phổ biên ra Fb ở địa chỉ sau: https://www.facebook.com/giao.blog/posts/pfbid0iLaHt75LKfNnXv41ozYPQNNpV91cNAVNGmBJ6AxuMYSwtBMBi4dscD5uEGo9yCEl.
Qua giao diện Fb, một nhà chuyên môn của Ban Quản lí Di tích Hoàng thành Thăng Long, là Tiến sĩ Nguyễn Quang Hà có đưa một góp ý giá trị. Đó là:
"A Giao!. Theo các nguồn tư liệu thư tịch của VN cho biết, trận đánh bắt đầu từ 8h sáng ngày 25/4/1882 đến hết buổi trưa ngày hôm đó thì kết thúc (5h sáng hôm đó, họ đưa "tôi hậu thư". Trong tối hậu thư này nói rõ: Đến 8h mà không mở cửa Thành là đánh và lã đại bác vào Thành Hà Nội). Trong trận đánh này, Tổng đốc Hoàng Diệu và quan quân đã thất bại. Hoàng Diệu tuẫn tiết vào chiều hôm đó tại Võ Miếu. Đến sáng ngày hôm sau, H. Riviere trình Đô đốc Jaureguibrry, bộ trưởng Bộ Thủy quân và Thuộc địa biết. Vì thế, nhiều tư liệu của Pháp họ đã nhầm ngày nhận được điện báo (26/4/1882) là ngày thành Hà Nội bị hạ. Tài liệu họ viết năm (1932), họ nhầm chi tiết "Tổng đốc Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết". Sự thực là Tổng đốc Hoàng Diệu mới tuẫn tiết còn Tổng đốc Nguyễn Tri Phương thì tuyệt thực, không hợp tác với giặc và cụ đã hy sinh. (Mặc dù, anh Giao đề cập đến việc mở đường hiện nay ở Cầu Giấy liên quan đến mộ của ông H. Henry Riviere. Xin được góp thêm ghi chú nhỏ, để rõ).".
Trân trọng cảm ơn học giả Nguyễn Quang Hà.
---
BỔ SUNG
2.
Lê Nguyễn
Căn cứ vào dòng chữ “le commandant Rivière” trong một vài tài liệu in bằng chữ Pháp thì Henri Rivière là thiếu tá, song không phải chỉ có thế, có tài liệu còn thể hiện ông là… trung tá. Phức tạp thật.
Thông thường, người dân thường trong xã hội Việt Nam trước thập niên 1950 gọi các sĩ quan Pháp theo số vạch trên cầu vai (hay ống tay áo dài) của họ. Một vạch (thiếu úy) thì gọi là quan một (hay ông một), hai vạch (trung úy) thì gọi là quan hai, và cứ thế cho đến quan năm. Song, dù cho sĩ quan Pháp có 6 cấp bậc, người dân cũng chỉ gọi đến quan năm, đơn giản vì cầu vai của họ chỉ có tối đa 5 vạch, không có vạch thứ sáu.
![]() |
Cầu vai của sĩ quan cấp tá quân chủng Hải quân Pháp, từ trái sang: thiếu tá, trung tá, đại tá; cách gọi chung (appellation) cả 3 cấp: Commandant. Trong ảnh, phân biệt rõ đại tá (5 vạch vàng) và trung tá (3 vạch vàng, 2 vạch trắng) |
T.L LÊ NGUYỄN |
Vì thế trong dân gian ngày xưa, không hề có cách gọi “quan sáu” để chỉ cấp đại tá ngày nay. Để gọi cấp trung tá như cách gọi ngày nay (lieutenant-colonel hay capitaine de frégate), họ gọi là “quan năm vành bạc”, còn cấp đại tá (colonel hay capitaine de vaisseau), họ gọi là “quan năm vành vàng”.
Sở dĩ có sự phân biệt giữa hai cấp này là vì trong khi quan năm vành vàng (đại tá), ở cầu vai có 5 vạch xuôi màu vàng, thì ở quan năm vành bạc (trung tá), cầu vai có 3 vạch màu vàng và 2 vạch màu trắng.
Henri Rivière cấp bậc gì ?
Trở lại trường hợp Henri Rivière, giả thuyết cho rằng ông ta là thiếu tá bị phá sản vì ít nhất hai lý do:
Ông ta là sĩ quan hải quân, từ “commandant” trong “le commandant Henri Rivière” không có nghĩa là thiếu tá, mà là cách gọi chung (appellation) sĩ quan Hải quân cấp tá (xin xem thêm ảnh minh họa).
![]() |
Sĩ quan Pháp Henri Rivière là trường hợp gây ra không ít bất đồng và tranh cãi về cấp bậc |
T.L |
Ở hình chụp của Henri Rivière vào thập niên 1870, ống tay áo có 5 vạch, do đó ông ta chỉ có thể là trung tá hay đại tá, chứ không thể là thiếu tá. Song điều này cũng vẫn gây bất đồng, vì ảnh (đen trắng) ngày xưa đâu có màu để phân biệt được vạch vàng (đại tá) với vạch trắng (trung tá).
Và sự mâu thuẫn giữa các tài liệu đã xảy ra. Tác phẩm “Histoire militaire de l’Indochine française” (Lịch sử quân sự xứ Đông Dương – Hà Nội - Hải Phòng 1931) với hai tập dày trên 540 trang khổ lớn, khi đề cập đến Henri Rivière, đã ghi rõ cụm từ “capitaine de frégate” (trung tá). Tác phẩm này là tài liệu đặc biệt, rất chi tiết về quân sự, nên có độ khả tín khá cao.
Song, có một tài liệu khác, mà độ khả tín cũng cao không kém. Đó là số báo Le Figaro ngày 10.7.1886, nghĩa là phát hành chỉ 3 năm sau cái chết của Henri Rivière, trong đó có in một tư liệu quý nhan đề là Sách vàng về cuộc viễn chinh Bắc kỳ từ 1873 đến 1886.
![]() |
Báo Le Figaro ngày 10.7.1886 ghi rõ cấp bậc "Capitaine de vaisseau" (đại tá) của Henri Rivière trong danh sách các sĩ quan và binh sĩ Pháp tử trận và bị thương tại Bắc kỳ vào những năm từ 1873 đến 1886 |
![]() |
Trong một tác phẩm dày, chỉ duy nhất cụm từ Le commandant Rivière được sử dụng để viết về Henri Rivière |
Tài liệu này ghi danh sách toàn bộ sĩ quan và binh sĩ của cả hai quân chủng Lục và Hải quân chết và bị thương trong các trận đánh tại miền Bắc vào những năm 1873-1886. Trong tài liệu này, cấp bậc của Rivière là “Capitaine de vaisseau” (đại tá).
Đó là khác biệt tiêu biểu của hai nguồn tư liệu có giá trị cao. Cho đến nay, khuynh hướng chung của những người viết sử vẫn ghi Henri Rivière là đại tá. Dù vậy, cách viết của tác phẩm “Histoire militaire…” cũng cần được lưu ý để tìm hiểu kỹ hơn nữa về vấn đề này. (Còn tiếp)
https://thanhnien.vn/tu-cai-chet-cua-henri-riviere-tiet-lo-nhieu-chuyen-tranh-cai-ve-cap-bac-si-quan-phap-1851446964.htm?utm_source=chatgpt.com&fbclid=IwY2xjawTzUGJwZG9mBWV4dG4DYWVtAjEwAGJyaWQRMWxRRkNOUzdDNWkyNVhjQ2ZzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEeSwBs3--lXXtYaP0qfTe8cGhwaJHTEpQS16u1grERarXLX5qNanUIgUxr2j8_aem_rHauS2hF1d4eq_PEhMlhcA
1.
Cấp bậc quân sự Pháp
Hệ thống cấp bậc quân sự của Lực lượng vũ trang Pháp (bao gồm Lực lượng Không quân và Vũ trụ, Lục quân, Hải quân, Hiến binh quốc gia, các lực lượng hỗ trợ và các tổ chức chung) và các đơn vị trực thuộc giống hệt nhau về mặt luật định và nghi thức, vì chúng được xác định theo quy chế chung của quân đội Pháp. Chỉ có các cấp hiệu và phù hiệu là khác nhau tùy theo nhánh quân binh chủng, tạo nên hệ thống phân cấp cụ thể.[1]
Lực lượng cứu hỏa dân sự (bao gồm cả tình nguyện và chuyên nghiệp), mặc dù không phải là quân nhân, nhưng vẫn có hệ thống cấp bậc và phù hiệu tương tự như quân đội. Tuy nhiên, hệ thống cấp bậc này có danh xưng tương tích hoàn toàn với hệ thống xếp hạng nhân viên của ngành dịch vụ công.
Các nhân viên kiểm lâm và môi trường, mặc dù không còn được xếp vào ngạch quân nhân kể từ năm 1945, vẫn duy trì hệ thống cấp hiệu tương tự như quân đội, được thừa hưởng từ Quân đoàn Thợ săn rừng, cũng giống như các viên chức hải quan, vốn kế thừa từ Hải quan Quân đội. Tuy nhiên, hệ thống cấp bậc của họ phù hợp với hệ thống cấp bậc công chức và danh xưng cấp bậc cũng đã thay đổi rất nhiều theo thời gian.
Lực lượng vũ trang
Hệ thống quân hàm của lực lượng vũ trang Pháp được phân thành 4 cấp chính gồm binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan, tướng lĩnh và đô đốc.[2]
Quân hàm thực tế cao nhất mà một quân nhân Pháp có thể đạt được là généraux de division (tương đương thiếu tướng lục quân, không quân, hiến binh) hoặc vice-amiral (tương đương đề đốc hải quân). Các cấp bậc cao hơn (général de corps, général d'armée đối với lục quân, không quân, hiến binh và vice-amiral d'escadre, amiral với hải quân) chỉ có thể đạt được khi quân nhân ở cấp bậc généraux de division hoặc vice-amiral được bổ nhiệm vào những chức vụ được quy định (rang et appellation).
Vào thời kỳ hiện đại, danh hiệu Thống chế Pháp (Maréchal de France) và Đô đốc Pháp (Amiral de France) được xem là có địa vị cao nhất trong hệ thống quân hàm, dù chúng không phải là những quân hàm thực thụ. Những danh hiệu này chỉ được trao cho các tướng lĩnh hoặc đô đốc có thành tích chỉ huy những chiến thắng quan trọng trong thời chiến.[3] Tính đến thời điểm hiện tại, 4 tướng lĩnh cuối cùng được phong hàm Thống chế Pháp gồm Alphonse Juin (phong năm 1952), Jean de Lattre de Tassigny, Philippe Leclerc de Hauteclocque (đều được truy phong năm 1952), và Marie-Pierre Kœnig (truy phong 1984). Người cuối cùng được phong hàm Đô đốc Pháp là François Thomas Tréhouart, được phong vào năm 1869.
Đô đốc François Darlan từng được trao danh hiệu Đô đốc hạm đội (Amiral de la flotte) vào năm 1939, tuy nhiên đây không phải là một danh hiệu chính thức như Đô đốc Pháp và cũng không phải là một quân hàm thực sự.
Sĩ quan
| Phân hạng NATO | Lục quân Không quân Hiến binh | Hải quân | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
Nghĩa Việt tương đương | Cấp bậc | Cấp hiệu | Nghĩa Việt tương đương | Cấp bậc | Cấp hiệu | ||
Cấp bậc danh dự | |||||||
| OF-10 | Thống chế Pháp | Maréchal de France | Đô đốc Pháp | Amiral de France | |||
Cấp Tướng | |||||||
| OF-9 | Đại tướng | Général d'armée | Đô đốc | Amiral | |||
| OF-8 | Trung tướng | Général de corps | Phó đô đốc | Vice-Amiral d'escadre | |||
| OF-7 | Thiếu tướng | Général de division | Đề đốc | Vice-Amiral | |||
| OF-6 | Chuẩn tướng | Général de brigade | Phó đề đốc | Contre-Amiral | |||
Cấp Tá | |||||||
| OF-5 | Đại tá | Colonel | Đại tá | Capitaine de vaisseau | |||
| OF-4 | Trung tá | Lieutenant-colonel | Trung tá | Capitaine de frégate | |||
| OF-3 | Thiếu tá | Commandant | Thiếu tá | Capitaine de corvette | |||
Cấp Úy | |||||||
| OF-2 | Đại úy | Capitaine | Đại úy | Lieutenant de vaisseau | |||
| OF-1 | Trung úy | Lieutenant | Trung úy | Enseigne de vaisseau de première classe | |||
| Thiếu úy | Sous-lieutenant | Thiếu úy | Enseigne de vaisseau de deuxième classe | ||||
| OF-(D) | Chuẩn úy | Aspirant | Chuẩn úy | Aspirant | |||
Hạ sĩ quan và Binh sĩ
| Phân hạng NATO | Lục quân Không quân Hiến binh | Hải quân | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
Nghĩa Việt tương đương | Cấp bậc | Cấp hiệu | Nghĩa Việt tương đương | Cấp bậc | Cấp hiệu | ||
Hạ sĩ quan | |||||||
| OR-9 | Niên trưởng | Major | Niên trưởng | Major | |||
| Thượng sĩ trưởng | Adjudant-chef | Thượng sĩ trưởng | Maître-principal | ||||
| OR-8 | Thượng sĩ | Adjudant | Thượng sĩ | Premier-maître | |||
| OR-7 | Trung sĩ nhất | Sergent-chef brevet militaire de 2e niveau | Không có bậc tương đương | ||||
| OR-6 | Trung sĩ | Sergent-Chef | Trung sĩ | Maître | |||
| OR-5 | Hạ sĩ | Sergent | Hạ sĩ | Second-maître | |||
Binh sĩ | |||||||
| OR-4 | Binh trưởng | Caporal-chef de première classe | Thủy thủ trưởng bậc 1 | Quartier-maître de 1re classe | |||
| Binh nhất | Caporal-chef | ||||||
| OR-3 | Binh nhì | Caporal | Thủy thủ trưởng bậc 2 | Quartier-maître de 2e classe | |||
| OR-2 | Tân binh | Soldat de première classe | Thủy thủ | Matelot 2ème and 1ère classe | |||
| OR-1 | Không có bậc tương đương | Thực tập sinh | Mousse | ||||
Nha Y tế Quân đội (Service de santé des armées)
Nha Chính ủy và Tuyên úy Quân đội (Service du commissariat des armées)
Tổng cục Quân khí (Direction générale de l'Armement)
Nha Tiếp liệu (Service de l'énergie opérationnelle)
Nha Hạ tầng quốc phòng (Service d'infrastructure de la Défense)
Nha Tư pháp quân đội (Service de la Justice militaire)
Chú thích
- Instruction Bản mẫu:N°/DEF/SGA/DFP/FM/1 d'application du décret relatif à la discipline générale militaire Lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2016 tại Wayback Machine.
- Article L4131-1 du code de la Défense.
- Les grades Lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại Wayback Machine, site du ministère de la Défense.
Tham khảo
- Jérôme Bodin, Les officiers français, grandeur et misères. 1936-1991, éd. Perrin, 1991 ISBN 2262007470
- Benoît Léger, Contribution à l'étude des tenues des vétérinaires militaires dans l'Armée française au cours du Bản mẫu:S-, Thèse de doctorat vétérinaire, Toulouse, École nationale vétérinaire et Université Paul-Sabatier, 2001, Bản mẫu:Nb p. (ill.). http://oatao.univ-toulouse.fr/177/1/picco_177.pdf[liên kết hỏng]
- Maurice Agulhon, Les couleurs dans la politique française, dans Ethnologie française, t. XX, 1990/4, tr. 391-398.Bản mẫu:Commentaire biblio
- Les grades de l’Armée de terre (sur defense.gouv.fr) Lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine
- Les grades de la Marine (sur defense.gouv.fr) Lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2021 tại Wayback Machine
- Les grades de l’Armée de l’air, (sur defense.gouv.fr) Lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2021 tại Wayback Machine
- Les grades du Service de Santé des Armées, (sur défense.gouv.fr)
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A5p_b%E1%BA%ADc_qu%C3%A2n_s%E1%BB%B1_Ph%C3%A1p
...




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Khi sử dụng tiếng Việt, bạn cần viết tiếng Việt có dấu, ngôn từ dung dị mà lại không dung tục. Có thể đồng ý hay không đồng ý, nhưng hãy đưa chứng lí và cảm tưởng thực sự của bạn.
LƯU Ý: Blog đặt ở chế độ mở, không kiểm duyệt bình luận. Nếu nhỡ tay, cũng có thể tự xóa để viết lại. Nhưng những bình luận cảm tính, lạc đề, trái thuần phong mĩ tục, thì sẽ bị loại khỏi blog và ghi nhớ spam ở cuối trang.
Ghi chú (tháng 11/2016): Từ tháng 6 đến tháng 11/2016, hàng ngày có rất nhiều comment rác quảng cáo (bán hàng, rao vặt). Nên từ ngày 09/11/2016, có lúc blog sẽ đặt chế độ kiểm duyệt, để tự động loại bỏ rác.